Tải bản đầy đủ

TRIẾT lý TRUYỆN KIỀU

TRIẾT

của
NGUYỄN
_____________________________________
Trích từ " Con đường triết hoc Việt Nam"

TRUYỆN

KIỀU
DU

Nguyễn Du ( 1765- 1820 ) tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, người xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân,
tỉnh Hà Tỉnh. Tổ tiên nhà ông đời đời làm quan với nhà Lê. Ông không chịu ra làm quan với nhà
Tây Sơn. Năm Gia Long nguyên niên
( 1802 ), ông được triệu ra làm quan, từ chối mãi không được nên mới chịu nhận. Năm thứ 12
(1813 ), được thăng Cần chánh điện học sĩ sung làm chánh sứ sang cống bên Tầu. Đến khi về
được thăng Lễ bộ hữu tham tri. Năm Minh Mệnh nguyên niên ( 1820 ), lại có lệnh sang sứ Tầu,
nhưng chưa đi thì mất. Ông có để lại cho nền văn học Việt Nam một số bài thơ chữ Hán có giá trị
và nhất là tập thơ truyện « Kim Vân Kiều » bằng chữ Nôm nổi tiếng. Đây là áng văn chương kiệt
tác, một tập truyện có luận đề với thuyết « Tài mệnh tương đố ». Tiểu luận này chỉ bàn đến lãnh

vực triết lý, mà rất tiếc là không bàn đến văn chương, là phần đặc sắc của tác phẩm. Trước khi
vào luận đề, chúng tôi xin tóm tắt nội dung của tập truyện.
Lược truyện:
Mở đầu tác giả giới thiệu ngay chủ đề của luận đề ấy :
«
Trăm
năm
Chữ tài chữ mệnh, khéo là ghét nhau. »

trong

cõi

người

ta,

Gia thế Thúy Kiều :
«

nhà
Viên
ngoại
họ
Gia

nghĩ
cũng
thường
thường
bậc
Một
trai
con
thứ
rốt
Vương
Quan

chữ


nối
dòng
nho
Đầu
lòng
hai

tố
Thúy
Kiều

Chị,
em

Thúy
Mai
cốt
cách,
tuyết
tinh
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.”

Vương,
trun
lòng,
gia.
nga,
Vân.
thần,

Họ đang sống êm đềm, hạnh phúc:

Êm
đềm
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.”

trướng



Thúy Kiều cùng hai em là Thúy Vân và Vương Quan đi chơi thanh minh:

màn

che,



Thanh
minh
Lễ

Tảo
mộ,
Gần
xa

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.”

trong

tiết


hội

tháng
Đạp
yến

nức

ba,
thanh.
anh,

Họ gặp mả Đạm Tiên là một kỷ nữ xưa có tài sắc mà mệnh không ra gì:
“ Rằng: sao trong tiết thanh minh,
Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”
Vương
Quan
Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi.”

mới

dẫn

gần

xa:

Lúc sắp về, họ gặp Kim Trọng:

Dùng
dằng
Nhạc
vàng
đâu
đã
Trông
chừng
thấy
Lỏng
buông
tay
khấu
Đề
huề
lưng
Sau chưn theo một vài thằng con con.”

nửa

ở,
tiếng
một
bước
túi

nửa
gần

nghe
văn
lần

dặm
gió

về,
gần.
nhân,
băng.
trăng,

Thúy Kiều và Kim Trọng yêu nhau:

Người
quốc
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.”

sắc,

kẻ

thiên

tài,

Thúy Kiều về đến nhà, nghĩ đến hoàn cảnh của Đạm Tiên mà lo cho hậu vận của mình:

Buổi
ngày
Nhắp
đi,
thoắt
Đoạn
trường
Bài
ra
thế
Cứ
trong
Phận con thôi có ra gì mai sau!”

chơi

mả

thấy

ấy,
mộng

ứng

liền
số

vịnh

vào
triệu

Đạm
chiêm
thế
thế


Tiên,
bao.
nào,
kia.
suy,

làm

chi,

hữu
cho

tình,
xong!

Nàng nhớ đến Kim Trọng:

Người
đâu
Trăm năm biết có duyên gì hay không?”

gặp

gỡ

Kim Trọng cũng nhớ đến Thúy Kiều:

Đố

Cho
ai

hay
gỡ


mối



giống
mành


Chàng
Kim
từ
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây.”

lại

thư

song,

Rồi hai người thề nguyền gắn bó:

Đã
lòng
Một lời, vâng tạc đá vàng thủy chung.”

quân

tử

đa

mang,

và:

Rằng:
Trăm
Của tin, gọi một chút này làm ghi.”

năm

cũng

từ

đây,

Sau khi Kim Trọng từ biệt Thúy Kiều về hộ tang chú thì bỗng Vương ông bị thằng bán tơ vu oan
nên phải bị bắt:

Sai
nha
bỗng
thấy
Người
nách
thước,
Đầu
trâu
mặt
ngựa,
Già
giang
một
Một giây vô lại buộc hai thâm tình.”

bốn
kẻ
ồn
lão

bề

xôn
tay

ào

như
một

xao:
dao,
sôi.
trai,

Thúy Kiều muốn có tiền chuộc tội cho cha, phải bán mình cho Mã Giám Sinh:

Quyết
tình
Dễ cho để thiếp bán mình chuộc cha!”

nàng

mới

hạ

tình:

rồi theo hắn về Lâm chuy:

Lầu
mai
vừa

Sinh
giục
giã
Đoạn
trường
thay,
Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.”

rúc
vội

còi
vàng

lúc

ra
phân

sương,
đi.
kỳ,

Mã Giám Sinh nói dối là mua Thúy Kiều làm thiếp, thực ra hắn chỉ là tay sai của Tú bà, chủ
thanh lâu:

Những

Lâm
chuy
vừa
một
Xe
chân
dừng
Rèm
trong
đã
thấy
Thoắt
trông
nhờn
Ăn gì cao lớn, đẫy đà làm sao ? »
Biết mình bị lừa, Thúy Kiều toan tự sát :

lạ

nước
lạ
tháng
tròn
tới
bánh
cửa
một
người
bước
nhợt
màu

non,
nơi.
ngoài,
ra.
da,


«
Nàng
rằng : Trời
Thân
này
đã
bỏ
Thôi
thì
thôi,
Sẵn dao tay áo, tức thì giở ra. »

thẫm
những


đất
ngày

ra
tiếc

dày !
đi.
gì !

Tú bà dỗ ngọt :
« Tú

chực
Lựa lời khuyên giải mơn man gở dần. »

sẵn

bên

màn,

Mụ cho Thúy Kiều ra lầu Ngưng Bích nghỉ ngơi, hứa tìm nơi xứng đáng gả nàng, nhưng ngầm
lập mưu sai Sở Khanh giả danh nghĩa hiệp :
«
Một
chàng
vừa
Hình
dong
chải
chuốt,
Nghĩ
rằng
cũng
Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh. »

trạc
áo
mạch

thanh
khăn
dịu
thư

xuân,
dàng.
hương,

truy
dòng

phong,
nhi.
đi,
hơn.
đơn,

Hắn giả vờ rủ nàng đi trốn :
« Rằng : Ta

ngựa

tên
dưới
trướng,
vốn
Thừa

lẻn
bước
Ba
mươi
sáu
chước,
chước

khi
gió
kép,
Có ta đây cũng chẳng can cớ gì!”

kiện
ra



hay
mưa

Thúy Kiều sinh nghi, nhưng rồi cũng đánh liều:

Nghe
lời,
nàng
đã
Song
đà
quá
đổi,
quản

Cũng
liều
nhắm
mắt
Mà xem con Tạo xoay dần đến đâu!”

sinh
được
đưa

nghi,
thân.
chưn,

Đến nửa đường, Sở Khanh bỏ rơi Thúy Kiều:

Thôi
đà
Đi
đâu
chẳng
biết
Bạc
tình
nổi
Một tay chôn biết mấy cành phù dung.”

mắc
con
tiếng

lận
người

thì
Sở
lầu

thôi!
Khanh?
xanh,

Thúy Kiều bị Tú bà bắt về, buộc phải tiếp khách và dặn dò:

Nghề
chơi
Làng chơi ta phải biết cho đủ điều.”

cũng

lắm

công

phu,


Rồi có một khách làng chơi là Thúc Sinh:

Khách
du
Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương.”

bỗng



một

người,

là một tay hào phóng:

Thúc
sinh
Trăm nghìn đổ một trận cười như không!”

quen

nết

bốc

rời,

trắng
thiên

ngà,
nhiên.

Hắn mê mẩn nhan sắc của Thúy Kiều:


màu
Dày
dày
sẵn
Sinh càng tỏ nết càng khen...”

trong
đúc

một

ngọc,
tòa

rồi muốn tính chuyện “trăm năm” với nàng:

Sinh
rằng:
Từ
thủa
tương
Tấm
riêng,
riêng
những
nặng

nước
Trăm
năm,
tính
cuộc
vuông
Phải

cho
đến
ngọn
nguồn,
lạch
Cùng
nhau
căn
vặn
đến
Chỉ non thề bể nặng gieo đến lời.”

tri,
non;
tròn,
sông...
điều,

Thấm thoát nửa năm sống bên nhau:

Nửa
năm
Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng.”

hơi

tiếng

vừa

quen,

Bỗng một hôm, Thúc ông phát hiện ra mối tình thầm lén này, nổi giận, cho rằng con đã có vợ rồi
mà lấy gái giang hồ, nên tính bài phân chia:

Giậu
thu
vừa
nảy
Gối
yên
đã
thấy
xuân
đường
Nặng
lòng
e
ấp,
tính
bài
Quyết
ngay
biện
bạch
Dạy cho má phấn lại về lầu xanh!”

giò
đến
phân
một

sương,
nơi.
chia.
bề,

Thúc sinh kêu nài, van xin:

Thấy
lời
Đánh liều sinh mới lấy tình nài kêu.”
Vấn đề được đưa ra cửa công:

nghiêm

huấn

rành

rành,



Thấy
lời
Sốt
gan
ông
mới
Đất
bằng
nổi
Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra.”

sắt

đá
quì

cáo
sóng

tri
cửa

tri,
công.
đùng,

vào

tai,

đùng

Sau khi nghe Thúc sinh, Thúy Kiều bày tỏ tình cảnh, phủ đường động lòng:

Phủ
đường
Động lòng lại gạn đến lời riêng tây.”

nghe

thoảng

Cuối cùng tuyên án giải hòa:
“ Đã đưa đến trước cửa công,
Ngoài thì là lẽ, song trong là tình.
Dâu
con
trong
Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong.”

đạo

gia

đình,

Thúc ông cho phép Thúc sinh lấy Thúy Kiều làm thiếp:

Kíp
truyền
Kiệu hoa cất gió, đuốc hồng điểm sao.”

sắm

sửa

lễ

công,

Vợ cả của Thúc sinh là Hoạn thư:

Vốn
dòng
Con quan Lại bộ tên là Hoạn thư.”

họ

Hoạn

danh

gia,

hai
tâng
đùng

người,
công.
đùng:

Hoạn thư hay tin, nổi cơn ghen đùng đùng:

Tuần
sau
bỗng
Mách
tin,
ý
cũng
Tiểu
thư
nổi
Gớm tay thêu dệt, ra lòng trêu ngươi!”

thấy
liệu
giận

bài

bèn sai gia nhân ( Khuyển, Ưng ) thừa cơ bắt Thúy Kiều đem về hành hạ khổ sở:

Dọn
thuyền
Hãy
đem
dây
Làm
cho,
Làm cho đau đớn, ê chề cho coi!”
Thúy Kiều trốn khỏi nhà Hoạn thư:

lựa
xích
cho

mặt
buộc
mệt,

gia
chân

nàng
cho

nhân,
về.
mê,



Canh
khuya
Phần e đường sá, phần thương dãi dầu!”

thân

gái

dặm

trường,

Nàng đến ở một ngôi chùa với sư trưởng Giác Duyên:

Thấy
màu
ăn
Giác Duyên sư trưởng lành lòng liền thương.”

mặc

nâu

sòng,

Sau có người phát giác lai lịch Thúy Kiều:

Giở
đồ
chuông
Khen rằng: khéo giống của nhà Hoạn nương!”

khách

xem

qua,

Giác Duyên cho Thúy Kiều sang ở nhà của Bạc bà, là người thường đến lễ chùa. Không ngờ Bạc
bà cũng là một phường với Tú bà:
“ Nào ngờ cũng tổ bợm già,
Bạc bà học với Tú bà đồng môn!”
Mụ ta giả làm đám cưới Thúy Kiều với cháu mình là Bạc Hạnh:
“ Này chàng Bạc Hạnh cháu nhà,
Cùng trong thân thích ruột rà, chẳng ai.”
để rồi sau đó lái bán nàng vào thanh lâu ở Châu Thai:

Thành
thân
mới
Thuận
buồm
một
lá,
Thuyền
vừa
đỗ
Bạc
sinh
lên
trước
Cũng
nhà
hành
Cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người.”

rước
xuôi
miền
bến
tìm
nơi
viện

xuống
Châu
thảnh
mọi
xưa

thuyền,
Thai.
thơi,
ngày.
nay,

Như vậy là Thúy Kiều phải vào thanh lâu lần thứ hai với biết bao cay đắn, tủi nhục:

Chém
cha
Gỡ
ra,
rồi
lại
Nghĩ
đời

Tài tình chi lắm, cho trời đất ghen!”

cái

số
buộc

vào
chán

hoa
như
cho

đào,
chơi!
đời,

Được ít lâu sau, Thúy Kiều được Từ Hải, một tay anh hùng hảo hán cưới làm vợ:

Đường

Râu

hùm,
đường

hàm
một

én,
đấng

mày
anh

ngài,
hào,


Côn
quyền
hơn
sức,
Đội
trời,
đạp
Họ
Từ,
tên
Hải,
Giang
hồ
quen
Gươm
đàn
nửa
gánh,
Qua
chơi
thấy
Tấm lòng nhi nữ, cũng xiêu anh hùng.”

lược

thao
đất

vốn

gồm


Việt
vẩy
sông
một
nàng

người
thú
non
tiếng

tài.
đời
Đông:
vùng,
chèo.
Kiều,

Thúy Kiều được dịp trả thù xưa, oán cũ:

Nàng
rằng:
lồng
lộng
trời
Hại
nhân,
nhân
hại
sự
nào
tại
Trước
ra
Bạc
Hạnh,
Bạc
Bên

Ưng,
Khuyển,
bên

Sỡ


với

Giám
Các
tên
tội
ấy
đáng
tình
còn
Lệnh
quân
truyền
xuống
nội
Thề sao, thì lại cứ sao gia hình.”

cao!
ta?
Bà,
Khanh ;
Sinh,
sao?
đao,

Ít lâu sau, Từ Hải nghe theo lời của Thúy Kiều ra hàng với triều đình:

Nghe
lời
Thế công, Từ mới trở ra thế hàng.”

nàng

nói

mặn



Từ Hải bị Hồ Tôn Hiến đánh lừa giết chết:

Đang
khi
Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!”

bất

ý

chẳng

ngờ,

Trong lúc vui say với chiến công, Hồ công đã có điều quá trớn với Thúy Kiều:
“ Nghĩ mình phương diện quốc gia.”
nên gả nàng cho một thổ quan:
“ Ép tình mới gán cho người thổ quan.”
Thúy Kiều quá đau khổ, tuyệt vọng:

Một
mình
Thôi thì nát ngọc, tan vàng thì thôi!”

cay

đắng

trăm

đường,

mênh

mông,

Nàng nhảy xuống dòng sông Tiền Đường để kết thúc cuộc đời:

Trông
vời
con
Đem mình gieo xuống giữa dòng tràng giang.”

nước


rồi được ngư ông cứu vớt:
“ Ngư ông kéo lưới, vớt người”
và Giác Duyên nhận nàng đem về am:

Giác
Duyên
nhận
Nàng còn thiêm thiếp giấc vàng chưa phai.”

thật

mặt

nàng,

Sau này Kim Trọng và Vương Quan đều thi đỗ, làm quan, dò la tin tức về Thúy Kiều và quyết đi
tìm nàng:

Bình
bồng
còn
Đỉnh
chung
sao
nở
Rắp
mong
trao
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua.”

ăn
ấn,

chút
ngồi

xa
cho
từ

xôi,
an!
quan,

Rồi gặp Giác Duyên, được dẫn đến chỗ Thúy Kiều ở:

Giác
Duyên
Buồng trong, vội dạo sen vàng bước ra.”

lên

tiếng

gọi

nàng

một
còn
hòa

nhà,
tươi;
hai,

Thế rồi cả nhà xum họp:

Trông
xem
Xuân
già
còn
khỏe,
Hai
em
phương
Nọ chàng Kim đó, là người ngày xưa!”

đủ

mặt
huyên
trưởng

già

Triết lý truyện Kiều:
* Như đã nói ở trên, truyện Kim Vân Kiều là một tập thơ truyện có luận đề, còn được gọi là
“Đoạn trường tân thanh”. Đó là tiếng kêu “đứt ruột” của một tâm hồn hoằng hoại đau khổ,
không chỉ riêng cho nhân vật Thúy Kiều, mà còn phản ánh nỗi lòng của tác giả, vốn là con người
đa sầu đa cảm, có một tâm sự não nề trước sự đổi thay phủ phàng của thời cuộc trong khói lửa
binh đao:

Khi
thất
Bãi sa trường thịt nát máu rơi.”

thế

cung

rơi

tên

lạc,

( Văn tế thập loại chúng sinh )
Chỉ trong một thời gian ngắn ngủi mà tác giả đã chứng kiến bao cuộc đổi thay: cảnh suy
vong của nhà Lê, sự hưng khởi ngắn ngủi của Tây Sơn, rồi đến sự thống nhất sơn hà của vua Gia
Long:



Trải
qua
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”

một

cuộc

bể

dâu

Nỗi lòng đau đớn này kéo dài suốt cả cuộc đời, cho đến lúc lâm chung tác giả có để lại bài
thơ tuyệt mệnh, mà hai câu cuối được lưu truyền như sau:


Bất
tri
tam
Thiên
hạ

nhân
(
Không
biết
ba
Trong thiên hạ có ai buồn khóc Tố Như?)

bách



niên

khấp
trăm

Tố
năm

sau

hậu
Như?”
này,

Nỗi lòng đó cũng được bày tỏ khi tác giả gởi gấm tâm sự của mình vào nhân vật Thúy Kiều:
“Âu
đành
quả
Cũng người một hội, một thuyền đâu xa!”

kiếp

nhân

duyên,

Mở đầu tập thơ, tác giả cho biết ngay luận đề của tác phẩm là thuyết tài mệnh tương đố, hay
tạo vật đố kỵ hồng nhan:


Trăm
chữ

năm
Chữ
tài
mệnh
Trải
qua
một
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”

trong
khéo
cuộc

cõi


người
ghét
bể

ta,
nhau.
dâu,

Nhưng ở đây tương đố hay đố kỵ không có nghĩa là chống đối nhau trong tuyệt vọng, quyết
liệt một mất một còn, tiêu diệt lẫn nhau, mà tất cả sự mâu thuẫn đều bị chi phối bởi luật thừa trừ
hay
quân
bình:

Lạ

bỉ
sắc

phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.”
Như vậy mâu thuẫn có tính cách tương đối trong cuộc hiện sinh, mâu thuẫn có lối thoát chứ
không dẫn đến đường cùng là tiêu diệt lẫn nhau. Mâu thuẫn không phải là cứu cánh của sự vật
trong vũ trụ, mà luật quân bình mới cứu cánh đích thực, vì nó bảo đảm sự tồn tại của vũ trụ. Như
vậy ngay phần mở đầu tác phẩm, bên cạnh công bố luận đề, tác giả cũng đã hé mở cho người đọc
thấy trước đường hướng giải quyết vấn đề ở chung cuộc sắp tới.
Sách Trung Dung có nói: “ Thiên mệnh chi vị tính ” ( Mệnh trời gọi là tính ), sách Lễ ký cũng
có viết: “ Nhân sinh nhi tĩnh, thiên chi tính dã. Cảm ư vật nhi động tính chi dục dã ”
( Người
ta khi sinh ra mà tâm hồn yên tĩnh đấy là tính trời vậy. Cảm xúc với sự vật bên ngoài mà trở nên
vọng động, đấy là dục tính vậy). Mệnh là mệnh hóa thành từ Thiên mệnh, Thiên tính. Thiên
mệnh hay Thiên tính do vọng động trong tâm hồn người ta mà phân hóa thành hai phương diện
mâu thuẫn, đối đãi: Tài và Mệnh.
Mệnh là mệnh lệnh, là một thế lực của vũ trụ phổ biến đại đồng, trong khi đó Tài là năng
lực, ý chí của con người đơn biệt. Như vậy Tài và Mệnh là tượng trưng cho hai thế lực cá thể và
toàn thể trong vũ trụ.


Thúy
Một
đành

Kiều

một


hai
nghiêng
nước
Sắc
đòi
một,
tài
Thông
minh
vốn
sẵn
Pha
nghề
thi
họa,
đủ
Cung,
thương,
làu
bậc
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương ”

gái
tài
nghiêng
đành
họa
tính
mùi
ca
ngũ

sắc:
thành,
hai.
trời
ngâm.
âm

Với tài sắc đó đáng lẽ nàng được sống một cuộc đời hạnh phúc bên gia đình, nào ngờ chỉ gặp
toàn
bất
“ Hết nạn ấy đến nạn kThanh lâu hai lượt, thanh y hai lần ”
Tài thường đi đôi với Tình, đồng biến với nhau: kẻ đa tài thì đa tình. Đa tình chính là đầu mối
của mọi sự trên đời. Trước kia Ngũ tổ Hoằng Nhẫn có dặn dò Huệ Năng trước khi chia tay rằng:

Hữu
Nhân
địa

tình
Vô tính diệc vô sinh ”

tình

lai
quả


(

gieo
hạt
Tùy
duyên
đất,
quả

tình
hạt
Vô tình không tính cũng là không sinh.)

hạ
hoàn


giống
mới
sinh
giống

chủng
sinh
chủng
hữu
đậm
đâu

tình,
đà.
ra,

Đó là một thái độ xuất thế triệt để. Còn ở trong thế giới hiện sinh này, nếu vô tình thì còn chi
là sinh động nữa. Thúy Kiều vốn đa cảm, cho nên ngay sau khi đi chơi “ Lễ là Tảo mộ, hội là
Đạp thanh ” về, lòng nàng rộn rã những cảm xúc ngây ngất tình ái lẫn bồi hồi lo âu:

Kiều
từ
trở
gót
trướng
Mặt
trời
gác
núi,
chiên
đà
thu
Gương
nga
chênh
chếch
dòm
Vàng
gieo
ngấn
nước,
cây
lồng
bóng
Hải
đường
lả
ngọn
đông
Giọt
sương
gieo
nặng,
cành
xuân
la
Một
mình
lặng
ngắm
bóng
Rộn
đường
gần,
với
nỗi
xa
bời

Người

đến
thế
thời
Đời
phồn
hoa
cũng

đời
bỏ
Người
đâu
gặp
gỡ
làm
Trăm
năm
biết

duyên

hay
Ngỗn ngang trăm mối bên lòng ”

hoa,
không
song,
sân.
lân,
đà.
nga,
bời:
thôi,
đi.
chi,
không?

Tác giả mượn cảnh để ngụ tình, đó là tâm trạng xao xuyến tương phản của Thúy Kiều:



Người

đến
thế
thì
là liên tưởng đến Đạm Tiên, tức là người mà:

thôi




Phận
hồng
nhan
Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương.”

:





Sống
làm
vợ
Hại thay thác xuống làm ma không chồng ”

mong

khắp

Vì là kẻ đa tình, đa sầu, đa

Lòng
đâu
sẵn
Thoắt
nghe
Kiều
đã
“Đau
đớn
thay
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.”

cảm,

người

nàng
mối

đầm
phận

xúc
đầm

manh

ta,

động mãnh liệt:
thương
tâm,
châu
xa:
đàn
bà!

Trong khi đó thì Thúy Vân lại dửng dưng:

Vân
rằng:
Khéo dư nước mắt, khóc người đời xưa!”

chị

cũng

nực

cười,

Thúy Kiều vốn đã đa cảm, giàu óc tưởng tượng, cho nên qua câu chuyện thương tâm Đạm
Tiên, nàng đã liên tưởng đến cái điều “ hồng nhan bạc mệnh

Rằng:
Hồng
nhan
Cái
điều
bạc
mệnh
Nỗi
niềm
tưởng
Thấy người nằm đó, biết sau thế nào?”

tự


chừa
đến

nghìn
ai


xưa,
đâu?
đau,

Còn nói về Kim Trọng thì:
“ Người đâu gặp gỡ làm chi?”
và là người mà:
“ Tình trong như đã, mặt ngoài còn e ”
Thúy Kiều đang sống với một tâm hồn thanh tĩnh như tấm gương trong chưa bị vẩn đục bởi
bụi
trần:

Êm
đềm
trướng
rủ
màn
che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai ”
thì ngay sau cuộc xuất hành đi chơi hội Đạp thanh, lần đầu tiên tiếp xúc với sự vật ngoại giới, cái
dục tính tiềm tàng trong Thiên tính liền nổi dậy, làm vọng động tâm hồn Thúy Kiều. Rồi bắt đầu
từ đây Thiên tính không còn là Thiên tính thuần túy nữa. Thiên tính tự phân hóa ra hai phương
diện mâu thuẫn đối đãi Tài và Mệnh.


Tâm hồn của Thúy Kiều lúc này dao động, tương phản rõ rệt: bồi hồi lo lắng do ám ảnh cuộc
đời bạc mệnh của Đạm Tiên, trong khi đó lại chan chứa hy vọng với mối tình đầu vừa chớm nở
với Kim Trọng. Tâm hồn đó hiện nay là một bãi chiến trường phân tranh giữa tình và lý được
phản
ánh

ràng
qua
tiếng
đàn
của
nàng

Khúc
đâu
Hán
Sở
chiến
trường,
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau.”
Tiếng đàn cũng biểu lộ lòng khao khát một tình yêu lý tưởng, nhưng chưa được toại nguyện,
nên như sầu như oán:

Khúc
đâu
Nghe ra như oán như sầu phải chăng?”





phượng

cầu,

Tâm hồn nàng phức tạp, đang chơi vơi phiêu lãng theo cảnh nước chảy, mây bay:


Khang
Một rằng lưu thủy, hai rằng hành vân.”

này

lại chuyển qua nỗi lòng ly biệt xót

Quá
quan
này
Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia.”

khúc
xa của
khúc

Quãng
Chiêu Quân
Chiêu

Lăng,
cống Hồ
Quân,

Cái tâm hồn đa cảm, đa tình ấy không còn làm chủ được mình nữa, khi trong, lúc đục, khi
khoan, lúc nhặc thật là bất thường:

Trong
như
tiếng
Đục
như
nước
suối
Tiếng
khoan
như
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.”

hạc
mới
gió

sa

bay
nửa
thoảng

qua,
vời.
ngoài.

Cuộc giằng co tình lý lên đến cao đỉnh khi Thúy Kiều đang đêm lẻn sang nhà tình nhân, cùng
với tình nhân tâm tình trong bầu không khí đầy đam mê, có đủ các món thi, họa, âm nhạc trữ tình
dễ khiến cho gái trai sa ngã

Sóng
tình
Xem trong âu yếm có chiều lả lơi.”

dường

đã

xiêu

xiêu,

Tuy lãng mạn đến như thế, nhưng lý tính của Thúy Kiều còn đủ mạnh để giúp nàng tránh sa
ngã. Nàng nói với tình lang:

Đã
cho
vào
Đạo
tòng
phu,
lấy
Ra
tuồng
trên
Thì
con
người
ấy
Phải
điều
ăn
Tiếc trăm năm, nở bỏ đi một ngày!”

bậc
chữ
trinh
bộc,
ai
cầu
xổi

bố
làm
trong
làm


kinh,
đầu.
dâu,
chi!
thì,


Trước những lời nói khôn ngoan có lý, có tình ấy, Kim Trọng lại càng thêm quý trọng người
yêu:

Thấy
lời
Chàng càng thêm nể, thêm vì mười phân.”

đoan

chính

dễ

nghe,

Ngoài ra giữa cá nhân, đoàn thể và tập quán luân lý cũng có mâu thuẫn. Đoàn thể cũng như
tập quán luân lý, thoạt kỳ thủy được hình thành là do sự thỏa thuận của mọi người vì lợi ích,
nguyện vọng, ý chí chung. Nhưng dần dần có sự phân hóa vì đoàn thể lo củng cố quyền lực, tập
quán luân lý thì trở thành mệnh lệnh bất di bất dịch, trong khi đó cá nhân sinh động lại bị ước
thúc, không thỏa mãn nên có mâu thuẫn. Sự mâu thuẫn càng rõ rệt khi những người đại diện cho
đoàn thể nắm quyền lực lại thoái hóa, nhũng lạm:

Một
ngày,
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.”

lại

thói

sai

nha,

Nạn hà lạm không phải là một hiện tượng đơn biệt, mà đã từ lâu trở thành bản chất có cả hệ
thống, cho nên mới có kẻ lo dịch vụ môi giới như họ Chung mách bảo:

Tính
bài
Có ba trăm lạng, việc này mới xuôi.”

lót

đó,

luồn

đây,

Có mâu thuẫn thì vũ trụ vạn vật mới có sinh sinh hóa hóa, nhưng với điều kiện mâu thuẫn
trong vòng trật tự của qui luật quân bình. Nhưng khi thế quân bình không còn nữa, sự mâu thuẫn
trở thành mâu thuẫn có xung khắc kịch liệt, dao động thái quá thì sự thay đổi, biến dịch bình
thường trở thành sự đổ vỡ, con người sẽ cảm thấy “đau đớn lòng”:

Trải
qua
một
cuộc
bể
dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”
Thúy
Kiều

người

Một
hai
nghiêng
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.”

con
nước,

gái
tài
nghiêng

sắc:
thành,

Bản tính của nàng lại đa tình, đa cảm, mà chính nàng cũng nhận thấy như thế:

Rằng
quen
nết
mất
đi
rồi,
Tẻ vui, thôi cũng tính trời biết sao.”
Ở trong một xã hội mà kẻ có quyền lực xấu xa, tham lam, nhũng lạm với bọn sai nha “ đầu
trâu, mặt ngựa, ào ào như sôi”, Thúy Kiều lại có sắc đẹp “ nghiêng nước nghiêng thành” thì làm
sao nàng có thể tránh được tai họa cho bản thân mình:

Anh
hoa
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.”

phát

tiết

ra

ngoài

Thúy Kiều đã trở thành trò đùa của dục tính, dục tính ở chính nàng cũng như dục tính của các
thế lực tranh nhau chiếm đoạt. Số phận đó không phải chỉ riêng cho trường hợp của Thúy Kiều,


mà là số phận chung cho mọi người đàn bà khác sống trong những xã hội thối nát hoặc trong
cảnh
loạn
ly,
nhiễu
nhương

Đau
đớn
thay
phận
đàn
bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?”
( Văn tế thập loại chúng sinh )
hay là:
“Đau
đớn
thay
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.”

phận

đàn

bà,

Vì bản tính đa cảm, đa tình cho nên khi đứng trước cảnh cha em của mình bị gông xiềng:

Già
giang
Một dây vô lại buộc hai thâm tình.”

một

lão,

một

trai,

Nàng liền động lòng trắc ẩn, cân nhắc bên tình bên hiếu:

Sao
cho
Trong khi ngộ biến tùng quyền, biết sao?
Duyên
hội
Bên
tình,
bên
hiếu,
Để
lời
thệ
Làm con, trước phải đền ơn sinh thành.”
rồi
nàng

Quyết
tình,
Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha!”

cốt

nhục

ngộ,
bên
hải
đành
nàng

đức
nào

vẹn

tuyền,


nặng
minh

lao,
hơn?
sơn

quyết
mới

hạ

định:
tình:

Lúc ngộ biến phải tòng quyền, chứ không thể nào trọn vẹn cả hai được:

Sự
đâu
sóng
gió
bất
kỳ,
Hiếu tình có lẽ hai bề vẹn hai?”
Hiếu và tình tuy bề ngoài có vẻ mâu thuẫn, nhưng đó là hai phương diện có thể chuyển hóa
cho
nhau:
“ Xót tình máu mủ, thay lời nước non.”
Lý nổi lên ở mặt ngoài, còn tình thì lắng sâu vào bên trong sự vật cho nên quan tòa mới phán
xét như sau:

Đã
đưa
Ngoài
thì

lý,
Dâu
con
trong
Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong.”

đến
song
đạo

trước
trong

cửa

gia

công,
tình.
đình,


Hiếu cũng như tình là biểu hiện của cùng một Tâm hay Thiên tính ở cá nhân, một khi phát
triển đến trình độ tột cùng thì thông đồng với Thiên tính, Bản thể vũ trụ:

Lấy
tình
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời.”

thâm

trả

tình

thâm,

Giữa trời và người vốn có chỗ đồng điệu ở Tâm ( lòng ), một đàng là Tâm cá nhân, một đàng
là “ Thiên địa chi tâm ”


rằng:
Cỗi nguồn, cũng bởi lòng người mà ra.”

Phúc

họa

đạo

trời,

Chừng nào Thúy Kiều còn nhiều đam mê, dục vọng thì Thiên tính lu mờ, phân hóa thành
Mệnh khắc nghiệt trói buộc, lúc đó dầu có muốn chạy trốn cũng không được, cho nên có lúc
Thúy Kiều toan tự sát:

Thôi
thì
Sẵn dao tay áo, tức thì dở ra.”

thôi,



tiếc

gì!

Đạm Tiên hiện ra, nhắn nhủ:

toan

Rỉ
trốn

rằng:
Đã
nợ
Số
còn
nặng
Người dù muốn quyết, trời nào đã cho!”

Nhân
đoạn
nghiệp

quả
tràng

dở
được


dang,
sao
đào,

Ở đây Mệnh của nhà Nho cũng là Nghiệp của nhà Phật và Thiên tính hay Thiên mệnh của nhà
Nho cũng tức là Tâm Phật.
Nghiệp của nhà Phật do chữ Phạn “ Karma” có nghĩa là hành động, động tác. Nghiệp chia ra:
thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.
Một hành động đem lại một phản ứng do đó có nhân quả. Vậy Nghiệp chính là luật nhân quả.
Chừng nào Nghiệp còn nặng thì còn phải chịu lận đận, đau khổ. Sư Tam Hợp nói với sư Giác
Duyên cái tình trạng đó:

Thúy
Kiều
sắc
sảo
khôn

duyên

phận
hồng
nhan
đã
Lại
mang
lấy
một
chữ
Khư
khư
mình
buộc
lấy
mình
vào
Vậy
nên
những
chốn
thông

không
yên
ổn,
ngồi
không
vững
Ma
đưa
lối,
quỉ
dẫn
Lại
tìm
những
lối
đoạn
trường

Hết
nạn
ấy
đến
nạn
Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần.”

ngoan,
đành.
tình,
trong.
dong,
vàng.
đường,
đi.
kỳ


Thúy Kiều giẫy giụa trong lưới Nghiệp nhân quả, trong định mệnh oan nghiệt, càng gỡ càng
rối chừng nào còn mê vọng, chưa tỉnh ngộ. Nàng thất vọng chán chường trước quá nhiều thử
thách:


Đã

cho

lấy

Làm
cho,
cho
hại,
Đã
đày
vào
Sao cho sĩ nhục một lần mới thôi!”

chữ
cho
kiếp

hồng
tàn,
cho
phong

nhan
cân.
trần,

Cũng có lúc nàng thốt lên những lời cay đắng, não nề:

Chém
cha
Gỡ
ra
rồi
lại
Nghĩ
đời

Tài tình chi lắm cho trời đất ghen!”

cái
buộc

số
vào
ngán

hoa
như
cho

đào,
chơi!
đời!

Tuy mệnh trời khắc khe như vậy, nhưng nó không độc quyền quyết định vận mệnh của con
người, mà con người cũng có dự phần trong đó và có thể chuyển được Mệnh cũng như Nghiệp
báo:
“ Có trời mà cũng có ta.”
hoặc:
“ Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.”
Thúy Kiều chỉ có thể thoát khỏi lưới nghiệp, định mệnh khắt khe chừng nào không còn đam
mê cuộc đời ảo hóa hữu hạn, mà quên Thiên tính vô hạn, vĩnh cữu, chừng nào đã “ gạn đục khơi
trong” để trở về với Thiên tính, tức Tâm vũ trụ siêu vượt không gian, thời gian, nhân quả, thuần
túy thanh tịnh, quân bình.
Quá trình giác ngộ này của Thúy Kiều không phải bằng con đường tiêu cực, tĩnh tâm mà
bằng những hành động gieo nhân lành một cách thành tâm. Chính những nhân lành đó đã hoán
cải Nghiệp của Thúy Kiều như lời tiên tri của Tam Hợp đạo cô dựa theo luật Nghiệp báo nhân
quả:
“ Sư rằng: Song chẳng hề chi,
Xét
Mắc
Lấy
Bán
Hại
Biết
Thửa

Nghiệp
duyên
cân
lại,
nhắc
trong
tội
nghiệp
điều
tình
ái,
khỏi
tình
thâm
trả
mình
đã
đông
hiếu
một
người,
cứu
đường
khinh
trọng,
biết
công
đức
ấy

đi
còn
Thúy
điều

tình
tâm
đến
muôn
lời
phải
ai

nhiều!
Kiều:
dâm.
thâm,
trời!
người,
chăng.
bằng?


Túc
khiên
đã
rửa
Khi
nên
trời
Nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau.”

lâng
cũng

lâng

sạch
chiều

rồi!
người,

Nhiều chủng tử lành huân tập lâu dần thì lượng biến thành phẩm là công đức có thể hoán cải
được số mệnh: “Đức năng thắng số” và lúc đó thì:
“ Khi nên trời cũng chiều người.”
Rồi đến khi Thúy Kiều liều mình nhảy xuống sông Tiền Đường kết thúc cuộc đời đau
thương, được ngư ông cứu vớt, trong cơn thiêm thiếp, Đạm Tiên lại hiện ra nói như lời tiên tri
của Tam Hợp đạo cô:

Rằng:
Tôi
đã
Mất
công
mười
mấy
Chị
sao
phận
Kiếp
xưa
đã
vậy,
Tâm
thành
đã
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân.
Một
niềm

Âm
cân
cất
một
Đoạn
trường
sổ
Đoạn
trường
thơ
phải
Còn
nhiều
hưởng
Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào!”



lòng

năm
mỏng
lòng
thấu

thừa


đức

này

dễ
đến

nước,
đồng
rút
đưa
thụ


cân

đã



tên
trả
về

chờ,
đây.
dày?
ai!
trời,
dân,
già?
ra
nhau.
sau,

* Bản tính Thúy Kiều vốn tốt lành, tâm hồn nàng trong trắng, thế cho nên khi cha, em gặp
nạn, nàng không ngần ngại hy sinh bán mình chuộc cha, em để trọn niềm hiếu thảo. Đến khi
Thúy Kiều lưu lạc, như cánh bèo bấp bênh trên sóng nước:

Nghĩ
mình,
Đã nhiều lưu lạc, lại nhiều gian truân.”

mặt

nước

cánh

bèo,

Nàng cũng đã thể hiện lòng nhân trong hành động quên mình vì người. Như vậy nàng đã thể hiện
được trọn vẹn cả hiếu lẫn trung và lòng nhân:

Trên

Một là đắc hiếu, hai là đắc trung. »

nước,

dưới



nhà,

hay :
« Bán mình là hiếu, cứu người là nhân. »
Nhờ tâm chí thành qua những hành động hiếu, nhân một cách tự giác, vô tư không tính toán
đã động đến lòng trời, đến Thể tính vũ trụ, đến Tâm đại đồng cho nên đã có hiệu lực cải hóa tâm


của nàng, đưa dục tính trở về với Thiên tính trong sáng hay nói theo nhà Phật, chuyển tâm mê
thành tâm giác ngộ. Đến đây mọi xung đột, mâu thuẫn giữa Tài và Mệnh được điều giải.
Nguyễn Du đã khéo sử dụng hình ảnh để diễn tả cái giây phúc kỳ diệu của sự hòa nhập tâm
cá nhân vào tâm vũ trụ, tức là tiểu vũ trụ vào đại vũ trụ như sau :
« Ngọn
triều
non
bạc
trùng
trùng,
Vời trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo, » ( cá thể )

(



trụ

)

Đến đây Thúy Kiều đã thực sự dứt bỏ hết mọi tham dục, ngay cả các ý chí muốn sống :
« Thôi
thì
Tấm lòng phó mặc trên trời, dưới sông ! »

một

thác

cho

rồi,

Nàng đã giác ngộ, tỉnh hẳn giấc mộng tài sắc :
« Có
tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần.”



cậy

chi

tài,

Tâm hồn Thúy Kiều lúc này đã lấy lại được thế quân bình, trở nên yên tĩnh sau một thời bị
vọng động, cho nên tiếng đàn so với ngày xưa sầu thảm thì nay trở nên đầm ấm vui tươi.
“ Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy?”
Nguyễn Du kết thúc tập thơ truyện “ Đoạn trường tân thanh ” bằng đoạn thơ sau đây có thể
tóm tắt hết tất cả triết lý của luận đề.

Ngẫm
hay
muôn
Trời
kia
đã
bắt
làm
Bắt
phong
trần
phải
Cho
thanh
cao
mới
được

đâu
thiên
vị
Chữ
Tài
chữ
Mệnh,
dồi

tài

cậy
Chữ
Tài
liền
với
chữ
Đã
mang
lấy
nghiệp
Cũng
đừng
trách
lẫn
trời
Thiện
căn

tại
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài!”

sự
người

tại

phong
phần
thanh
người
dào
cả
chi
Tai
một
vào
gần
trời
lòng

trời,
thân.
trần,
cao.
nào,
hai.
tài?
vần.
thân,
xa.
ta,

Trong truyện Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng biện chứng tam tài: Tài-Mệnh-Tâm để xây dựng
luận đề triết lý. Tác giả giải quyết vấn đề bằng cách mở rộng tâm thức từ mê vọng cho đến giác
ngộ.


Tài là tài năng thuộc về cá nhân hữu hạn, Mệnh tức là Thiên mệnh thuộc về vũ trụ vô hạn.
Lúc còn mê vọng, con người còn ở quan điểm tương đối, bị ràng buộc bởi luật nhân quả, nghiệp
báo cũng như mệnh trời, cho nên Tài và Mệnh xung đột:
“ Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau ”
Con người là động vật tối linh, có tuệ tính nên có khả năng lựa chọn, định hướng để chuyển
mê khải ngộ bằng phương pháp tu hành:


trời
Tu là cõi phúc, tình là dây oan. »



cũng



ta,

Tu là con đường thực hiện hòa điệu giữa cá thể và vũ trụ về phương diện tinh thần. Đạt đến
hòa điệu thì không còn chênh lệch, thiên vị và Tài-Mệnh sẽ không còn xung đột, chống đối nhau
nữa :
«

đâu
Chữ Tài chữ Mệnh dồi dào cả hai. »

thiên

vị

người

nào,

Ở bình diện ý thức giác ngộ, con người đã từ bỏ quan điểm lưỡng nguyên tương đối để
chuyển sang quan điểm bình đẳng, tuyệt đối. Tác giả đã nối kết Nho học vào với Phật học để kết
thúc triết lý truyện Kiều :
« Thiện
căn
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài. »



tại

lòng

ta,

Một Tâm bao hàm cả vũ trụ biểu hiện tam tài : trời, đất, người hay siêu nhiên, thiên nhiên, xã
hội nhân văn. Tâm đó là Thiên tính của Nho gia, cũng là Tâm thiền hay Tâm không của nhà Phật
hay nói chung là Tâm vũ trụ hóa đại đồng. Điều này lại một lần nữa chứng minh rằng Nho Phật
đồng qui ở trình độ ý thức vũ trụ và tác giả là một danh Nho lại có tâm Thiền sâu sắc :
« Mãn
cảnh
giai
Thử tâm thường định bất ly thiền. »

không

(
Tam
thanh
(
Khắp
cảnh
vật
đều
rỗng,
Tâm này thường định chẳng rời thiền.)


động
không
đâu

hữu

tướng,

)
còn

hình

hay trong bài « Lương Chiêu Minh Thái Tử phân kinh thạch
« Ngã
độc
Kim
Cương
thiên
biến
Kỳ
trung
áo
chỉ
đa
bất
Cập
đáo
phân
kinh
thạch
đài
Chung tri vô tự thị chân kinh. »
(
Ta
đọc
Kim
Cương
Nghĩa kín phần nhiều không hiểu thấu.

hơn

ngàn

tướng,
đài » :
linh,
minh.
hạ,

lần,


Kịp
đến
phân
Mới hiểu chân kinh không có chữ.)

kinh

thạch

đài

này,

Cái tinh thần « chân kinh không có chữ » ấy cũng có thể là trường hợp của « Đoạn trường
tân thanh ». Một tác phẩm bất hủ vượt không thời gian không phải là một tác phẩm mà trong đó
tác giả nói hết tất cả ý tưởng của mình một cách minh bạch, dứt khoát, mà là một tác phẩm có
những khoảng tranh tối tranh sáng, ở đó tác giả chỉ nói lấp lửng nửa lời cốt để khêu gợi người
đọc cùng tham gia suy tưởng với nghĩa : « ý tại ngôn ngoại »
Đọc truyện Kiều ai cũng đều thấy rằng Nguyễn Du đã mượn vai Thúy Kiều để ký thác tâm
sự, nỗi lòng của tác giả. Đó là tấm lòng « cô trung » :
« Kim
cổ
thùy
Tứ phương hà xứ thác cô trung »

nhân

(
Vịnh
(
Nghìn
xưa
ai

kẻ
Bốn phương nơi đâu gởi được tấm lòng riêng.)

lân

Khuất
thương
người

độc

tỉnh
Nguyên)
một
mình,

tỉnh

Lòng hoài vọng Lê triều của Nguyễn Du là lẽ tất nhiên do nền luân lý trung quân thời đó và
cũng bởi tổ tiên của ông bao đời đều làm quan dưới triều Lê. Cho nên sau này nếu phải tiếp xúc,
thù tạc với đời là bất đắc dĩ, kỳ thật ông chỉ muốn ẩn dật, lòng nặng trĩu tâm tư u buồn :
« Vui

vui
Ai tri âm đó, mặn mà với ai.”

gượng

kẻo

là,

Khi vua Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu cầu cứu và hô hào khởi nghĩa cần vương, nhà Mãn
Thanh nắm lấy cơ hội này liền đem quân sang xăm lăng Việt Nam. Nguyễn Huệ với chính nghĩa
dân tộc đã oanh liệt đánh bại đoàn quân xăm lược này, rồi xưng Hoàng đế Quang Trung. Sự kiện
lịch sử quan trọng này không lý nào lại không có tác động vào tinh thần của Nguyễn Du, là
người có ý thức về tâm thiền sâu xa, có thể đã làm thay đổi phần nào quan điểm của ông về quan
niệm trung quân ái quốc một cách rộng rãi như thời đại Lý Trần chăng?
Trong truyện “ Kim Vân Kiều ” tác giả giải quyết vấn đề tư tưởng triết lý luận đề bằng cách
qui về giải quyết vấn đề quan điểm: từ quan điểm lưỡng nguyên, tương đối có chấp trước đến
quan điểm bình đẳng, tuyệt đối. Ở đoạn Thúy Kiều khuyên Từ Hải về qui phục triều đình:

Trên

Một là đắc hiếu, hai là đắc trung. »

nước,

dưới



nhà,

ta thấy hiếu đối với nhà, trung đối với nước chứ không nói trung đối với vua ; nếu có nói trung
quân thì phải hiểu là trung với ngôi vị vua chứ không phải trung với cá nhân một ông vua nhất
định nào. Ở đoạn Thúy Kiều tự trầm ở sông Tiền Đường, rồi được cứu vớt, Đạm Tiên hiện ra
cũng nói :


« Bán
mình

Một niềm vì nước, vì dân »

hiếu,

cứu

người



nhân

Như vậy đối với Nguyễn Du, thang giá trị cao tột vẫn là đức nhân, rồi mới đến nước và dân
chứ không nói đến vua. Do đó nếu cho rằng Nguyễn Du có tấm lòng hoài vọng Lê triều và ôm
mãi mối « cô trung » thì không hoàn toàn đúng hẳn. Thật ra đó chỉ là tình cảm của con người,
nhất là con người đó vốn đa sầu, đa cảm. Sự kiện Lê Chiêu Thống « rước voi dầy mả tổ », lại
nữa vốn có sẵn tâm Thiền, nên có thể Nguyễn Du đã thay đổi quan điểm, ra làm quan dưới triều
đại
vua
Gia
Long.
Quan niệm về chữ Trung như vậy rất rộng rãi, phù hợp với truyền thống Đạo Việt, mà theo
nghĩa căn cơ là mối giao hòa của Trời Đất, Âm Dương, Thời Không... cho nên có thể áp dụng
cho mọi đối tượng, chứ không độc quyền riêng cho một đối tượng nào. Quan niệm đó còn để lại
ấn dấu trong ca dao, là tiếng nói phát xuất từ tiềm thức cộng thông của dân tộc :
« Anh
về
em
chẳng
cho
về,
Em
nắm
lấy
áo,
em
đề
câu
thơ.
Câu
thơ
ba
chữ
rành
rành,
Chữ
Trung,
chữ
Hiếu,
chữ
Tình

ba.
Chữ
Trung
thì
để
phần
cha,
Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ Tình. »
Đức nhân, đức cao nhất của nhà Nho, có thể so sánh với đức Từ bi của Nhà Phật, được diễn
tả cô đọng trong bốn chữ « cứu người là nhân ». Muốn biết rõ hơn quan niệm về đức nhân cũng
như tấm lòng của ông, chúng ta đọc đoạn thơ dịch từ chữ Hán của tác giả sau đây :
« Bờ

lỡ
Sóng
cao
Ta
trông
Tấc
lòng
Thật
sợ
Thời
chìm
Sao

Nguy
hiểm
Kẻ
đi
Kẻ
lại
Lòng
trời
Nhưng
sao
Muốn

Lắp bằng muôn trăm dặm »

ầm

ầm
thấy
dòng
thường
lỡ
vào
người
không
sao
vẫn
vốn
được
núi

như
ma
sông
áy
sẩy
không
thế
biết
cuồn
chưa
hiếu
thế
Thiên

sấm

dữ
quái
Lam
náy
chân
đáy
gian
sợ
cuộn
thôi
sinh
mãi
Nhận

Tình cảm đó thật nồng thắm, vượt cả biên giới cá nhân để thông cảm với tình nhân loại, rồi
hòa nhập đồng nhất vào cái tình của núi sông, trời đất. Cái đức nhân đó bao trùm cả tính nhân
bản được thể hiện qua bài thơ nói về bốn mẹ con người ăn mày lê thân khắp đầu đường xó chợ,
tha phương cầu thực mà không đủ no, trong khi đó có những « quan trên » cao lương mỹ vị thừa
mứa đem đổ bỏ không tiếc, thật là một cảnh xã hội tương phản :


« ...
Gân
Đầy
bàn
Quan
trên
Người
dưới
Bỏ
thừa
Chó
hàng
Biết
đâu
Mẹ con người cùng khốn ? »

nai

cùng

vây

thịt
không
nếm
không
xóm
trên



đủa
loa
tiếc
chê
quan

heo
dúng
qua
buồn
chán
đường

Cảnh chết chóc của thời buổi loạn ly : chết trận, chết bờ, chết buội, chết sông... đã khiến cho
Nguyễn Du xúc động tận đáy lòng, làm ra bài văn tế « Thập loại chúng sinh » để chiêu hồn và
cầu nguyện cho họ được mau siêu thoát :
« Có
khôn
thiêng
Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ »

nhẽ,

lại



nghe

kinh

và :
« Phật
hữu
tình
Chớ ngại rằng có có không không »

từ

bi

phổ

độ

Ông đặc biệt cảm thương cho thân phận những người đàn bà thời buổi loạn ly :
« Đau
đớn
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu ? »

thay

phận

đàn



( Văn tế thập loại chúng sinh )
và xót xa cho số kiếp bạc mệnh của những người đàn bà trong xã hội bất công :
« Đau
đớn
thay
Lời
rằng
bạc
mệnh
Phũ
phàng
chi
Ngày
xanh
mòn
mỏi
Sống
làm
vợ
Hại thay thác xuống làm ma không chồng. »

phận
cũng
bấy

khắp


hồng

đàn
lời
hóa
phôi
người

bà,
chung.
côn
pha.
ta,

Tác giả mô tả khung cảnh xã hội thời đó với thói gian tham xấu xa cực độ :
« Sai
Người
Đầu
Già
Một
Đầy
Rụng

nha

bỗng

nách
trâu,
mặt
giang
giây

nhà
rời
giọt

thấy
thước,
ngựa,
một
lại
vang
liễu,

bốn
kẻ
ào
lão,
buộc
tiếng
tan

bề

xôn
tay

ào

như

một
thâm
ruồi
tành
gối

hai

xao :
dao,
sôi.
trai,
tình.
xanh,
mai.


Đồ
tuế
nhuyễn,
Sạch
sành
sanh
vét
Điều
đâu
ai
Này ai đan dập, giật giàm bỗng dưng?”

của
cho
buộc,

riêng
đầy

túi
ai

tây,
tham.
làm?

Thế rồi cái nguyên do làm tan nát cuộc đời Thúy Kiều chỉ được nêu lên vỏn vẹn trong hai câu
nhưng có tính cách quyết định:

Một
ngày,
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.”

lại

thói

sai

nha,

Đó là nguyên nhân ngoại tại, hoàn cảnh xã hội mà tác giả nêu lên rồi lại bỏ lửng, trong khi đó
lại chú trọng khai triển quá trình diễn biến của tâm thức một cách sâu xa. Phải chăng đây là ý
tưởng trong câu “ chung tri vô tự thị chân kinh ” ( Mới hiểu chân kinh không có chữ ), hay “ ý
tại ngôn ngoại ”, là dụng ý của tác giả. Thái độ này thường thấy ở những bậc thức giả có tinh
thần Đạo học, mặt khác cũng là cách thái bày tỏ tư tưởng ẩn dụ, kín đáo do hoàn cảnh xã hội,
chính trị lúc đương thời và ở bất cứ thời nào có chế độ chuyên chế bất nhân.
Nguyễn
Du
để
lại
hai
câu
thơ:

Bất
tri
tam
bách

niên
hậu,
Thiên
hạ

nhân
khấp
Tố
Như?”
Nếu ba trăm năm sau mà thiên hạ sống trong cảnh thái bình, có tự do, công bình, nhân ái, ấm
no, hạnh phúc thì không biết ra sao, chứ không may sống trong cảnh đọa đày, mất tự do, bất
công, giá trị đảo điên, nhân phẩm bị chà đạp thì chắc rằng người ta sẽ thông cảm sâu sắc với nhà
thi hào tài danh về cái lẽ “ Tài Mệnh tương đố” trong truyện Kiều:


tài

cậy
chi
tài,
Chữ
tài
liền
với
chữ
tai
một
vần.”
Như vậy, giải quyết vấn đề “ Tài Mệnh tương đố” chỉ bằng con đường nội tâm, khai phóng
quan điểm không thôi cũng chưa đủ, mà phải khai phóng cả yếu tố ngoại tại là môi trường sống,
xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa nữa. Thật thế, nếu như Kim Trọng và em trai của Thúy Kiều
không đỗ đạt, làm quan thì không biết tình trạng, số phận của nàng sau cùng sẽ ra sao. Chỉ có
Tâm thức cá nhân giác ngộ, mà thực tế xã hội còn đầy dẫy bất công với cường hào ác bá, tham
quan, tệ nạn xã hội thì chắc gì nàng Kiều với tài sắc ấy được yên thân.
Con đường văn hóa Việt, Đạo Việt hiệp cả nội ngoại, là Triết lý lưỡng hợp thái hòa, là tinh
hoa của triết lý “ Bánh dày bánh chưng “, là triết lý lưỡng hợp vuông tròn kết tinh trong câu: “
Mẹ tròn con vuông”. Chỉ khi nào xã hội thể hiện đúng cái Đạo lưỡng hợp đó mới bảo đảm được
hạnh phúc thật sự cho mọi công dân. Con người lúc đó có thể vừa thành công ở đời sống xã hội
vật chất ( cõi vuông ), vừa thành nhân ở đời sống tâm linh ( cõi tròn ). Lúc đó Tài và Mệnh
không
còn
tương
đố
(
mâu
thuẫn
)
nữa,
mà:

Chữ
Tài
chữ
Mệnh
dồi
dào
cả hai”
Tài lúc đó được tự do thăng hoa. Tài theo Triết lý lưỡng hợp đi đôi với Đức nên là tác nhân
làm phát triển xã hội, đem lợi ích thật sự lại cho đời, cho người. Mệnh không còn là Định mệnh
khắc nghiệt như ngục tù, mà là Tính Mệnh “ Có Trời mà cũng có Ta” và Sử Mệnh Việt cũng ở
trong chân trời đó.
Nguyễn Văn Nhiệm


Cước
chú:
Tài
liệu
tham
khảo:
Truyện Thúy Kiều của Nguyễn Du, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo.
Thế giới thi ca Nguyễn Du của Nguyễn Đăng Thục,
.

.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×