Tải bản đầy đủ

MÙA THU QUA THI CA VIỆT NAM

MÙA THU QUA THI CA VIỆT NAM
_________________________________
Dương Viết Điền
.
Ai đã từng đọc bài thơ nỗi tiếng " Chansons D'automne " của thi- sĩ lừng danh Pháp-quốc Paul
Verlaine đều cảm thấy lòng mình bồi-hồi và xúc-động . Không xúc-động sao đựơc khi nhà thơ
đa-tình này đã rung cảm hồn mình thành những dòng thơ bất-hủ sau đây để nức-nở về tình thu
bên bờ sông Seine tuyệt đẹp năm nào:
" Les sanglots longs
Des violons
De l'automne
Blessent mon coeur
D'une langueur monotone
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l'heures
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure
Et je m'en vais
Au vent mauvais

Qui m'emporte
Decà delà
Pareil à la
Feuille morte "
" Tiếng đàn ai đó lê-thê
Vĩ- cầm réo-rắt ê-chề lòng đau
Bơ-vơ chuông đổ đồng-hồ
Lòng như héo-hắt thu tàn năm xưa
Bao kỷ-niệm, theo gió đưa
Cuốn theo lệ đổ chưa vừa xót-xa
Bao năm lữ thứ xa nhà
Giang-hồ phiêu-bạt lá vàng tả-tơi.. "
(Lãng-Du )
Thật vậy, mùa thu là mùa của tình yêu, mùa của lá vàng rơi rụng. Mùa thu là mùa của những cặp
tình nhân dìu nhau đi dưới nắng thu để thưởng thức bầu không khí mát mẻ trong lành,rồi trao
cho nhau những nụ hôn nồng cháy để rồi cùng nhau nhìn lá vàng rơi, rơi mãi tận cuối chân trời.


Mùa thu là mùa các thi-nhân đi tìm những vần thơ để sáng-tác thành những tuyệt-phẩm bất-hủ
nghìn năm.
Ai đã từng đi qua phố vắng dưới ánh nắng chiều thu khi lá vàng bay bay khắp trời rồi lác-đác rơi
qua mái đầu và rớt xuống đất, mới cảm thấy được cái đẹp tuyệt vời của mùa thu,mới rung cảm
theo nhịp của lá vàng đang rơi,rung cảm theo những tia nắng thu dịu hiền vươn mãi đến tận chân
trời xa thăm-thẳm. Nói đến mùa thu là nói đến mùa của lá vàng baybay, mùa của lá vàng rơi rơi,
mùa của lá vàng khô rụng khắp mọi nẽo đường. " Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về
". Ta hãy nghe các thi-nhân Việt-nam nói về lá vàng rơi mỗi độ thu về qua những dòng thơ trữ
tình sau đây.
Hình ảnh nỗi bật nhất về lá rụng giữa mùa thu là hình ảnh trong hai câu thơ sau đây của thi-sĩ
Tản- Ðà :
" Trận gió thu-phong rụng lá vàng
Lá bay hàng xóm lá bay sang "
Nhưng hình ảnh trữ tình và lãng-mạng nhất là hình ảnh con nai vàng ngơ-ngác giưã rừng thu qua
bài " Tiếng Thu " của Lưu Trọng Lư với những câu thơ năm chữ nghe thật êm-đềm như khúc
nhạc tình thu trong rừng vắng :
" Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào-xạc
Con nai vàng ngơ-ngác
Ðạp trên lá vàng khô "
Không phải chỉ có Tản Ðà hay Lưu Trọng Lư mơí nói đến lá vàng khi mùa thu tới; hầu hết các
thi- nhân Việt-nam đều ca ngợi cái đẹp của mùa thu bằng cách diễn tả hình ảnh của lá vàng rơi


giữa trời thu. Sau đây là những dòng thơ diễn tả về lá vàng mùa thu của một số thi- nhân Việtnam :
" Sắc trời trôi nhạt dưới khe
Chim đi, lá rụng, cành nghe lạnh-lùng "
(Huy-Cận)
" Rặng liễu đìu-hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Ðây mùa thu tới mùa thu tới
Với aó mơ phai dệt lá vàng "
(Xuân-Diệu )
" Ao thu lạnh-lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo-teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo "
(Nguyễn Khuyến)


" Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng "
(Chế lan Viên)
" Chẳng được như hoa vướng gót nàng
Cõi lòng man-mác giá như sương!
Ta về nhặt lấy hoa thu rụng
Ðặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương "
(Thái Can)
" Gió vàng hiu-hắt cảnh tiêu-sơ
Lẻ-tẻ bên trời bóng nhạn thưa
Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm
Rừng phong lá rụng tiếng như mưa "
(Ngô chi Lan)
" Ðêm thu khắc lậu canh tàn
Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm sương "
(Nguyên-Du)
Ngoài lá vàng rơi là biểu-tượng của mùa thu, ta còn phải đề cập đến ánh trăng thu huyền-ảo.Nói
đến mùa thu mà không đề-cập đến ánh trăng thu mờ-ảo sau áng mây trời giữa đêm khuya thanhvắng làmột sự thiếu sót lớn lao đối với mùa thu .
Không phải đêm thu nào ánh trăng cũng vằng-vặc giữa trời trong khi lá vàng rơi nhè nhẹ giữa
đêm khuya cô-tịch mà trái lại, có những đêm thu trăng buồn ảo-nảo gió heo may thổi về làm cho
lòng người cảm thấy u-buồn man-mác trước cái lạnh không làm tê-buốt con tim như mùa đông,
nhưng lắm lúc làm cho hồn ta bâng-khuâng giá rét, làm cho hồn ta nhung- nhớ lạnh-lùng.
Nếu thi-sĩ Thượng Quan- Nghi đời Ðường bên Trung-Quốc đã diễn-tả cái đẹp của ánh trăng thu
qua hai câu thơ:
"
Thước
Thuyền táo đã phong thu "
"
Sườn
Ðồng
thu
(Chi-Ðiền dịch)

phi
non

gió

lộng

sơn
trăng
,ve

nguyệt
sáng
say

thự

chim
nhạc

sầu

bay
"

Thì tại Việt-Nam, rất nhiều nhà thơ đã tốn không biết bao nhiêu mực và giấy để diễn-tả chị Hằng
giữa đêm thu huyền-diệu. Thật vậy nếu bài " Tiếng thu " của Lưu trọng Lư không đề cập đến ánh
trăng mờ thì tòan bài thơ mất đi rất nhiều ý-nghĩa về mùa thu :
"
Em
Dưới trăng mờ thổn-thức "

không

nghe

mùa

thu


Riêng nhà thơ Xuân-Diệu đã nhân-cách hóa ánh trăng thu khiến những dòng thơ trở thành bất tử:
"
Thỉnh-thỏang
nàng
Non
xa
khởi
sự
Ðã
nghe
rét
mướt
Ðã vắng người sang những chuyến đò "

trăng
nhạt
luồn

tự

ngẩn-ngơ
mờ
gió

sương
trong

Tuy-nhiên nói đến trăng nhất là ánh trăng thu mà không nói đến thi-sĩ Hàn Mặc Tử là một sự
thiếu sót vô cùng trọng đại.
Ta hãy nghe Hàn Măïc Tử nói về trăng thu qua những câu thơ bảy chữ với lối nhân-cách hóa làm
cho ta có cảm tưởng như người đẹp Hằng -Nga đang rón-rén dời gót ngọc vào nhà ai giữa đêm
thu trăng sáng :
"
Bóng
nguyệt
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn "

leo

song

sờ-sẫm

gối

hay là :
"
Ô
kìa
bóng
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe "

nguyệt

trần

truồng

tắm

Ngoài Lưu trọng Lư, Hàn mặc Tử, Xuân-Diệu ra , ta cũng thấy rất nhiều nhà thơ nói về ánh trăng
thu. Sau đây là một số bài thơ của một vài thi-nhân đãu ca-tụng ánh trăng thu qua những dòng
thơ đủ các thể loại :
"
Lòng
Trăng
thu
Lòng
Ða-đoan

(Nguyễn-Bính)

anh
trong
em
ngựa

"
Nước
Song
thưa
( Nguyễn -Khuyến)

biếc
để

"
Ðêm
Trần
thế
( Tản-Ðà)

thu

giếng
vắt,

biển
như
chung-tình

trông
mặc
buồn

em

như
bóng
lắm

nay

ngọt
chiều
bụi
bánh

xe

tầng
trăng
chị

Hằng
nữa

chán

"
Mặt
trăng
tỏ
thường
Bừng
mắt
trông
sương
Lạnh-lùng
thay,
bấy
Gió
may
hiu-hắt
trên
đầu
Ðặng trần Côn (Ðoàn thị Ðiểm địch)

trong
trong

soi
gội
chiều
tường

veo
xanh
kinh-thành
.
"

khói
vào
ơi
rồi
bên
cành
vôi

phủ
"
!
"
gối,
ngô
thu,
"


"
Vi
Một
trời
thu
Dặm
khuya
Thấy
trăng

Rừng
thu
Nghe
chim
như
( Nguyễn-Du )
"Ðêm
Nửa
vành
( Nguyễn- Du)
"
Hoa
Nguyệt
( Ôn như Hầu )

thu
trăng
xuân
thu


để
ngất
thẹn
từng
nhắc
gió
khuyết
nọ
kia,chưa

san-sát
heo
riêng
ai
một
tạnh

những
lời
non
biếc
chen
tấm
lòng
thần
-hôn
lọt
,ba

sông
giữa

sao

,còn

phong


trời

nộn
hàn-quang

may
người
khơi
sông
hồng
!"
đào
"
nhị,
"

Nếu mùa thu có lá vàng rơi rụng, có trăng thu huyền ảo thì cũng có nắng thu nhẹ lướt trên đồi.
Nắng mùa thu không gay-gắt rực lửa như mùa hạtrái lại rất mát diụ trong lành, nhất là những lúc
trời xanh mây trắng nắng hồng. Ði dươiù nắng thu người ta thấy tâm-hồn rất thoải mái lânglâng ,nhất là những lúc trờiø chiều nhạt nắng có lá vàng bay bay rồi rụng khắp phố -phường.
Nhiều cặp tình nhân thích đi dưới nắng thu để thưởng thức cái vẻ đẹp của mùa thu, nhặt những lá
vàng rơi rồi nhìn những hàng cây khẳng-khiu chỉ còn những cành trụi lá dọc hai bên đại-lộ lúc
chiều tà.
Ai cũng biết rằng các thi- nhân khi nói về mùa thu thường không quên đề-cập đến nắng thu. Nhà
thơ Chế lan Viên đã làm cho ta ngạc-nhiên khi viết mấy câu thơ liên-quan đến nắng thu như sau:
"Chao
ôi!
thu
Thu
trước
vừa
Mới
độ
nào
Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao ."

đã

tới
qua
đây

rồi
mới
hoa

sao
độ
rạn

?
nào
vỡ

Nhưng ngạc-nhiên hơn nữa là hai câu thơ đầy nhạc tính của nhà thơ Bích-Khê sau đây làm cho ta
cảm thấy thích thú khi đọc lên vì nghe như một giai-điệu tuyệt vời :
"
Ô
hay
buồn
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh-mông ."

vương

cây

ngô

đồng

Dĩ-nhiên, mỗi nhà thơ diễn-tả vẻ nắng thu một cách khác nhau, nhưng hầu hết đều ca-ngợi nắng
thu như là hình ảnh tuyệt đẹp giữa gió chiều.
Nhà thơ Xuân-Diệu cũng nói về nắng thu với hai câu thơ thất-ngôn đầy lưu luyến trữ-tình :
"
Nõn-nà
sương
Nắng nhỏ bâng-khuâng chiều lỡ thi. "

ngọc

quanh

thềm

dâu

.


Nhưng nếu ai đã đọc mấy câu thơ sau đây của nhà thơ Trúc-Ly đều cảm thấy hồn mình xaoxuyến bâng -khuâng :
"Tôi
đứng
bên
Thương
về
con
Những
người
con
Ai
biết
chiều
Tôi
muốn
hôn
Mùa thu tha-thiết nắng hoe thềm. "

nầy
nước
gái
nay
bằng

bờ
ngại-ngùng
bên

môi

dĩ-vãng
xuôi
ấy
tôi
em

kia
nhớ
của

Ngòai ra ta còn thấy rất nhiều nhà thơ khác cũng đã nói về nắng thu với những dòng thơ thật đẹp
và thật buồn :
"Chiều
nay
nắng
Hơi
lạnh
tàn
Sương
xuống
chiều
Thê-lương thêm bận khúc ly-hòai ."

nhạt
thu
đi

luyến
giục
lòng

chân

vắng

đồi
rơi
vẻ

êm
trâu
dân
mái

ái
về
quê
"

hay là :
"
Hát
bài
hát
ngô-nghê
Bên
sườn
non
mục-tử
Nắng
chiều
rây
vàng
bột
Lúa
chín
đỏ
theo
gió
nồm
Nam-Trân Nguyễn học Sỹ


cưỡi
xuống
sắp

.

Nếu những hình ảnh đẹp của mùa thu là lá vàng rơi,là ánh trăng thu giữa đêm khuya thanh-vắng,
và nắng chiều thu trong buổi hòang-hôn, thì hình ảnh buồn nhất của mùa thu là mưa thu. Chính
những giọt mưa thu đã làm cho lòng người lạnh-lẽo,u-buồn, làm cho lòng người hoang vắng sầu
thương, bơ-vơ giữa thế-giới mưa rơi buồn-bã.
Trước cảnh mưa thu ảm-đạm ở ngòai bệnh-viện, nhạc-sĩ tài ba Ðặng thế Phong đã xúc-động rồi
sáng tác ngay bản nhạc " Giọt mưa thu. " trước khi vĩnh-biệt trần-gian để lại cho đời những giọt
lệ thu sầu thương nức-nở, những giọt lệ tình ai-oán lâm-ly : " Ngòai hiên giọt mưa thu thánh-thót
rơi. Trời lắng u-buồn mây hắt-hiu ngừng trôi.Nghe gió thỏang mơ-hồ trong mưa thu ai khóc ai
than hờ "
Bởi vậy nói đến mưa thu là nói đến một trong những cảnh vật buồn-bã nhất của trần thế. Ðọc
mấy câu thơ sau đây của Bà Huyện Thanh Quan, ta thấy cảnh mưa thu thật là tiêu-điều buồn-bã:
"
Thánh-thót
tàu
Khen
ai
khéo
Xanh
um
cổ-thụ
Trắng xóa tràng -giang phẳng-lặng tờ. "

tiêu

mấy
vẽ

hạt
cảnh

tròn

xoe

Hay hai câu thơ sau đây của nhà thơ Xuân-Diệu cũng cho ta thấy cảnh lặng lẽ u-buồn :

mưa
tiêu-sơ
tán


"
Gió
thầm,
Mới tạnh mưa trưa chiều đã tà. "

mây

lặng

,

dáng

thu

xa

Tuy-nhiên nếu trăng thu,nắng thu, mưa thu ,là những đề tài bất-hủ cho các văn thi-sĩ,nhạc-sĩ lấy
đó để sáng-tác thì sương thu là một đề tài không kém quan-trọng để các thi-nhân dệt thành thơ.
Vào những lúc trời sáng tinh-sương, ai đã từng ra sau vườn,đều trông thấy nhưnõg giọt sương
đọng trên cành cây,ngọn cỏ giống như những hạt kim-cương lóng lánh đẹp tuyệt vời. Cho đến
ngày hôm nay,rất nhiều người Việt-nam đã thuộc lòng đọan văn của nhà văn Thanh-Tịnh tả về
cảnh sương thu : " Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu-yếm
nắm tay tôi,dẫn tôi đi trên con đường làng dài và hẹp." Một nhà thơ nỗi tiếng như sóng cồn một
thời vang bóng đã ca-ngợi sương thu qua bài thơ " Sương rơi. " Ðó là thi-sĩ Nguyễn-Vỹ với bài
thơ hai chữ đã để lại cho đời một tác-phẩm bất-hủ về sương thu.:
"
Sương
rơi
Nặng
trĩu
Sương
Trên
cành
Dương-liễu Trong lòng Gió mưa

Rồi

hạt
trong

Tan-tác

Nhưng
hơi
Từng
Gió
bấc
Em
Lạnh-lùng Từng giọt Từng giọt
Hiu-hắt
Thấm
vào
Em
ơi
Trong lòng Trên nấm Lá rơi,
Hạt
sương
Mồ
Thành
Vết thương !.. Nguyễn-Vỹ.

Rơi
Cành
Liễu

Tả-tơi
ơi

sương
dương
ngã
Tơi-tả
giọt
Thánh-thót

!

Thánh-thót
Từng

giọt
Ðiêu-tàn

hoang

!..

Tơi-bời
rơi,
rơi;

Mưa
Gió

Em

ơi

!

..

"
một

Như đã được trình bày ở trên,mùa thu là mùa có lá vàng rơi lác-đác,có trăng thu mờ aỏ giữa đêm
buồn,có những giọt mưa rơi thánh-thót thật lâm-ly. Ðã thế, nhiều lúc ánh nắng chiều thu làm cho
người lữ-hành thêm cô-độc bâng-khuâng,luôn luôn cảm thấy như xa vắng lạc-lòai, như biệt-ly
hiu-quạnh.Vì thế mà nhiều người đã cho rằng ,
mùa thu là mùa của biệt-ly,của xa cách nên tình thu thường nức-nở nghẹn-ngào. Mùa thu là mùa
nhớ nhung từ đó và cũng là nhung-nhớ từ đây. Thế nên nói đến mùa thu là nói đến biệt-ly nhungnhớ,là nói đến ngăn-cách xa nhau,là nói đến chia-ly buồn-bã và lắm lúc nói đến vĩnh-biệt ngàn
đời để rồi " nghìn-trùng xa cách người đã đi rồi, còn gì đâu nữa mà khóc với cười ."
Sau đây, ta hãy nghe các thi-nhân Việt-nam nói về sự biệt-ly,sự nhung-nhớ cũng như những nỗi
u-buồn giữa mùa thu :


"
Mây
vẫn
Khí
trời
Ít
nhiều
Tựa
cưả
(Xuân-Diệu )

từng

không

chim
hận

u-uất,
thiếu-nữ
nhìn

buồn
xa

bay

đi
chia-ly
nói
"

không
nghĩ-ngợi



Hay những dòng thơ lục-bát đầy vẻ âm-u,tiêu-điều của Huy-Cận;
"
Non
xanh
Nhân-gian e cũng tiêu-điều dưới kia . "

ngây

cả

buồn

chiều

Hoặc những câu thơ đầy nhung-nhớ quằn-quại giữa mùa thu:
"
Chao
Một
cánh
(Chế lan Viên)

ôi!

mong
chim

nhớ
thu

!

ôi
lạc

mong
cuối

nhớ
ngàn."

Hay hình ảnh xa vắng biệt-ly của người chinh-phu trong lòng người cô-phụ :
"Em
Hình
Trong
(Lưu trọng Lư)

không
ảnh

nghe
kẻ

lòng

người

cô-phụ.

rạo-rực
chinh-phu
"

Hoặc là những câu thơ đầy nỗi nhớ-thương của thi-nhân :
"
Chẳng
Cõi
lòng
Ta
về
Ðặng
giữ
(Thái-Can)

được

như

mannhặt
bên

hoa
mác
lấy
lòng

vướng
giá
hoa
nỗi

nhớ

gót
nàng
,
như
sương!
thu
rụng
thương
"

Nhưng sự biệt-ly đớn đau nhất hay nỗi nhớ-nhung quằn-quại triền-miên cũng như sự khổ đau cay
đắng suốt đời mà ta có thể thấy được là những dòng thơ nức-nở lệ nhòa
của nữ thi- sĩ T.T.KH, một nhà thơ đã sáng tác nên những bài thơ bất-hủ ngàn năm và đã trở
thành huyền thọai trong thi-ca Việt-nam. Ta hãy nghe nhà thơ T.T.KH nức-nở những điệp-khúc
tình thu sau đây :
"
Anh
ạ,
Một
mùa
Ba
năm
Em đã câm lời có còn đâu !."
hay là :

tháng
thu


ngày

biết

xa
một
anh

quá

nhỉ
lòng
còn

?
đau
nhớ


"Tôi
vẫn
đi
Ái-ân
lạt-lẽo

từng
thu
Vẫn giấu trong tim một bóng người ."

bên
của
chết

cạnh

cuộc

đời
tôi
chết

chồng
từng

thu

Tóm lại qua thi-ca Việt-nam, ta thấy hầu hết các thi- nhân nước Việt đều nói đến mùa thu, ca
ngợi mùa thu vì mùa thu có những đêm trăng mờ ảo, có những lá vàng rơi tuyệt đẹp, có những
giọt mưa thu thánh thót rơi thật lâm-ly,bi-thảm vv.. Và cũng vì mùa thu là mùa của ngăn-cách
,của ly-biệt,là mùa của nức-nở nghẹn-ngào nên các thi-nhân Việt-nam không ai mà không xúcđộng khi thấy mùa thu đến. Vì vậy ,qua thi-ca Việt-nam,ta thấy nhiều nhà thơ đã để lại cho đời
những bài thơ trữ-tình bất-hủ về mùa thu.
Dương
[nguồn : Xứ Quảng.com]

Viết

Điền

.

.
.
MÙA HÈ QUA THI CA VIỆT NAM
_________________________________
Dương Viết Điền
.
“Ai
Cái

xui
nóng

con
nung

cuốc
người

gọi
nóng

mùa
nóng


ghê


Ngõ
trước
vườn
Vàng
phai
thắm
Đầu
cành
kiếm
Trong
tối
đua
Mong
được
nồm
Đàn ta, ta gãy khúc Nam nghe.”

sau
nhạt
bạn

um
ngán
oanh
bay

nam

những
cho
xaođóm

cơn

gió

cỏ
huê
xác
lập-loè
thổi

Đọc bài thơ trên, chắc ai cũng nghĩ rằng thi-sĩ Nguyễn-Khuyến đã tả cảnh mùa hè thật độc-đáo.
Chỉ có tám câu thôi nhưng khi đọc lên, ta có cảm tưởng như cái nóng của mùa hè đang hiện ra
trước mắt. Nóng như nung người, nóng ghê-gớm. Đã thế trời lại đứng gió. Không một ngọn gió
dù rất nhẹ khiến mọi người đều mơ-ước một ngọn gió nồm thổi qua, đem sự mát-mẻ đến cho
xóm làng lúc trời vừa vào hạ.
Thật vậy, nói đến mùa hè là nói đến mùa nóng nhất trong bốn mùa. Vẫn biết rằng mỗi lần hè về,
hoa phượng đỏ nở đầy khắp đại-lộ trong thành –phố làm cho cảnh phố-phường trở nêm đẹp-đẻ
và nên-thơ. Nhưng cho dù cảnh có đẹp bao nhiêu chăng nữa, với những cành hoa phượng màu
máu rơi khắp phố-phường, cái nóng gay-gắt của mùa hè vẫn làm cho con người lắm lúc thờ-ơ
với cảnh đẹp thiên-nhiên ấy. Trước cơn nóng oi-bức của mùa hạ, ai nấy cũng đều cảm thấy nóng
nảy bực-bội mỗi khi nhìn trời nắng chang-chang Ấy thế mà vẫn có môt số người thích mùa hè,
đó là học-trò. Sau những tháng ngày cặm-cụi đèn sách miệt-mài ở ghế nhà trường, giờ đây là lúc
nghỉ hè giả-từ thầy cô để về quê vui đùa thoả-thích. Đoàn trai non tha-hồ thả diều, tắm sông suốt
90 ngày ở quê nhà yêu-dấu :


Sung-sướng
quá
giờ
cuối
cùng
Đoàn
trai
non
hớn-hở
rủ
Chín
mươi
ngày
nhảy
nhót

Ôi
tất
cả
mùa
xuân
trong
Xuân-Tâm

đã
nhau
miền
mùa

hết
về
quê
hạ.”

Dĩ-nhiên đám học-trò thích là được nghỉ ba tháng trời chứ thực ra chẳng thích gì mùa hè cả. Vì
ai cũng biết rằng mùa hè là mùa nóng nực thường xuyên. Nhất là ban ngày, đi đâu cũng thấy
nóng nảy. Mồ hôi thường đổ ra như tắm. Nhất là trưa hè oi-bức, lại gặp lúc trời đứng gió. Trời
nóng nực đến nỗi trên đường đi, ta thấy nhiều người phải núp dưới bóng cây để tránh nắng.
Trước cái nắng như thiêu như đốt của mùa hè ở xứ Huế, nhà thơ Nam-Trân đã diễn tả lại một
cách rõ-ràng qua bài thơ “Huế, ngày hè” :
“Lửa
Làn
Tiếng
Đánh
Đường
Bụi
Xơ-xác
Ra
Phe-phẩy
Chú

hạ

bừng-bừng

ma
ve
đổ

cây
quán
vào
chiếc
nài

trốt

giấc
ít

người
lắm
nước
người
quatï
ngồi

cháy
bay
mãi
ngày

trốt

ngủ
đi
kẻ
chè
tấp-nập
tre
đầu

núp

voi


Thỉnh-thoảng
Năm
ba
Huê
phượng
Dỏ
xuống
Mặt
trời
Nhuộm đỏ góc sông Hương .”

giơ
chùm

tay
nhãn
như
phủ
gay

bẻ
còi
giọt
lề
gay

huyết
đường
đỏ

Chính vì đi đâu cũng nắng ,đứng đâu cũng nóng nên tất cả mọi sinh vật trên trái đất đều tìm nơi
bóng
mát
để
tạm
“dung-thân”
qua
mấy
tháng
trời
mùa
hạ.
Chính vì trời nắng như thiêu như đốt khiến nhiều lúc ta cảm thấy như nóng quá đến “ứa máu
thôi”. May nhờ bóng của cây dừa che chút nắng để khách qua đường lau mồ-hôi. Ta hãy nghe
nhà thơ Trần vấn Lệ diễn tả cái nắng của mùa hè quá nóng đến nỗi “nước mắt hình như đang bốc
hơi.” :
“Hôm

Bóng
Cho
Hôm
Nước
Tôi
Về

nay
rực
của
người

nóng
màu
cây

quá
xanh
dừa

nắng
ứa
che

vàng
tươi
máu
thôi
khuất
nắng
dừng
lại
thấm
mồ-hôi
………………………………………
nay
nóng
quá
,nắng
bừng
sôi
mắt
hình

đang
bốc
hơi
sẽ
trở
về
hay
bước
tới
đâu?
bước
tới?
cũng
buồn
thôi.”
Trần vấn Lệ

Và cũng vì trời quá nóng bức, đứng gió, nên đàn trâu ở đồng ruộng quê ta đã nhanh chân xuống
dầm dưới nước trong vũng bóng dưới gốc cây đa già, để tránh cái nắng rực lửa của mùa hè ở
miền thôn-dã. Ta hãy nghe đọan thơ sau đây của thi-sĩ Bàng bá Lân diễn tả cảnh đàn trâu đầm
mình dưới nước thật nên thơ:
“Dưới
gốc
đa
già
Nằm
mát
đàn
Ve-ve
rung
cánh
Gà gáy rong thôn những tiếng dài.”

trong
trâu
ruồi

vũng
ngẫm-nghĩ
say

bóng
nhai
nắng

Và cũng những vần thơ nói về khí trời oi- ả của mùa hè, ta thấy nhiều thi- nhân mỗi người diễn
tả một cách khác nhau qua những dòng thơ lục bát, thất-ngôn bát cú, ngũ-ngôn cổ-phong vv…Ta
hãy nghe bài thơ ngũ-ngôn “Mùa hạ” sau đây của thi-sĩ Nguyễn-Khuyến diễn-tả về sự nóng–nực
của mùa hè:
“Tháng
Tiết
Tiếng
Đàn
Nỗi
Cảnh



đầu
trời
dế
muỗi

ấy
nầy

mùa
thực
kêu
bay

biết
buồn

cùng
cả

hạ
oi-ả
thiết-tha
lả-tả
ai
dạ


Biếng
Gà đà sớm dục-dã.”

nhấp

năm

canh

chầy

Riêng nhà thơ Đông-Hồ, ông ta cũng nói về sự oi-bức của mùa hạ qua những dòng thơ bảy chữ
sau đây:
“Em
Buổi
Tựa
Nghe

nhớ

:
trưa

một

cửa
lớp
tiếng
rúc-rít
(Bốn cái hôn)

buổi
nặng-nề
học
đàn

trưa

mùa
trời
em

chim

hạ
oi-ả
rầu-rầu

sâu."

Như đã đề cập ở trên, mùa hè trời nắng chang-chang,nắng như thiêu hư đốt. Khí trời oi-bức
khiến cơn nóng mùa hạ như nung người. Mồ hôi nhiều lúc ra như tắm. Ấy thế mà trời lại đứng
gió nữa khiến cảnh vật càng ngày càng oi-ả, nóng bức. Không một ngọn gió nồm làm cho mọi
sinh vật như nghẹt thở, khắc–khoải. Thời-gian như ngừng lại.Trái đất hầu như nứt nẻ, khô cằn.
Mọi sinh vật trên trái đất đang ước mơ một cơn gió nồm bay về để làm cho cái nóng mùa hè dịu
bớt đi. Nhà thơ Bàng bá Lân diễn tả những ý-nghĩa trên qua mấy dòng thơ lục-bát sau :
“Trưa
Mái
Cổng
Dừng



bóng
lặng
nắng

cục-cục
tìm
mồi
bắt
làng
vài
chị
gái
non
chân
uể-oải
chờ
cơn
gió
nồm
(Cổng làng)

oi
con.
.”

hay là :
“Trời

cao
Đồng
cỏ
cào
Êâm-đềm
sóng
Nhạc ngưạ đường xa lắc tiếng đồng
Quán

Nghe
Đứng



vút
khô
lụa

không
cánh
trên

buông
lượt
trên

gió
hồng
lúa

nằm

lười
trong
sóng
nắng
hàng
thưa
khách
ngủ
thiu-thiu
mồ
hôi
chảy
đầm
như
tắm
lặng
trong
mây
một
cánh
diều.”
(Trưa hè)

Và nếu lúc trời đang nóng–nực như rực lửa,lại có một cơn gió nồm thổi về,mọi người đều cảm
thấy mát rượi vui tươi như bao năm trời nắng hạn, bây giờ lại gặp mưa rào khiến cây cối tốt tươi,
đua nhau đâm chồi nẩy lộc.Chỉ một ngọn gió nồm bay về lúc trời hè đang đứng gió, mọi người
đều cảm thấy mình như đang được hồi-sinh nhờ một luồng dưỡng khí của trời đất,mây nước. Vì
thế khi thấy cơn gió nồm xuất hiện, ai ai cũng bon-chen để tìm cách hóng mát, ngõ hầu làm dịu
bớt sự nóng-nực trong cơ-thể. Ta hãy nghe nhà thơ Nam-Trân diễn-tả cái nóng về đêm lúc cơn
gió nồm xuất hiện qua những dòng thơ ngũ-ngôn sau đây :


“Trời

nóng

Đèn,
Mặt
Nấp sau nhành phượng khô
Ba
Đứng
Ngọn
Aùo
(Huế, đêm hè)

băm
sao
trăng

nhịp
dày

cầu
người
gió
quần

bốn
khắp
vàng

độ
đế-đô
trỏn-trẻn

trường
hóng
Thuận-an
kêu

tiền
mát
lên
sột-sạt.”

Hoặc bốn câu thơ 8 chữ sau đây của thi-sĩ Anh-Thơ cũng cho ta thấy cảnh gió nồm xuất-hiện
giữa mùa hè nóng-nực :
“Trời
Gió
Hoa


trong
nồm
lựu
bướm

biếc
không
qua
mây
gợn
nam
lộng
thổi
cánh
diều
nở
đầy
một
vườn
đỏ
vàng
lơ-đảng
lướt
bay
qua
(Trưa hè)

trắng
xa
nắng
.”

Khi nói đến mùa hè, nếu chỉ đề-cập đến sự nóng–nực, đề-cập đến sự đứng gió, đến gió nồm mà
quên để ý đến mấy tiếng kêu của những con ve là một điều thiếu sót lớn-lao. Chính điểm này mà
nhiều nhà thơ đã không quên đưa tiếng ve sầu mùa hạ vào trong thơ, làm cho những dòng thơ
đượm đầy màu sắc u-buồn man-mác trước cảnh oi-bức của mùa hè.
Ta hãy nghe tiếng ve kêu sầu thảm khi mùa hè rực lửa đang về của nhà thơ Nam-Trân qua
những dòng thơ ngũ-ngôn sau:
“Lửa
Làn
Tiếng
Đánh
(Huế,ngày hè)

hạ
ma
ve
đổ

giấc

bừng-bừng
trốt-trốt
rè-rè
ngủ

cháy
bay
mãi
ngày.”

Hay bốn câu thơ sau đây của thi-sĩ Bàng bá Lân cũng thấy nói đến kiếp ve sầu :
“Dưới
gốc
đa
già
trong
vũng
Nằm
mát
đàn
trâu
ngẫm-nghĩ
Ve-ve
rung
cánh
ruồi
say
Gà gáy trong thôn những tiếng dài.”

bóng
nhai
nắng

Chính nhà văn Nguyễn văn Vĩnh trong bản dịch từ bài La Cigale et la fourmi của La Fontaine
cũng có đề cập đến con ve mùa hạ :
“Con

ve
Suốt

sầu

kêu
mùa

ve-ve



Đến
Nguồn cơn thật bối-rối .”

kỳ

gió

bấc

thổi

Và bốn câu thơ sau đây cũng đã nói đến con ve sầu luôn luôn kêu như ai-oán não-nùng mỗi khi
mùa hạ đến :
“Nhưng
Nghe
Kêu
Sương
(Hạ Ái-Khanh)

ve
buồn
lên
rơi

sầu
như
vài
mối

mùa
tiếng
tiếng
tình

hạ
tiêu
lạ
chiều.”

Tóm lại, không phải mùa hè là mùa nóng-nực nên người ta không làm thơ. Trái lại, mùa hè đã
làm cho các nhà thơ thấy oi-bức nên phải cầm bút viết nên đôi dòng để diễn-tả sự oi-bức nóngnực đó. Vì vậy mà qua thi-ca Việt-nam, ta thấy mùa hè xuất-hiện cũng khá nhiều nhà thơ. Họ đã
cố-gắng sáng-tác để lưu lại cho hậu-thế những tác-phẩm bất-hủ về sự nóng-nực của mùa hè .
DƯƠNG
[nguồn : Xứ Quảng.com]

VIẾT
.

ĐIỀN



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×