Tải bản đầy đủ

TỪ TRIẾT học đến PHƯƠNG THỨC tồn tại của tác PHẨM văn học

TỪ TRIẾT HỌC ĐẾN PHƯƠNG THỨC TỒN TẠI CỦA TÁC PHẨM VĂN
HỌC
Published on 12/25,2012
ThS. Nguyễn Đình Thu
Cùng với Lịch sử văn học và Phê bình văn học, Lý luận văn học là một
trong những bộ môn quan trọng góp phần tạo nên khoa học văn học. Mọi khoa
học chỉ có hướng nghiên cứu đúng đắn khi chúng ta không còn mơ hồ về đối
tượng nghiên cứu của khoa học đó. Cho đến nay, nhiều người vẫn còn nhầm lẫn
giữa đối tượng nghiên cứu của lý luận văn học với lịch sử và phê bình văn học.
Cần phải hiểu rằng, giống như các khoa học cơ bản, lý luận văn học chỉ nghiên
cứu về vấn đề lý thuyết, trừu tượng. Nhà lý luận chỉ làm việc với những khái
niệm để tìm ra khái niệm. Còn áp dụng những khái niệm – công cụ đó vào việc lý
giải thực tế sáng tác văn học là công việc của nhà phê bình. Như vậy, đối tượng
của phê bình là các hiện tượng văn học cụ thể, trong khi đối tượng của lý luận lại
chính là phê bình. Nói như Trương Đăng Dung: “Lý luận văn học vừa nghiên cứu
các phạm trù và nguyên lý văn chương lại vừa là siêu khoa học của khoa học văn
học, lấy khoa học văn học làm đối tượng nghiên cứu”. Nói cách khác, nếu phê
bình văn học lấy sự phân tích các tác phẩm văn học cụ thể làm đối tượng nghiên
cứu thì lý luận văn học lại nghiên cứu các vấn đề của tác phẩm văn học.
Nhìn từ lịch sử phát triển, lý luận văn học đã trải qua nhiều giai đoạn gắn
liền với những khám phá thú vị trước một thực thể đầy phức tạp là tác phẩm văn

học. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, triết học là khoa học của mọi khoa học. Bởi
vậy, mọi tư duy lý thuyết văn chương đều bắt nguồn từ tư duy triết học. Vì thế,
để hiểu sự phát triển của lý luận văn học trước hết phải hiểu sự phát triển của
triết học.
Cho đến nay, triết học đã đi một chặng đường dài từ triết học tự nhiên
đến triết học nhân sinh. Triết học tự nhiên, mà đại diện là H. Tain nhấn mạnh đến
phương pháp thực chứng, đề cao phương pháp nhân quả. Biểu hiện trong lý luận
văn học là nghiên cứu văn học trong tương quan với những vấn đề xã hội, môi
trường. Phương pháp thực chứng đi tìm nghĩa chủ ý của tác giả qua văn bản chứ
không phải đi tìm chính ta. Triết học tự nhiên khám phá được nhiều điều nhưng
dần dần khủng hoảng trước đời sống phức tạp của chính bản thân con người.
Điều đó dẫn đến sự ra đời của triết học nhân sinh, lấy chính đời sống con người
làm đối tượng khám phá. Triết học nhân sinh bắt nguồn từ triết học hiện tượng
học, với hai đại diện tiêu biểu là Edmund Husserl và Martin Heidegger. Hiện
tượng học lần đầu tiên xem con người là một chủ thể có vai trò xác lập thế giới.
Thế giới chưa có sẵn khi chưa xác lập mối quan hệ với con người, khách thể chưa
là khách thể khi con người chưa hướng đến nó, cấp cho nó một ý nghĩa (tính ý
hướng). Hiện tượng học phủ nhận quan hệ nhân quả mà đề cao sự ngẫu nhiên,
xem đời sống là tập hợp của những sự vật, sự việc rơi vãi hỗn loạn một cách
ngẫu nhiên. Giữa con người và thế giới tự nhiên không phải được kết quả bằng
các mối quan hệ nhân quả mà bằng các quan hệ hiện tượng. Hiện tượng học cho
rằng, không phải các sự vật chủ động tác động vào ý thức mà ngược lại ý thức


chủ động tạo ra mối quan hệ năng động giữa ý thức với sự vật. Không thể tách
biệt giữa ý thức với hiện tượng. Hiện tượng là sự tổng kết giữa tôi với sự vật,
hiện tượng là cái được xác định thông qua tôi. Vì thế hiện tượng mang tính chủ
quan mạnh mẽ. Như vậy, triết học hiện tượng học đã khẳng định vai trò của ý
thức chủ quan trong việc kiến tạo thế giới. Hiện tượng học nhấn mạnh hoạt động
chủ quan của chủ thể hướng đến khách thể, đưa chủ thể lên ngang bằng với
khách thể trong sự tương tác lẫn nhau, cho rằng thế giới bên ngoài như thế nào
là do ta cấp cho nó chứ không phải tự thân nó có. Hiện tượng học của Husserl và
Heidegger khẳng định thế giới tồn tại thông qua chủ thể. Trong đôi mắt của các
nhà hiện tượng học, khách thể không có nghĩa, và chính chủ thể mới là người cấp
nghĩa. Triết học nhân sinh đã cho thấy một thực tế hiển nhiên: thế giới không chỉ
được cảm nhận bằng đôi mắt duy lý, khách quan mà còn bằng sự cảm nhận
nhiều chiều của chủ thể. Đối tượng cơ bản nhất của triết học nhân sinh chính là
con người với toàn bộ sự phức tạp khôn lường của nó. Đây là tư tưởng đã chi phối
rất lớn đến lý thuyết tiếp nhận văn học.
Tác phẩm văn học được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ, vì thế để hiểu


được bản chất của văn học phải đi từ việc tìm hiểu bản chất của ngôn ngữ. Mỹ
học macxit chủ yếu quan tâm đến bình diện nội dung tư tưởng mà chưa nói nhiều
đến ngôn ngữ, trong khi, lẽ ra phải thấy văn học là nghệ thuật của ngôn từ, chất
liệu của văn học là ký hiệu, là ngôn ngữ, và sự sáng tạo trong văn học trước hết
là sự sáng tạo về ngôn ngữ, về cách nói của nhà văn. Ngôn ngữ trong văn học
không đơn giản là cái vỏ của tư duy mà nó cũng chính là tư duy, là yếu tố có khả
năng sinh tạo tư tưởng. Và đến mỹ học phương Tây đã quan tâm khám phá bản
chất của ngôn ngữ ở nhiều khía cạnh khác nhau. Bắt đầu là khám phá về ngôn
ngữ của nhà ngôn ngữ học F. Sausure. Theo Sausure, ngôn ngữ là một loại ký
hiệu. Cũng như các ký hiệu khác, ngôn ngữ có hai mặt liên quan với nhau là cái
biểu đạt (chữ viết, lời nói) và cái được biểu đạt (khái niệm). Giữa cái biểu đạt và
cái được biểu đạt có quan hệ võ đoán (tự quy ước với nhau). Theo đó, tác phẩm
văn học là tập hợp những ký hiệu ngôn ngữ, trong đó, cái biểu đạt là những con
chữ còn cái được biểu đạt là quan niệm, tư tưởng nhà văn. Đến Edmund Husserl,
người sáng lập triết học hiện tượng học chỉ nhìn thấy vai trò thứ yếu của ngôn
ngữ trong hoạt động nắm bắt một hiện tượng nhất định nào đó của con người.
Ngôn ngữ, theo Husserl như một thứ vỏ bọc dùng để giữ lại các nghĩa được hình
thành độc lập với nó. Nghĩa của tác phẩm văn học do đó chỉ là cái mà tác giả có
chủ định từ đầu, nó thuộc về ý thức chủ quan hơn là thuộc về ngôn ngữ. Theo
quan niệm này, nghĩa của mootjj tác phẩm văn học chỉ có một lần, nó đồng nhất
với cái khách thể ý thức mà trong khi viết, nhà văn có ý hướng tới. Tức là tác
phẩm văn học chỉ có một nghĩa mà thôi. Như vậy, do quá đề cao ý thức chủ quan
mà Husserl cho ngôn ngữ là thứ yếu, chỉ là vỏ bọc của ý thức chủ quan. Martin
Heidegger, học trò của Husserl đã vượt lên được thầy của mình. Trong công trình
Trên đường đến với ngôn ngữ (1959), ông gọi ngôn ngữ là ngôi nhà của Hữu thể.
Theo ông, ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp, mà cao hơn thế nó còn có
khả năng tạo lập đời sống, ngôn ngữ kkhoong chỉ là vỏ bọc mà còn có khả năng
tạo lập được đời sống riêng với người phát ngôn. Khi ông cho rằng, lời nói không
chỉ hoàn toàn là các ký hiệu, lời nói có hai mặt: hướng đến người nào đó và đặt


điều kiện cho người nghe phải nỗ lực để hiểu được điều đó, chính là ông đã gợi
những ý tưởng quan trọng cho việc nghiên cứu vấn đề nghĩa và sự tạo nghĩa của
văn bản thông qua người đọc. Điều đó có nghĩa một phát ngôn khi phát ra có thể
hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau không phụ thuộc vào chủ ý của người phát
ngôn. Nếu Husserl chỉ xem ngôn ngữ là công cụ thứ yếu dùng để thể hiện các ý
tưởng đã có sẵn thì Heidegger xem ngôn ngữ là nơi mà đời sống con người diễn
ra, là cái đầu tiên tạo ra thế giới. Như vậy, tất cả các nhà hiện tượng học đều nói
khác với Saussure, xem ngôn ngữ là hệ thống những quy tắc ổn định. Đến H.G.
Gadamer, học trò của Heidegger, với công trình Chân lý và phương pháp (1964),
ông đã có bước đi quan trọng trong việc tạo ra khái niệm ngôn ngữ tường giải
học và trong việc phê phán những quan điểm của các lý thuyết ngôn ngữ học
hiện đại. Gadamer đã bác bỏ quan niệm công cụ về ngôn ngữ: “người diễn giải
không sử dụng lời nói và các khái niệm như người thợ thủ công sử dụng các công
cụ của mình”. Lời nói không thuộc về chúng ta mà thuộc về các tình huống của
Hữu thể nơi lời nói hình thành và điều muốn nói được tạo ra. Theo ông, ngôn ngữ
không phải là công cụ để chúng ta thể hiện một cái gì đó mà là nơi để chúng ta
tồn tại. Nhờ lời nói, chúng ta mới chuyển dịch được vào thế giới, vào các tình
huống của tồn tại. Không phải con người tìm ra lời nói mà lời nói tìm thấy chúng
ta. Mối quan hệ giữa thế giới và ngôn ngữ là tương hỗ, thế giới là thế giới nhờ
ngôn ngữ, còn ngôn ngữ là ngôn ngữ nhờ thế giới thể hiện trong nó. Liên quan
đến cái nhìn mới về ngôn ngữ không thể không nói đến trường phái hình thức
Nga. Nhóm hình thức Nga đã nghiên cứu đặc thù của ngôn ngữ văn học, đặc biệt
là ngôn ngữ thơ so với ngôn ngữ thông thường. Trường phái này đã phát hiện ra
tính văn học của ngôn ngữ văn học, nghĩa là nghiên cứu văn học chủ yếu phải
nghiên cứu cái gì làm nên văn học chứ không phải nghiên cứu nội dung tư tưởng.
Họ đã phát hiện ra tính chất tự động hóa của ngôn từ, và cho rằng hình thức
không phải là cái nồi để đổ nước là nội dung vào, mà bản thân hình thức là nội
dung và nội dung là hình thức, hai cái này không tách bạch nhau như quan hệ
hai mặt của một tờ giấy. Trường phái này cũng đã phát hiện ra chất liệu và thao
tác của văn bản văn học khác với các văn bản khác, và sự phát triển của văn học
suy cho cùng là sự thay thế các hình thức văn học. Bằng những nỗ lực của trường
phái hình thức Nga trong việc nghiên cứu chất liệu văn học, tính văn học, lý luận
văn học hiện đại thực sự quan tâm đến văn bản văn học. Từ đây, văn bản và sự
tạo nghĩa, ký hiệu và chức năng thẩm mỹ trở thành những đối tượng quan tâm
của lý luận văn học hiện đại. Đến Derrida, tư duy lý luận văn học hiện đại đã
được tiếp nối ở mức độ cao hơn. Qua công trình Văn phạm học, ông đã cho thấy
những vấn đề cần xem xét lại trong quan niệm ngôn ngữ học hiện đại và chủ
nghĩa cấu trúc. Ông cho rằng ý thức của tác giả không hề có ưu thế tuyệt đối
bên trên nghĩa của ngôn từ. Nhà văn chỉ phát hiện được nghĩa của ngôn từ qua
việc viết ra nó. Anh ta đối diện với cái biểu đạt của người đọc độc lập với mình.
Như vậy cái biểu đạt tự nó nói nhiều hơn sự sử dụng nào của tác giả, và những
cái biểu đạt vĩ đại hơn rất nhiều so với những cái được biểu đạt. Xuất phát từ
quan điểm này, Derrida đã xem tác phẩm văn học là không khép kín, nghĩa của
nó không tùy thuộc vào tác giả hay mối quan hệ với hiện thực. Việc đọc hết một
văn bản văn học cũng tạo nghĩa như là viết ra nó, thậm chí tất cả sự viết thực ra


cũng là đọc văn bản. Theo ông, ở nơi sâu lắng của ngôn ngữ có một trò chơi liên
tục di chuyển, trong khuôn khổ của sự di chuyển này, các ký hiệu được tạo
thành những hệ thống khác biệt, không ổn định; rồi laij có những khác biệt mới
xuất hiện, được tổ chức và sau đó tan rã. Các cấu trúc chỉ bề ngoài là có vẻ ổn
định, mọi cấu trúc, đằng sau vẻ tin cậy bề ngoài là sự bấp bênh, là giải cấu trúc.
Ông phê phán cái vương quốc ký hiệu và nghĩa của chủ nghĩa cấu trúc. Như vậy,
đến Derrida, ông đã nâng vấn đề đọc lên tầm triết học khi khẳng định “tác phẩm
văn học không phải là hình thức ngôn ngữ đặc trưng mà là hình thức đọc đặc
trưng.
Một vấn đề quan trọng của lý luận văn học là phải chỉ rõ phương thức tồn
tại của tác phẩm văn học. Trước khi đi vào tìm hiểu phương thức tồn tại của tác
phẩm văn học, chúng ta cần phải phân biệt văn bản và tác phẩm. Theo quan
niệm của Trương Đăng Dung:
+ Văn bản là sản phẩm cuối cùng của sự sáng tạo nghệ thuật khi nhà văn đã đặt
dấu chấm hết và nhà xuất bản in thành sách.
+ Văn bản là một hệ thống ký hiệu, nhưng chưa phải là tác phẩm mà chỉ là bước
đầu tiên không thể thiếu được để trở thành tác phẩm.
+ Văn bản tuy vậy không phải là một ssanr phẩm cố định, chết cứng, bởi vì nó
mở và có khả năng tạo nghĩa.
+ Tác phẩm là sự cụ thể hóa văn bản trong người đọc… văn bản chỉ trở thành tác
phẩm khi người đọc xuất hiện.
Nếu tư duy lý luận văn học tiền hiện đại chỉ nhấn mạnh đến quan hệ nhân quả,
đề cao yếu tố môi trường, tác giả… thì lý luận văn học hiện đại đã nhận ra những
yếu tố đặc thù của văn bản văn học và phương thức tồn tại của tác phẩm văn
học thông qua người đọc. Trước đây, người ta cứ nghĩ khi nhà văn viết ra một văn
bản văn học thì văn bản đó đã là tác phẩm văn học. Tuy nhiên nếu không có
người đọc văn bản văn học đó thì nó mãi mãi là một văn bản chết cứng. Hơn nữa
giá trị và số phận của tác phẩm văn học đó lại phụ thuộc nhiều vào sự tiếp nhận
của độc giả, đôi khi đi ra ngoài ý muốn chủ quan của tác giả. Vậy rõ ràng nếu
chưa có độc giả thì không thể gọi văn bản văn học là tác phẩm văn học. Đây
cũng chính là những phát hiện của nhiều nhà khoa học đi từ mỹ học sáng tạo đến
mỹ học tiếp nhận. R. Ingarden đã nhìn nhận tác phẩm văn học như là khách thể
mang tính chủ ý, vì vậy đời sống của tác phẩm văn học cũng phụ thuộc vào
những hoạt động cụ thể hóa (đọc) văn bản có chủ ý của người đọc hướng tới nó.
Qua công trình Tác phẩm văn học (1930), ông đã chỉ ra phương thức tồn tại của
tác phẩm văn học là hoạt động chủ quan của bạn đọc hướng đến tác phẩm văn
học. Tác phẩm chỉ là bộ khung xương còn người đọc là người bù đắp da thịt cho
tác phẩm, vì đọc là sự cụ thể hóa văn bản, tác phẩm tạo điều kiện cho người đọc
được tham gia vào quá trình tái tạo tác phẩm. Vì vậy ông cho rằng tác phẩm văn
học là vật hai lần ý thức, lần ý thức thứ nhất là của tác giả, lần ý thức thứ hai là
của độc giả. Trong công trình Lịch sử vawnn học như là sự khiêu khích đối với
khoa học văn học (1967), H.R. Rauss cũng khẳng định lịch sử văn học không đơn
giản là số cộng các tác phẩm văn học mà còn là lịch sử tiếp nhận các tác phẩm
văn học. Tác phẩm văn học là một cấu trúc vẫy gọi người đọc, và tác phẩm văn
học như thế nào là nhờ vào tầm đón đợi (tri thức, hiểu biết, vốn sống) của người


đọc. Đối với W. Iser, ông còn đề ra có một dạng người đọc tiềm ẩn, luôn dẫn dắt,
định hướng cho người đọc cách đọc. Từ đó mà ta tiếp cận đươc thông điệp tác giả
muốn gửi gắm. U. Eco, qua công trình Tác phẩm mở, đã chỉ ra phẩm chất quan
trọng của văn học là tính chất mở của văn bản. Nhờ tính chất mở của ngôn ngữ
mà ta có thể thâm nhập vào văn bản mặc dù có khoảng cách của thời gian. Tiếp
nhận văn chương phụ thuộc vào sự thay đổi chuẩn thẩm mỹ. Trong tiếp nhận,
yếu tố then chốt là sự thỏa thuận giữa người đọc với tác giả thông qua văn bản.
Thông điệp của nhà văn gần với ta bao nhiêu thì tác phẩm hay trong mắt ta bấy
nhiêu. Tuy nhiên, khi tiếp nhận, trong thị hiếu, chuẩn thẩm mỹ của chúng ta chịu
sự chi phối của cộng đồng diễn giải. Theo Trương Đăng Dung, mỗi một lần đọc
văn bản là một lần người đọc lại “vấp ngã”. Tính đa nghĩa và độ mở của văn bản
khiến cho những cách lý giải về nó đều có cơ hội tồn tại, và trên thực tế không
thể có kết luận cuối cùng về giá trị tác phẩm. Đây là cái nhìn thể hiện cảm quan
hậu hiện đại khi nói về đời sống tác phẩm trong tương quan với chủ thể tiếp
nhận. Nêu lên phương thức tồn tại của tác phẩm văn học, Trương Đăng Dung đề
cập đến hai vấn đề: một là tính chất ngôn ngữ, cái quyết định đặc trưng văn học
của văn bản; hai là khả năng tạo lập một đời sống cụ thể của văn bản văn học
thông qua người đọc. Đây là những đóng góp đáng quý của ông vào ý thức đổi
mới và hiện đại nền lý luận văn học nước nhà. Như vậy không có một tác phẩm
duy nhất trong bạn đọc. Người đọc ngây thơ luôn luôn đối chiếu, so sánh cái hiện
thực khách quan với cái hiện thực có trong tác phẩm để thẩm định điều họ quan
niệm đúng hay sai. Bởi vậy, nhà phê bình, một thứ siêu độc giả, không cung cấp
cho người đọc cái nghĩa đúng sai của tác phẩm, mà cung cấp cho họ một cái nhìn
riêng, độc đáo, mới mẻ của mình. Kiểu phê bình sự thật đã dần nhường chỗ cho
kiểu phê bình giá trị trong thưởng lãm nghệ thuật… có người nói không ngoa
rằng lịch sử văn học là lịch sử của những cách đọc. Tiêu chí để đánh giá một tác
phẩm nghệ thuật không phụ thuộc vào sự so sánh, đối chiếu tác phẩm với hiện
thực khách quan để xem hiện thực phản ánh đã “ngang tầm” với hiện thực bên
ngoài chưa, mà chủ yếu là tác phẩm có giúp ta nhận thức về hiện thực, có tạo ra
được tư tưởng gì mới mẻ để ta cải tạo hiện thực hay không. Có thể khẳng định
rằng, tác phẩm văn học chỉ thực sự tồn tại với đầy đủ ba yếu tố: tác giả, tác
phẩm và người tiếp nhận.
Như vậy, khoa học văn chương trong hai thế kỷ gần đây, đã có ba phát
hiện quan trọng: thế kỷ XIX phát hiện ra tác giả, nửa đầu XX – tác phẩm và nửa
cuối – độc giả. Sự phát hiện này dựa trên sự phát triển của tư duy triết học đi từ
triết học tự nhiên đến triết học nhân sinh, cùng với sự phát hiện về bản chất của
ngôn ngữ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1. Trương
xã hội, Hà
2. Trương
xã hội, Hà

Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học , Nxb Khoa học
Nội.
Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình , Nxb Khoa học
Nội.


3. Trương Đăng Dung (2004), “Trên đường đến với tư duy lý luận văn học hiện
đại”, Tạp chí Nghiên cứu văn học , (12).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×