Tải bản đầy đủ

giáo trình giáo dục học hệ từ xa chương hô hấp

CHƯƠNG VII: HỆ HÔ HẤP (4 tiết)
1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA HỆ HÔ HẤP:
Con người có thể nhịn ăn khoảng 20 ngày đến 30 ngày, nhịn uống khoảng 3 ngày nhưng
không nhịn thở quá 3 phút. Từ thời xa xưa, con người đã coi nhịp thở là dấu hiệu nhận biết sự
sống.
Hô hấp được xem là quá trình trao đổi khí liên tục giữa cơ thể và môi trường xung quanh.
Cơ thể chỉ tồn tại và phát triển khi cung cấp đầy đủ nhu cầu khí O2 để sử dụng trong mọi hoạt
động sống, đồng thời luôn phải thải khí CO2 sinh ra trong quá trình trao đổi chất. Sự trao đổi
khí trong cơ thể được thực hiện nhờ cơ quan hô hấp .
2. CẤU TẠO CỦA HỆ HÔ HẤP :
Cơ quan hô hấp của người bao gồm 2 bộ phận là đường dẫn khí và bộ phận trao đổi khí.

2.1 Đường dẫn khí:
Là con đường dẫn khí từ môi trường bên ngoài vào phổi và từ phổi đi ra. Bao gồm có
khoang mũi, hầu, khí quản, phế quản.
a. Khoang mũi:
Mũi được ngăn ra thành 2 khoang bởi xương lá mía và mảnh thẳng của xương sàng. Mỗi
xoang mũi gồm 4 thành do các xương: Xương lá mía, xương sàng, xương hàm trên, xương
khẩu cái, 3 đôi xương xoăn và xương mũi tạo thành. Thành của xoang mũi có niêm mạc chứa
rất nhiều mao mạch, lông và tuyến nhầy làm cho không khí đi qua xoang mũi được sưởi ấm và
lọc sạch.


89


Trong khoang mũi có cơ quan cảm thụ khứu giác giúp cơ thể cảm nhận mùi khi hít vào.
Đồng thời mũi còn là cơ quan cộng hưỡng âm thanh.
Mũi còn thông với mắt nhờ 1 ống nhỏ để nước mắt tiết ra hàng ngày chảy xuống mũi và
làm ẩm không khí.
b . Thanh quản:
Thanh quản gồm có 4 sụn liên kết với nhau bởi các dây chằng và cơ đảm nhận chức năng dẫn
khí và phát âm.
- Sụn giáp: trông giống như quyển sách, gáy quay về phía trước. 2 tấm sụn hình tứ giác làm
thành 1 góc 120o
- Sụn nhẫn: mằm giới sụn giáp, vòng nhẫn nằm ngang, mặt nhẫn quay ra sau làm thành vòng
đáy của thanh quản.
-

-

Sụn phểu: có 2 chiếc giống như hình tháp mà đáy tỳ lên sụn nhẫn, phía trước sụn phểu có
mõm thanh âm để căng dây âm thanh, chính giữa có một khe thanh môn. khi nói, khe này
co hẹp lại vì căng các dây âm thanh. Khi hô hấp khe này lại rộng ra.
Sụn thanh thiệt: mềm, đàn hồi được nằm ngay sau cuống lưỡi. Sụn thanh thiệt có tác dụng
đậy miệng và thanh quản khi nuốt thức ăn. Thanh quản còn có các cơ và dây chằng liên kết
các sụn với nhau và liên kết thanh quản với các bộ phận xung quanh. Lớp niêm mạc miệng
của thanh quản rất nhạy cảm, dễ gây phản xạ ho để bắn vật lạ ra ngoài.

c. Khí quản: Là phần tiếp nối với thanh quản và nằm phía sau thực quản.
- Dài 10-14 cm, đường kính 12-14 mm
- Gồm 18-20 hình móng ngựa,1/4 sau là màng liên kết, có thể lõm vào khi nuốt .
- Mặt trong lót 1 lớp niêm mạc các tế bào có tiêm mao và các tế bào tuyến tiết dịch nhầy.
Các tiêm mao cử động đẩy niêm dịch và bủi ra ngoài để làm sạch phổi.
d. Phế quản:
Gồm 2 nhánh nối tiếp với khí quản, đường kính 9-10mm. Được cấu tạo từ các vòng sụn
tròn, gồm 2 nhánh trái phải, phế quản phải ngắn và đi ngang, phế quản trái dài hơn và đi chúc
xuống.
Phế quản phải chia thành 3 nhánh, còn phế quản trái chia thánh 2 nhánh. Khi đi vào các
thuỳ phổi lại chia thành cá tiểu phế quản rất nhỏ 0,1-0,2mm . Các phế quản tận có các thớ cơ
bao quanh. Cuối phế quản hình thành núm phổi (núm phổi có nhiều phế quản, động mạch, tĩnh
mạch và các dây thần kinh).


2.2 Bộ phận trao đổi khí: gồm 2 lá phổi
Phổi nằm trong lồng ngực, giữa 2 lá phổi là khoang trung thất chứa tim. Phổi chiếm 4/5 thể
tích lồng ngực, có hình nón. Nặng 1000g, phổi trái bé hơn phổi phải(10/11). Phổi phải chia làm
3 thuỳ, phổi trái chia làm 2 thuỳ. Các thuỳ phôỉ lại chia thành các tiểu thuỳ. Các thuỳ phổi
được bao bởi một lớp màng sơ, lớp màng này gồm 2 lá mỏng là lá thành và lá tạng, lá thành
dính sát vào lồng ngực và lá tạng dính vào mặt phổi, giữa 2 lá có chứa dịch để giảm ma sát.

90


Áp suất trong phổi luôn nhỏ hơn áp suất khí quyển
nên gọi là áp suất âm, làm cho
phổi có thể dễ dàng di chuyển theo sự thay đổi của lồng ngực, máu từ cá nơi về tim và máu
cũng dễ dàng lên phổi. Dung tích của phổi 2,5-4,5 lít khí
Phổi được cấu tạo bởi 700 phế nang , làm cho diện tích bề mặt của phổi tăng lên 150 cm2.
Cấu tạo của các phế nang có đường kính 0,1-0,3 mm. Gồm 1 lớp tế bào thượng bì dẹt, mỏng
(0,7m), đường kính mạch máu là 5 m có các mao mạch xen kẽ, dày đặc. Lượng máu chứa
trong mao mạch phổi khoảng 60-140 ml.
3. CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG HÔ HẤP
Các cử động hô hấp bao gồm động tác hít vào và động tác thở ra. Trong đó, hít vào được
coi là quá trình tích cực chủ động, còn thở ra là quá trình thụ động
3.1 Cử động hô hấp:
Việc trao đổi khí được thực hiện qua bề mặt tiếp xúc của phế nang và mao mạch, chủ yếu
bằng cơ chế khuyếch tán, nên muốn cho sự trao đổi khí liên tục thì máu và không khí trong
phổi phải thường xuyên được đổi mới, việc đổi mới của máu được thực hiện qua vòng tuân
hoàn nhỏ. Còn việc đổi mới không khi được thực hiện qua động tác thở nhờ sự cử động của cơ
hô hấp với sự luân phiên nhịp nhàng giữa động tác hít vào và thở ra.
3.1.1. Động tác hít vào:
a. Hít vào thông thường: Là động tác tích cực được thực hiện do cơ hô hấp co lại, làm tăng
thể tích lồng ngực theo cả 3 chiều: trên-dưới, trước-sau và chiều ngang. Động tác này được
thực hiện nhờ sự co của các cơ liên sườn ngoài và cơ hoành, làm cho áp lực trong phổi bị
giảm, tạo điều kiện mở rộng 2 lá phổi. Khi đó khí trời sẽ tràn vào trong phế nang qua đường
dẫn khí.
b. Hít vào cố gắng (hít vào sâu): Nếu ta cố gắng thì cơ đòn chũm nâng xương ức, cơ ngực
bé, cơ ngực lớn…làm lồng ngực giãn rộng , áp lực không khí trong phổi hạ thấp, không khí
vào phổi nhiều hơn.
3.1.2 Động tác thở ra:
a. Thở ra thông thường: là một động tác thụ động không đòi hỏi có sự co cơ. Các cơ hít
vao thôi không co nữa, lông ngực trở về vị trí cũ dưới tác dụng của lực đàn hồi ngực phổi và
sức chống đối của cá tạng bụng, các xương sườn hạ xuống, cơ hoành lồi lên lồng ngực làm
giảm thể tích và dung tích lồng ngực. áp suất trong xoang bao phổi và trong xoang bụng tăng
lên. Điều đó , đảm bảo cho khí trong các phế nang và các đường dẫn khí bị ép ra ngoài.
b.Thở ra cố gắng (thở ra tận lực): Khi cố gắng thở ra hết sức, cần huy động thêm một số
cơ (chủ yếu là cơ bụng và các cơ liên sườn trong). Khi các cơ naỳ co, kéo các xương sườn hạ
thấp xuống, đồng thời các tạng bụng bị ép thêm làm cơ hoành lồi lên phía lồng ngực. Thở ta cố
gắng cần có năng lượng co cơ nên nó là động tác tích cực. Khi thở ra cố gắng, không khí dồn
ra ngoài nhiều hơn.

91


3.2 Nhịp thở và các phương thức hô hấp:
3.2.1. Nhịp thở: là mỗi lần thở ra và hít vào
Nhịp thở thay đổi theo trạng thái sinh lý và trạng thái hoạt động. Nhịp thở người Việt
Nam : Nam 16 ± 3 , nữ 17± 3
3.2.2. Phương thức hô hấp:
a. Hô hấp ngực: Phương thức này là chủ yếu do các cơ thuộc lồng ngực hoạt động như cơ liên
sườn trong , cơ liên sườn ngoài, cơ ngực, cơ nâng bả… Đa số phụ nữ hô hấp theo phương thức
này.
b. Hô hấp bụng: Phương thức này chủ yếu do cơ hoành và các cơ vùng bụng hoạt động. Đối
với nam giới hô hấp bụng là chủ yếu
Kiểu thở còn phụ thuộc vào tính chất nghề nghiệp như nữ vận động viên điền kinh đường dài
quen thở bằng ngực dưới còn công nhân khuân vác thở bằng bụng.
3.3 Dung tích phổi và thành phần khí trong phổi:
Để đánh giá chức năng thông khí của phổi, người ta có thể thăm dò nhiều chỉ tiêu như
dung tích hô hấp, lưu lượng thở…Các chỉ tiêu này được đo bằng phế dung kế hoặc các máy
ghi đồ thị hô hấp, từ đồ thị có thể tính được thể tích, dung tích hô hấp…
Dưới đây là các thể tích của phổi khi hô hấp:
- Khí lưu thông (TV): ở trạng thái sinh lý bình thường, người trưởng thành mỗi lần hít vào
-

thở ra được khoảng 500ml không khí vào hoặc ra khỏi phổi
Khí dự trử thở ra (ERV): Sau một lần thở ra bình thường, chưa hít vào ngay, mỗi người còn
có thể thở ra cố gắng thêm 1500ml không khí.
Khí dự trử hít vào: IRV (khí phụ) sau một lần hít vào bình thường, chưa thở ra mỗi người
còn có khả năng hít vào thêm cố sức khoảng 1500ml không khí
Khí cặn (RV): thể tích khí còn lại trong phổi sau khi đã thở ra cố gắng là 1000ml
Tổng số khí lưu thông: gọi là dung tích sống: là tổng khí lưu thông + khí dự trử thở ra +
khí dự trử hít vào (VC= TV+ERV+IRV)

Tổng dung tích sống và khí cặn gọi là tổng dung tích của phổi.
3.4 Sự trao đổi khí ở phổi và mô:
Sự tao đổi khí ở phổi và ở mô chủ yếu theo cơ chế khuyếch tán. Chiều khuyếch tán phụ
thuộc vào áp suất đặc trưng cho từng loại khí. Song đều tuân theo quy luật từ nơi có áp suất
cao đến nơi có áp suất thấp.
Khi một hỗn hợp khí tiếp xúc với một chất dịch thì các loại khí sẽ hoà tan vào các chất
dịch đó theo một tỷ lệ tương ứng với phân áp cuả nó trong hỗn hợp khí. Không khí trong phế
nang vốn bảo hoà hơi nước. Phân áp của hơi nước bão hoà ở 37o C là 47 mmHg. Tổng của áp
suất không khí trong phế nang là 760 mmHg

92


Áp suất của khí còn lại sẽ là:
( 760 - 47) x 14,3
Phân áp của O2 =
100
( 760 - 47) x 5,6
Phân áp của CO2=

= 102 mmHg

= 40 mmHg

100
3.4.1. Sự trao đổi khí ở phổi: (hay là hô hấp ngoài)
Trong tĩnh mạch đến phổi phân áp O2 là 40mmHg, phân áp của CO2 là 46 mmHg .
Chênh lệch phân áp oxy giữa máu trong mao mạch phổi và phế nang là 60mmHg, O2 khuyếch
tán từ phế nang qua màng phế nang vào màng mao mạch máu. Chênh lệch phân áp CO2 giữa
máu và phế nang là 6mmHg, CO2 sẽ khuyếch tán từ máu vào phế nang. Tốc độ khuyếch tán
của CO2 nhanh hơn tốc độ khuyếch tán O2 là 25 lần. Bề mặt tiếp xúc của phế nang rất lớn , nên
thời gian máu chảy qua mao mạch phổi đủ để O2 và CO2 khuyếch tán cho đến khi đạt cân bằng
phân áp giữa phế nang và máu.
3.4.2. Sự trao đổi khí ở mô:
Phân áp O2 trong tế bào rất thấp, trong dịch gian bào phân áp O2 20- 40 mmHg. Máu đỏ
đến hệ thống mao mạch mô có phân áp O2 là 100 mmHg. O2 khuyếch tán qua màng mao mạch
vào dịch gian bào rồi qua màng tế bào vào trong tế bào chât. Phân áp CO2 trong tế bào là 60
mmHg còn trong dịch gian bào là 46 mmHg, CO2 khuyếch tán từ tế bào ra dịch gian bào rồi
vào máu. Sự khuyếch tán xẩy ra cho đến khi đạt cần bằng phân áp O2 và CO2 giữa máu và dịch
gian bào. Phân áp O2 trong máu tĩnh mạch là 40 mmHg, phân áp CO2 là 46 mm Hg
4. ĐẶC ĐIỂM HỆ HÔ HẤP TRẺ EM

93


1. Đặc điểm về cấu tạo: Bộ máy hô hấp của trẻ em có kích thước nhỏ hơn người lớn và
các tổ chức phổi chưa hoàn thiện.
1.1 Khoang mũi:
Ở trẻ sơ sinh khoang mũi và hầu tương đối nhỏ và ngắn, nên không khí vào mũi không
được lọc sạch, sưởi ấm một cách đầy đủ. Niêm mạc mũi mềm mại, có nhiều mạch máu, dễ bị
sổ mũi và dễ tắc thở. Khả năng bảo vệ của lớp niêm mạc mũi yếu, nên khi bị kích thích dễ gây
rối loạn nhịp thở và hoạt động của tim mạch. Các xoang chưa phát triển đầy đủ, nên trẻ em
dưới 1 tuổi chưa có xoang trán, xoang hàm trên. Từ 12 tuổi các xoang này mới phát triển.
1.2 Họng hầu, vòm bạch huyết : ít phát triển. Trẻ dễ bị amdal, trẻ thở bằng miệng dễ hơn
thở bằng đường hô hấp.
1.3 Thanh quản, khí quả và phế quản:
- Thanh quản: Trẻ dưới 6-7 tuổi khe thanh âm ngăn, thanh đới ngắn, nên giọng của trẻ cao
hơn giọng của người lớn. Từ 12 tuổi trở đi thanh đới của con trai dài hơn so với của con
gái.
- Khí quản: Trẻ 4-5 tháng khí quản có hình phểu. Sau này biến đổi thành hình trụ
- Phế quản: Phế quản phải rộng và dốc hơn phế quản trái. Vì vậy, dị vật dễ rơi vào phế
quản phải.
Nhìn chung các cấu trúc của thanh quản, khí quản và phế quản của trẻ chưa hoàn thiện,
đường kính nhỏ, tính chất đàn hồi kém, vòng sụn mềm và dễ biến dạng, niêm mạc có nhiều
mạch mạu. Do đó, khi bị viêm nhiễm dễ bị khó thở và giãn phế quản.
1.4 Phổi: Phổi của trẻ lớn dần theo độ tuổi.
Về trọng lượng, trẻ sơ sinh phổi phát triển kém chỉ nặng 50 – 60 gam. Trẻ 6 tháng phổi
nặng gấp đôi. Trẻ 1 tuổi phổi nặng gấp ba, 12 tuổi phổi nặng gấp 10 lần
- Kích thước của phế nang: 0,05 -0,1 mm ( người lớn 0,2 mm)
-Túi phổi: có nhiều mạch máu và ít không khí nên khi bị viêm dễ xung huyết
Về thể tích của 2 lá phổi: Trẻ sơ sinh thể tích 2 lá phổi 70cm3. Trẻ 15 tuổi gấp 10 lần và
người lớn gấp 20 lần.
Các tổ chức phổi ở trẻ ít đàn hồi nên dễ bị xẹp phổi và giãn phế quản nhỏ khi viêm phổi
hoặc ho gà. Phổi của trẻ giàu mao mạch nên diện tiếp xúc giữa máu và không khí phế nang
cũng tương đối lớn hơn người lớn. Điều này phù hợp với cường độ trao đổi rất lớn của cơ thể
trẻ đang trên đà phát triển. Kích thước phế nang 0,05-0,1 mm
Trẻ em màng phổi rất mỏng nên dễ bị giãn khi hít vào sâu, dễ bị tràn khí hoặc tràn dịch
màng phổi.
2. Hoạt động hô hấp của trẻ em:
2.1 Nhịp thở: Nhịp thở của trẻ sơ sinh rất nhanh, không đều do các phế nang ít đàn hồi, cơ
hô hấp yếu, phổi phát triển chưa đầy đủ, nhu cầu O2 cao do vậy trẻ thở nhanh hơn người lớn
Trẻ sơ sinh : 50-55 lần/ phút

94


Trẻ 1 tuổi: 30-35 lần/ phút
Trẻ 1-3 tuổi : 25-30 lần/ phút
Trẻ 7 tuổi : 20-25 lần/ phút
Trẻ 12 tuổi : 20-22 lần/ phút
2.2 Kiểu thở: Thay đổi theo độ tuổi và giới tính
- Trẻ sơ sinh và bú mẹ thở bằng cơ hoành tức là thở bụng là chủ yếu
- Trẻ 2 tuổi thở bụng kết hợp với thở ngực
- 10 tuổi bé trai thở bụng, còn bé gái chuyển sang thở ngực
2.3 Quá trình trao đổi khí ở phổi trẻ em:
-Quá trình trao đổi khí ở trẻ em diễn ra mạnh hơn người lớn
+/ 3 tuổi = 2 lần
+/ 10 tuổi = 1, 5 lần người lớn
-Để đảm bảo nhu cầu O2 nên nhịp thở của trẻ phải nhanh, nông hơn người lớn và sự chếnh
lệch về phân áp O2, CO2 cao hơn người lớn
Thành phần O2 trong phế nang cao hơn người lớn: 15-17%
CO2 thấp hơn : 2,9 - 4, 85%
-Sự cần bằng O2 không bền vững dễ bị thay đổi theo ngoại cảnh -> rối loạn hô hấp
2.4 Thể tích không khí lưu thông ở phổi
Thể tích này phản ánh cường độ của quá trình trao đổi chất. Trẻ càng lớn thì càng thở
sâu hơn
Trẻ sơ sinh thể tích không khí trung bình là 20 ml. Cuối 1 tháng là 25 ml, 1 tuổi 80 ml,
5 tuổi là 215 ml và 12 tuổi là 375 ml
Sự điều hoà hô hấp
Trung khu điều hoà hô hấp của trẻ rất dễ bị hưng phấn. - Kích thước của phế nang: 0,05
-0,1 mm ( người lớn 0,2 mm)
-Túi phổi: có nhiều mạch máu và ít không khí nên khi bị viêm dễ xung huyết
-Tổ chức phổi ít đàn hồi nên dễ bị xẹp phổi-> dễ xẹp phổi
-Màng phổi: mỏng dễ bị giãm khi khí vào sâu, dễ bị tràn khí, tràn dịch màng phổi. Vì
thế, chỉ cần những kích thích nhẹ (xúc động, lao động chân tay, nhiệt độ…) thì sẽ rối
loạn hô hấp

1.
2.
3.
4.
5.

Câu hỏi ôn tập
Phân tích ý nghĩa của sự hô hấp đối với cơ thể sống.
Trình bày cấu tạo của cơ quan hô hấp.
Thế nào là hô hấp thường và hô hấp sâu?
Trình bày sự điều hóa hô hấp bằng phản xạ và bằng thể dịch
Trình bày sự trao đổi khí ở phổi và ở mô

95


6. Tại sao trẻ em lại có nguy cơ cao về các bệnh đường hô hấp?

96


Chương VIII: HỆ TIÊU HOÁ VÀ QUÁ TRÌNH HẤP THU THỨC ĂN
I.

Ý NGHĨA CỦA SỰ TIÊU HOÁ
Mọi hệ thống sống muốn tồn tại và duy trì sinh trưởng và phát triển cần phải thực hiện
quá trình trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường. Thực ăn là sợi dây liên lạc giữa cơ thể và
môi trường. Nó cung cấp những chất cần thiết để xây dựng cơ thể, đồng thời cũng là nguồn
năng lượng cần thiết để hoạt động sinh lý của cơ thể.
Các loại thực ăn đó vốn có nhiều nguồn gốc và nhiều chủng loại rất khác nhau như:
protêin, gluxit, lipít, vitamin, muối khoáng… Các loại thức ăn này do có đặc điểm cấu tạo, tính
chất rất phức tạp, nên nhiều loại thức ăn có thể không trực tiếp sử dụng ngay được ở dạng ban
đầu, mà chúng phải được cơ quan tiêu hoá biến đổi để tạo thành những chất đơn giản cơ thể có
thể hấp thu được. Vì vậy, quá trình tiêu hoá thức ăn có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống
của mỗi con người.
II.
CẤU TẠO CỦA HỆ TIÊU HOÁ:
Hệ tiêu hoá có thể chia làm 2 phần chính là ống tiêu hoá và các tuyến tiêu hoá
1. Ống tiêu hoá : Bao gồm khoang miệng, hầu, thực quản, dạ dày và ruột

Cấu tạo của khoang miệng: là đoạn đầu của tuyến tiêu hoá

97


Phía trước của miệng là 2 môi, phía sau là hầu (họng) phía trên là vòm khẩu cái, phía
dưới là nền miệng và 2 bên là má. Trong đó vòm khẩu cái thì ngoài là vòm cứng và trong là
vòm mềm. Trong miệng có răng, lưỡi và các tuyến nước bọt.

a. Răng: răng đầy đủ gồm có 32
chiếc , với công thức:
2/2 C + 1/1 N + 2/2 TH + 3/3 H
ở trẻ em :
2/2 C + 1/1 N + 0/0 TH + 2/2 H
Cấu tạo của răng: gồm 3 phần là thân
răng, cổ răng và chân răng

- Men răng: Từ ngoài vào răng được cấu tạo bằng một lớp men răng cứng và bền để bảo
vệ răng. Trong thành phần của men răng chất khoáng chiếm 97%(Ca3(PO4)2) chất hữu cơ
chiếm 3%. Tính chất của men dễ bị phá huỷ bởi vi khuẩn, axit và nhiệt độ.
- Ngà răng: là phần chủ yếu của răng có cấu trúc giống xương
- Tuỷ răng: là phần trong cùng gồm mô liên kết, mạch máu và các nhánh thần kinh.
- Lớp xi măng: gắn răng vào vị trí hố răng. Giữa chân răng và lớp xi măng được lót 1 lớp màng
collagen có tác dụng như là lớp đệm chống các tác động cơ học rất mạnh khi nhai.
Chức năng của các loại răng: Răng cửa để cắn thức ăn, răng nanh để xé thức ăn và răng hàm
thì để nghiền thức ăn.
b/ Lưỡi:
Là khối cơ vững chắc, tự do và linh hoạt để nhào lộn thức ăn.Phần gốc lưỡi dày hơn là
phần cuống lưỡi dính với nền hầu của phần sau khoang miệng. Trong lưỡi có nhiều mạch máu,
dây thần kinh và có nhiều gai vị giác.
Chức năng của lưỡi là nhào lộn thức ăn và phát âm.
Trong khoang miệng còn có các tuyến nước bọt bao gồm tuyến mang tai, tuyến dưới lưỡi và
tuyến dưới hàm để tiết ra nước bọt.
Cấu tạo của hầu và thực quản:
a. Hầu:

98


Là ống dài 12 cm, nối tiếp với khoang miệng, phía trên thông với khoang mũi, dưới thông
với dường dẫn khí. Nó là ngã tư giữa đường hô hấp và đường tiêu hoá. Chức phận của hầu là
dẫn thức ăn vào thực quản, dẫn khí vào khí quản. Giữa hầu và cột sống là một mô liên kết
thưa, nên có tác dụng đảm bảo cho hầu cử động được dễ dàng khi nuốt. Ở hầu có sụn thanh
thiệt là mắp đậy khí quản khi nuốt.
b. Thực quản
Là ống dài khoảng 25 cm. Thực quản đo vào khoang bụng qua một lỗ đặc biệt ở cơ hoành.
Ở trẻ sơ sinh thực quản có hình chóp nón. Thành thực quản còn mỏng, tổ chức đàn hồi và lớp
cơ chưa phát triển đầy đủ, nên trẻ rất dễ nghẹn.
Cấu tạo của thực quản gồm 4 lớp ngoài là lớp thanh mạc mỏng cấu trúc bằng liên kết sợi
đàn hồi, giữa là lớp cơ trơn gồm các cơ vòng và cơ dọc, trong cùng là niêm mạc có mạng lưới
mao mạch dày đặc và có nhiều tuyến nhầy tiết ra dịch nhầy để bôi trơn thức ăn. Thực quản
luôn khép lại trừ khi nuốt.
1.3 Cấu tạo của dạ dày:

Là phần rộng nhất của ống tiêu hoá, nằm
trong khoang bụng. Đó là nơi chứa thức ăn
vào, đồng thời là nơi thức ăn được biến đổi cả
về lí học và hoá học.
Dạ dày có 2 cơ vòng là cơ vòng tâm vị
ở phía trên và cơ vòng môn vị ở phía dưới.
Thể tích của dạ dày là 1,5 -3 lít. có 2 bờ cong
là bờ cong vị lớn và bờ cong vị bé. Dạ dày
đươc chia làm 3 vùng, vùng thượng vị, vùng
thân vị và vùng hang vị. Thành dạ dày dày 3mmngoài
được:chia
làm 3mạc
lớp
- 5Lớp
lớp thanh
- Lớp giữa: lớp cơ trơn, trong đó có cơ dọc, cơ vòng và cơ xiên
Lớp trong: lớp niêm mạc. Lớp này có nhiều nếp gấp, nhờ đó dạ dày có thể giãn ra khi chứa
nhiều thức ăn. Trên bề mặt của lớp niêm mạc có nhiều tuyến hình ống, cứ 1cm2 có 10.000
ống
+/ Cấu tạo của ống tiết: Dưới lớp biểu mô có tế bào chính sản xuất ra pepxinogen và tế bào cổ
(tế bào phụ) nằm giữa các tế bào chính tiết ra chất nhầy và các tế bào viền thì tiết ra axit
clohydic. Các tế bào biểu mô biến đổi của niêm mạc vùng hang vị thì tiết ra Gastrin. Tế bào
viền có những kênh nhỏ đổ vào lòng ống tuyến dạ dày.
-

99


Dạ dày có hệ thống lưới mạch máu và mạch bạch huyết phong phú. Nó nhận kích thích
của dây thần kinh giao cảm từ đám rối và các nhánh của dây thần kinh mê tẩu (số X).
1.4 Cấu tạo của ruột
a/ Cấu tạo của ruột non: là đoạn dài nhất của ống tiêu hoá, gồm có 3 đoạn

- Tá tràng: dài khoảng 25-30 cm, là đoạn
ngắn nhất của ruột non, song lại là đoạn
có chức phận tiêu hoá quan trọng nhất. Vì
nó là nơi tiếp nhận dịch tiêu hoá từ các
tuyến tiêu hoá của gan và tuỵ . Tá tràng là
phần rộng nhất của ruột non, nó uốn cong
hình chữ U, hành tá tràng chịu sự tấn
công cuả Hcl nên dễ bị loét.
- Hổng tràng: dài khoảng 2/5 độ dài của
ruột non
- Hồi tràng
Chiều dài của ruột non 5-6 m (gấp 4 lần cơ thể ), đường kính 2,5 cm. Thành của ruột non
được cấu tạo 3 lớp: ngoài là lớp thanh mạc liên kết với màng treo ruột có tác dụng giữa ruột
đúng vị trí trong ổ bụng. Tiếp theo là lớp cơ gồm các cơ vòng và cơ dọc. Trong cùng là lớp
niêm mạc có nhiều nếp gấp gọi là van tràng. Lớp này phủ bởi một lớp tế bào, ở đó có những tế
bào chứa chất nhầy. Ngoài ra, lớp tế bào còn được phủ bởi một lớp nhung mao là các lông
ruột.
Lông ruột là cơ quan hấp thụ thức ăn, dài 0,5 -1mm, dày 0,1 mm. Nó phân bố dày nhất
là ở tá trạng. Tổng số lông ruột ở người khoảng 4 triệu cái (20- 40 cái/ mm2). Nhờ có cấu tạo
van tràng và lông ruột đã tăng diện tích bề mặt của ruột non lên (300-500 m2 ) . Mỗi lông ruột
được cấu tạo ở trục giữa là mạch bạch huyết và tại đây hấp thụ những chất mỡ, bề mặt các lông
ruột có các mạch máu phân nhánh thành mạng lưới. Đây còn tiết ra các dịch ruột (tuyến
lieberkun).
b/ Cấu tạo của ruột già: Dài khoảng 1,3-1,5 m, đường kính 6 Cm. gồm có 3 đoạn
- Manh tràng: (ruột tịt ) dài 6-8 cm, có van làm cho thức ăn chỉ đi 1 chiều. Ở thành sau của
-

mang tràng có ruột thừa dài 2-20 cm không tham gia trự tiếp vào quá trình tiêu hoá.
Đại tràng: (ruột già chính thức), hình chữ U có 3 đoạn : đại trang lên, đai tràng ngang và
đại tràng xuống là nơi tái hấp thu lại nước và một số vitamin.
Trực tràng: dài 15-20cm, là nơi tích trử phân để lên men thối .

100


Thành của ruột già được cấu tạo 3 lớp : ngoài là lớp thanh mạc, giữa là lớp cơ và trong
cùng là lớp niêm mạc. Lớp niêm mạc có cấu tạo rất đơn giãn chỉ có 1 số tế bào tiết dịch nhầy
giúp cho sự vận chuyển các chất cặn bã được dễ dàng và có hệ vi sinh vật rất phát triển. Trực
tràng tận cùng bằng hậu môn thông ra ngoài. Bao ngoài lớp niên mạc hậu môn có các cơ thắt.
Các cơ này thường xuyên đóng thắt hậu nôn lại và chỉ mở ra khi “đi ngoài”. Các cơ thắt hậu
môn là các cơ vân nên hoạt động theo ý muốn của con người
1.5 Cấu tạo và chức năng của gan
Gan chia thành nhiều thuỳ. Mỗi thuỳ gan được cấu tạo bởi những tiểu thuỳ. Bên trong tiểu
thuỳ, máu chảy qua các tế bào gan nhờ những xoang tỉnh mạch từ các nhánh của tĩnh mạch đến
tĩnh mạch trung tâm tiểu thuỳ. Máu của động mạch cũng chảy vào tĩnh mạch gan. Mỗi tế bào
gan cũng áp vào một số kênh mật nhỏ. Các kênh này hợp lại tạo ra ống gan phải và ống gan
trái và khi ra khỏi gan thì hai ống hợp lại thành ống gan chung. Sau đó ống gan chung cùng với
ống túi mật tạo thành ống mật chung đổ vào hành tá tràng qua lỗ Oddi có cơ thắt Oddi bao
quanh.
Các chức năng của gan:
- Cơ quan dự trữ: gan dự trữ glicogen, lipit, các protein, vitamin A, vitamin B12, máu và các
chất tham gia vào quá trình tạo hồng cầu
- Chức năng tổng hợp: gan là cơ quan tổng hợp protein của huyết tương, fibrinogen, phức hệ
-

protrombin, heparin...
Chức năng bài tiết mật
Chức năng tạo và phá huỷ hồng cầu
Chức năng chuyển hoá: gan là cơ quan trung tâm của các quá trình chuyển hoá gluxit,
chuyển hoá lipit và chuyển hoá protêin.
Chức năng khử độc và tác dụng bảo vệ của gan

2. Tuyến tiêu hoá:
2.1 Tuyến nước bọt:
Tuyến nước bọt nằm chung quanh khoang miệng. Nó là những ống hình chùm. Gồm có 3
tuyến là:
- Tuyến dưới lưỡi: Bé nhất, nặng 5 gam, đổ nền miệng
- Tuyến dưới hàm: ở hõm dưới hàm nặng 150 gam
- Tuyến mang tai: nặng 20-30 gam, đổ vào mặt trong của má (ngang răng hàm thứ 2) tiết ra
50-60% tổng số nước bọt
Ngoài ra trong niêm mạc của khoang miệng còn có các tuyến nhỏ khác nằm rải rác, chúng tiết
ra chất dịch đặc quánh. Tuy không có tác dụng bôi trơn, nhưng trong thành phần của nó chứa
lizozim và các ezim như amylaza. Số lượng và thành phần tiết dịch phụ thuộc vào tính chất lí
và hoá học của thức ăn. Nước bọt có tác dụng làm nhão thức ăn khô và cuốn khỏi niêm mạc
miệng những chất có hại không cần thiết. Các tuyến nước bọt tiết ra nước bọt theo cơ chế phản

101


xạ : thức ăn vào khoang miệng kích thích cá thụ thể của các dây thần kinh vị giác, các xung
động đó được lan truyền tới trung khu điều khiển việc tiết nước bọt ở hành tuỷ, rồi từ đó theo
dây thần kinh li tâm đến tuyến nước bọt, kích thích tuyến nước bọt tiết ra nước bọt.
-

2.2 Tuyến vị
Ở dạ dày có khoảng 5 triệu tuyến nhỏ nằm trong niêm mạc của dạ dày và hàng ngày tiết
khoảng 2 lít dịch vị. Thành phần của dịch vị: Dịch vị là chất lỏng, trong suốt, không màu và
quánh, tỷ trọng 1,0008-1,0086. pH dịch vị nguyên chất là 0,9 -1,5, pH lẫn ăn 1,5 -2,5.
Trong dịch vị có chứa 98-99% là nước, 0,4% chất hữu cơ, trong đó có men pepin, prezua (ở
trẻ nhỏ), renin, lipaza và chất nhần muxin. Còn chất vô cơ là Hcl có tác dụng giúp men
pepin hoạt động, vừa có tác dụng bảo vệ diệt vị khuẩn thâm nhập vào dạ dày cùng với thức
ăn và một số muối của Na+, Mg+, K+, Ca++, PO4-3, SO4-2…Mỗi ngày dạ dày tiết 1,2 – 2 lít

2.3 Tuyến gan:
Là một tuyến lớn nhất của cơ thể, nặng 1,5 Kg và có màu nâu sẫm. Gan có nhiệm vụ tiết ra
mật để tiêu hoá thức ăn, có vai trò trong quá trình trao đổi chất, tham gia vào quá trình đồng
hoá Prôtêin, gluxit, lipít, là nơi trung hoà của độc tố và tiêu huỷ hôngf cầu già, đồng thời là nơi
dự trữ glicôgen.
Thành phần của dịch mật: là 1 dịch lỏng, trong suốt, có màu thay đổi từ xanh đến vàng tuỳ
theo sắc tố trong nó, pH = 8- 8,6
2.4 Tuyến tuỵ:
Tuyến tuỵ có màu hồng nằm trong xoang bụng, dưới dạ dày, có ống dẫn chất tiết đổ vào
tá tràng. Tuyến tuỵ là tuyến pha tức là vừa tuyến ngoại tiết tiết ra men tiêu hoá, vừa là tuyến
ngoại tiết tiết ra hormon insulin .
Dịch tuỵ là dịch lỏng, hơi quánh, trong suốt. pH 7,8-8,4. Một ngày tiết ra 1500ml,
98,5% nước, 0,7-0,8% chất vô cơ Na+, K+, Ca++, cl-, NaHCO3. ngoài ra còn có một ít bạch
cầu, glolulin.
Nhìn chung, các tuyến tiêu hoá hoạt động chịu sự điều khiển của hệ thần kinh. Các dịch
tiêu hoá bài tiết theo cơ chế phản xạ và phụ thuộc vào thành phần của thức ăn.
III- SỰ TIÊU HOÁ THỨC ĂN TRONG ỐNG TIÊU HOÁ
Tiêu hoá thức ăn là một quá trình biến đổi thức ăn trong ống tiêu hoá để tạo thành
những chất có thể hấp thu được vào máu rồi đi nuôi cơ thể. Sự biến đổi thức ăn diễn ra theo hai
cơ chế là biến đổi lí học và biến đổi hoá học. Trong đó, tiêu hoá lí học là sự cắt xé, nghiền nát,
nhào lộn và thấm men tiêu hoá, còn tiêu hoá hoá học là dưới tác động của các enzim thức ăn
được biến đổi thành những chất đơn giãn dễ hấp thu.
1. Quá trình biến đổi trong ống tiêu hoá:
2.1 Quá trình biến đổi thức ăn trong khoang miệng:
a. Biến đổi cơ học :

102


Thức ăn vào khoang miệng được răng cắt, xé, nghiền nhỏ rồi thấm với nước bọt. Nhờ hoạt
động của răng, dưới tác dụng của hàm dưới (cơ thái dương và lưỡi) thức ăn được viên nhỏ và
nuốt. Nhai và nuốt là phản xạ nữa tự động (phản xạ không điều kiện) và 1 phần là phản xạ theo
ý nuốn (có điều kiện)..
+/ Cử động của thực quản: đẩy thức ăn xuống dạ dày, thời gian di chuyển của thức ăn trong
thực quản là 2-3 giây. ống thực quản có 1/3 đoạn trên là cơ vân và 2/3 phía dưới là cơ trơn.
Đường kính thức ăn không được vượt quá 1,2 cm, với trẻ em không quá 0,7 cm nếu không sẽ
nghẹn.
b. Biến đổi hoá học:
Do enzim trong tuyến nước bọt là amiaza (ptyamin)
milaza
Tinh bột
Matozơ
(tinh bột chín)
Lipit và prôtit không biến đổi . Enzim amilaza hoạt động trong môi trường pH= 6,5 nó sẽ mất
hoạt tính khi môi trường pH < 4 và nhiệt độ cao.
Thành phần của tuyến nước bọt có tính kiềm nhẹ pH = 6 – 7,4 .
Nước bọt tiết ra
theo cơ chế phản xạ. Số lượng nước bọt tiết ra tuỳ thuộc vào tính chất của thức ăn, thức ăn khô
thì tiết nhiều hơn thức ăn nhão. Trung bình 1 ngày tuyến nước bọt tiết 800-1200 ml, Nếu ăn
bánh mì 100 gam sẽ tiết 300-500 ml.
2.2 Quá trình biến đổi thức ăn ở dạ dày:
a. Biến đổi theo cơ học:
Hoạt động của dạ dạy phụ thuộc vào kích thích của thức ăn. Khi không có thức ăn dạ dày
co bóp nhẹ, khi có thức ăn dạ dày co bóp mạnh hơn. Khi thức ăn xuống dạ dày phần thức ăn
vào trước sẽ nằm ở xung quanh, còn phần thức ăn vào sau thì nằm ở giữa. Mỗi vùng của dạ
dày có những hoạt động cơ học khác nhau.
- Tâm vị : không có cơ thắt, việc đóng mở nhờ niêm mạc dày lên của cơ hoành bọc xung
quanh. Tâm vị thường đóng không chặt. Khi thức ăn chuyển xuống vùng cuối của thực

-

quản, sẽ kích thích mở tâm vị và dồn thức ăn xuống dạ dày. Thức ăn vào dạ dày sẽ trung
hoà bớt độ axit của dịch vị, làm cho tâm vị đóng. Khi pH trở lại bình thường, tâm vị tiếp
tục mở. Nhờ cơ chế đóng mở nhịp nhàng này mà thức ăn xuống dạ dày chỉ có 1 chiều.
Thân vị và hang vị: Sau khi ăn khoảng 10-20 phút dạ dày sẽ co bóp theo kiểu làn sóng từ
thân vị đến môn vị (càng lan xạ càng mạnh). áp suất dạ dày : 10-40 mmHg, vùng hang vị
20-140 mmHg. Thức ăn chuyển theo chiều từ trên xuống dưới (ở sát thành), từ dưới lên (ở
chính giữa). áp lực của dạ dày tăng dần làm cho thức ăn mềm ra và ngấm dịch vị, rơi xuống
hang vị.
Tại hang vị thức ăn bị nghiền nát, nhào lộn và ngấm dịch vị, tạo thành dịch lỏng gọi là “vị
trấp”

103


-

Môn vị: Có cơ thắt riêng, môn vị thường hơi mở. Bắt đầu bữa ăn do tâm lý dịch vị được tiết
ra vài giọt Hcl rơi xuống tá tràng. Nó sẽ kích thích ngược lại môn vị làm cửa môn vị đóng
chặt. Khi thức ăn xuống hang vị co bóp của dạ dày tạo ra áp lực làm mở cửa môn vị, đẩy vị
trấp xuống tá tràng. Khi xuống tá tràng vị trấp có pH axit cao sẽ trung hoà pH kiềm tá tràng
(do dịch truỵ tiết), làm cho môn vị đóng lại cho đến khi môi trường kiềm của tá tràng trở lại
bình thường.
Thời gian lưu lại của thức ăn ở dạ dày tuỳ thuộc vào bản chất của thức ăn. Sau khi ăn 4 giờ
rưỡi thì thức ăn sẽ được chuyển xuống tá tràng song 6-7 giờ mới hết. Trong thành phần của
thức ăn thời gian tiêu hoá của prôtêin 5-6 giờ, lipit 6-8 giờ, sữa mẹ là 2-2giờ rưỡi và sữa bò
là 3-4 giờ. Ngoài ra sự tiêu hoá thức ăn còn phụ thuộc giới tính, độ tuổi, mức độ hoạt động
của cơ thể, trạng thái tâm lý.

b. Biến đổi hoá học trong dạ dày: Do enzim và Hcl quyết định
- Enzim pepxin: Enzim này có tác dụng cắt liên kết peptit của prôtêin thành chuỗi polipeptit
có kích thước khác nhau.
- Enzim chynosin (hay presua hay rennin) phân giải sữa. Chúng hoạt động trong môi trường
pH = 4 nhờ sự có mặt của Ca++
Cazeinogen + Ca++ -> cazeinat caxi kết tủa
- Enzim lipaza: không hoạt động trong môi trường pH < 1,5. Tác dụng của enzim này là cắt
-

liên kết este giữa glixerin và axit béo của thức ăn thành mônô glixerin và axit béo .
Trong dịch vị không có en zim tiêu hoá gluxit, nhưng thức ăn khi chuyển xuống dạ dày
chưa ngấm axit thì amilaza của nước bọt vẫn có tác dụng.
Hcl : có tác dụng hoạt hoá pepxinogen thành pepxin hoạt động. Hcl còn có tác dụng diệt vi
khuẩn và sát trùng cho dạ dày, tham gia vào cơ chế đóng mở môn vị.
Chất nhầy muxin: có tác dụng bảo vệ niêm mạc, tránh ăn mòn của pepxin và Hcl, chất nhầy
này có tác dụng hấp thụ vitamin B12. Nếu thiếu chất nhầy sẽ gây loét dạ dày và thiếu máu
ác tính.

2.3 Quá trình biến đổi thức ăn trong ruột:
2.3.1 Tiêu hoá thức ăn ở ruột non
2.3.1.1.Biến đổi theo cơ chế cơ học:
- Co thắt từng phần: Chủ yếu do lớp cơ vòng gây ra, gây co thắt từng đoạn ruột, tiết diện
ruột thu hẹp lại nên có tác dụng nhào lộn thức ăn, ngấm dịch tiêu hoá từng đoạn ruột.
- Cử động quả lắc: Do các cơ dọc thay nhau co, giãn làm cho các đoạn ruột trườn đi, trườn
lại để nhào lộn thức ăn với dich tiêu hoá, tránh ứ đọng thức ăn, làm tăng tốc độ tiêu hoá và hấp
thu thức ăn dễ dàng hơn.
- Cử động nhu động: là những co thắt lan truyền theo kiểu làn sóng theo chiều từ ruột non
đến ruột già, làm thức ăn đẩy dồn xuống, sự hấp thu thức ăn được dễ dàng hơn.

104


- Nhu động ngược: (phản nhu động) co thắt theo kiểu làn sóng từ ruột già đến dạ dày.
Nhằm mục đích dồn ngược thức ăn trở lại để kéo dài thời gian tiêu hoá và hấp thu ở ruột non.
2.3.1.2 Biến đổi thức ăn theo cơ chế hoá học: chịu tác dụng của dịch tuỵ, dịch mật và
dịch ruột.
a. Dịch tuỵ: Tuyến tuỵ là tuyến pha (vừa là tuyến ngoại tiết, vừa là tuyến nội tiết)
Chức năng ngoại tiết: do nang tuỵ thực hiện
Nhóm enzim phân giải prôtêin Enzim Trypsin, Enzim Cacboxy polypeptitdaza
- Nhóm enzim phân giải lipit: Enzim Lipaza
Bước đầu của quá trình tiêu hoá các hạt lipit lớn tách ra thành các hạt lipit nhỏ hơn để tăng
bề mặt tiếp xúc của chúng với enzim gọi là nhũ tương hoá do muối mật đảm nhiệm làm cho bề
mặt của lipít tăng lên khoảng 1000 lần.
-

Nhóm enzim phân giải gluxit: Enzim amylaza

b/ Dịch mật:
Do các tế bào gan tiết ra cho vào túi mật, trung bình 1 giờ tiết 30 ml, mỗi ngày tiết 5001000ml, ban ngày tiết nhiều hơn ban đêm, trong bữa ăn tiết nhiều hơn ngoài bữa ăn. Trước khi
đổ vào ruột dịch mật và ống dịch tuỵ nhập lại làm một có van đóng mở.
Thành phần của dịch mật có muối mật và sắc tố mật.
- Muối mật: tác dụng nhũ tương hoá lipit của thức ăn nó còn giúp cho sự hấp thu các sản

-

phẩm của sự tiêu hoá lipit và các chất hoà tan trong lipit như các vitamin A, D,E và K. Là
nguyên liệu để gan tổng hợp nên cholesteron do máu đưa đến với sự tham gia của amin,
glycin, taurin và enzim nội bào. Ngoài ra muối mật còn làm tăng nhu động ruột, tạo điều
kiện cho tiêu hoá và hấp thu. Mật còn kích thích cho tuyến tuỵ sản xuất dịch tuỵ. Ức chế vi
khuẩn, chống hiện tượng lên men thối ở ruột.
Sắc tố mật: là các sản phẩm thoái hoá một phần của Hb trong các tế bào võng nội mô

c/ Dịch ruột:
- Sự bài xuất dịch ruột:
-

-

Thành phần của dịch ruột: Là 1 chất lỏng, rất nhớt, đục, có nhiều mảnh vụn của tế bào niêm
mạc, pH = 8,3. Thành phần nước 9,8%, chất vô cơ 1% (muối các bô nát và phốt phát
clorua), 1% chất hữu cơ (chất nhầy, enzim tiêu hoá, mảnh vỡ tế bào)
Vai trò của các enzim dịch ruột: Tiếp tục phân giải protêin thành axit amin, gluxit thành
gluco và lipit thành glyxerin và axit béo

2.3.2Tiêu hoá thức ăn ở ruột già
a. Sự co bóp của ruột già: là các cử động
- Cử động nhu động: là cử động nhẹ từ trên xuống hậu môn và 1 ngày chỉ có 1-2 đợt nhụ
động mạch để đẩy thức ăn xuống trực tràng
- Cử động phản nhu động: là cử động mạnh nhất là ở kết tràng nhằm mục đích tái hấp thu lại
nước.

105


Khi đại tràng ngang chất đầy chất cặn bã thì vi khuẩn bắt đầu thâm nhập và phân giải, đoạn
này co bóp cắt khối chất bã thành từng đoạn nhỏ, tách xa nhau và chuyển dần xuống, biến
thành phân. Lúc này hệ thần kinh và những xúc cảm mạnh cũng ảnh hưởng đến nhu động của
ruột.
b. Hệ vi sinh vật của ruột già: Hệ vi sinh vật này có tác dụng lên men thối. Một số vitamin
như K, B12 được tổng hợp ở ruột già nhờ vi khuẩn nhưng không lớn, phần lớn được đào thải ra
ngoài qua phân.
IV- SỰ HẤP THU THỨC ĂN
1. Các con đường hấp thu thức ăn:
1.1 Các bộ phân hấp thu thức ăn:
Quá trình hấp thu thức ăn dọc suốt chiều dài của ống tiêu hoá nhưng chủ yếu diễn ra mạnh mẽ
là ở ruột non. Lượng dịch hấp thu hằng ngày khoảng 8-9 lít trong đó dịch tiêu hoá là 7 lít,
dịch thức ăn là 1,5 lít có 7,5 lít là ở ruột non.
- Hấp thu ở miệng: thời gian dừng của thức ăn ngắn chỉ hấp thu rượu, Nitroglixerin
- Hấp thu ở dạ dày: tại dạ dày sẽ hấp thu nước, 1 số chất hoà tan trong nước glucozơ, iốt,
brom, một ít rượu hoặc một ssố chất độc.
- Hấp thu tại ruột non: Ruột non là cơ quan hấp thu chủ yếu của cơ thể. các chất dinh dưỡng
như axit amin, gluco, glixerin axit béo muối khoáng và vitamin được lông ruột hấp thu đưa
-

vào máu hoặc bạch huyết đi nuôi cơ thể.
Hấp thu tại ruột già: tại ruột già là nơi tái hấp thu lại nước, một số chất dinh dưỡng còn lại
và một số thuốc đặt hậu môn.

IV Các con đường hấp thu thức ăn:
a. Đường máu :
Hầu hết các sản phẩm tiêu hóa như prôtêin, lipit, gluxit, muối khoáng, vitamin tan trong nước
sẽ được hấp thu vào các mạch máu rồi vào tĩnh mạch cửa gan . Tại đay diễn ra sự điều hoà
lượng đường trong máu, sau đó các chất dinh dưỡng được đưa trở về tim. Một số lipit có các
bon nhỏ hơn 10 cũng được hấp thu vào máu, khi về gan chúng sẽ tham gia vào các phản ứng
sản sinh năng lượng dùng cho hoạt động của gan.
b. Đường bạch huyết:
Toàn bộ lipit đã được nhũ trương hoá và các vitamin tan trong dầu sẽ được hấp thu vào các
mạch bạch huyết trong nhung mao, theo ống bạch huyết ngực đổ vào tĩnh mạch chủ trên về
tim.
V- Cơ chế hấp thu thức ăn:
5.1 Cơ chế thụ động: Không tiêu hao năng lượng và diễn ra một cách thụ động
a. Cơ chế khuyếch tán: do sự chênh lệch nồng độ các chất dinh dưỡng được hấp thu vào máu
thêo cơ chế

106


b. Cơ chế thẩm thấu: Chủ yếu là sự hấp thu nước. Các chất dinh dưỡng sẽ đi từ nơi có áp suất
thấp đến nơi có áp suất cao.
5.2 Cơ chế vận chuyển tích cực:
Các chất dinh dưỡng trong cơ thể khi hấp thu vào cơ thể không hoàn toàn đi theo các
qui luật trên mà chúng còn chọn lọc. Các chất có lợi, cần thiết cho cơ thể thì có thể đi vào
ngược chiều gradien nồng độ, áp suất và kể cả điện thế. Quá trình vận chuyển này cần có năng
lượng và chất vận tải
VI Sự hấp thu các chất:
a. Sự hấp thu prôtein:
prôtêin được hấp thu vào cơ thể chủ yếu dưới dạng các axit amin. Các axit amin được hấp thu
qua các long ruột vào máu thông qua cơ chế vận tải tích cực, rồi được vận chuyển tới gan.
c. Sự hâp thu lipit:
Lipít được hấp thu trong cơ thể chủ yếu dưới dạng axit béo, glyxerin. Các chất này được
hấp thu vào màng tế bào qua quá trình thẩm thấu. Tại đây, chúng được tái tổng hợp thành các
lipít và hấp thu vào đường bạch huyết là chủ yếu.
d. Sự hấp thu gluxit:
Gluxit được hấp thu vào cơ thể dưới dạng glucozơ theo cơ chế hấp thu chủ động. Glucozơ
được hấp thu chủ yếu qua tĩnh mạch cửa vào gan, một số rất ít theo đường bạch huyết.
e. Sự hấp thu vitamin:
Hầu hết các vitamin được hấp thu chủ động ở các tế bào niêm mạc ruột mà không cần sự biến
đổi hoá học nào.
f. Sự hấp thu muối khoáng: Các muối khoáng nói chung được hấp thu dưới dạng các ion qua
cơ chế chủ động.
g. Sự hấp thu nước: Nước được hấp thu bằng cơ chế chủ động ở ruột già, ở ruột non nước
được hấp thu theo cơ chế bị động theo các chất hoà tan.
VII- SỰ TẠO PHÂN VÀ SỰ THẢI PHÂN:
1 Sự tạo phân:
Khi thức ăn xuống ruột già thì phần lớn các chất dinh dưỡng đã được hấp thu. Tại ruột già chỉ
hấp thu thêm một vài chất dinh dưỡng, chủ yếu là tái hấp thu lại nước và cô đặc chất bã tạo
thành phân dưới sự hoạt động của các vi khuẩn lên men. Mỗi ngày cơ thể thải ra khoảng 150
gam phân. Thành phần của phân là các tế bào niêm mạc ruột bị bong ra, một ít dịch tiêu hoá và
các xác vi sinh vật. Trong phân không có hoặc rất ít lượng thức ăn không được hấp thu
2 Sự thải phân:
Phân được tống ra ngoài nhờ cử động nhu động của ruột già và thực hiện theo cơ chế phản xa,
diễn ra theo 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Phân tích đầy ở đại tràng

107


-

Giai đoạn 2: phân được đẩy xuống trực tràng. Khi phân chạm vào miêm mạc trực tràng, tạo
thành kích thích, xuất hiện xung động thần kinh dẫn truyền đến chất xám tuỷ sống. Sau đó
luồng li tâm theo dây thần kinh phó giao cảm đến trực tràng làm co bóp cơ mở thắt hậu
môn đẩy phân ra ngoài

Giai đoạn 3: cơ thắt hậu môn: là cơ vân nên nó có khả năng đóng mở theo ý muốn. Nếu
không muốn bài xuất ra ngoài thì cơ vân đóng chặt phân sẽ bị cử động phản nhu động của
ruột già làm phân bị đẩy lại đại tràng xima và sẽ mất cảm giác đại tiện. Còn Nếu cơ hậu
môn mở ra thì phân sẽ thoát ra ngoài.
VIII- ĐẶC ĐIỂM CƠ QUAN TIÊU HOÁ TRẺ EM
-

1-Ống tiêu hoá:
1.1- Khoang miệng:
-Khoang miệng của trẻ dưới 1 tuổi nhỏ, hẹp lớp niêm mạc min, mỏng, nhiều mạch máu dễ xây
xát
- Lưỡi rộng, dày, nhiều gai vị giác
- Răng: bắt đầu mọc vào tháng thứ 6 đến 24 tháng có 20 răng. Đến 6 tuổi bắt đầu thay răng sữa
bằng răng vĩnh viễn, 15 -17 tuổi sự thay răng kết thúc
+/ Công thức: 2/2 C + 1/1 N + 0/0 TH + 2/2 H
+/Răng có màu sữa, nhỏ, men răng mỏng -> dễ sâu và sún
Thời gian mọc răng sữa và răng vĩnh viễn
Thời hạn mọc răng
Các loại răng

Răng sữa

Răng vĩnh viễn

Các răng cửa giữa

6 - 8 tháng

7 – 7,5 tuổi

Các răng cửa bên

7 – 10 tháng

8 -9 tuổi

Các răng nanh

14 – 18 tháng

10 -12 tháng

Các răng hàm nhỏ 1

12 – 14 tháng

10 – 11 tuổi

Các răng hàm nhỏ 2

20 – 30 tháng

11 tuổi

Các răng hàm lớn 1

6 -7 tuổi

Các răng hàm lớn 2

12 – 13 tuổi

Các răng hàm lớn 3

17 – 25 tuổi

1.2- Thực quản:
- Trẻ sơ sinh hình chóp nón
-Không có tuyến niêm dịch và các tổ chức cơ chun chưa ptriển đầy đủ nên khi ăn dễ bị nghẹn,
hóc
- Lớp niêm mạc mỏng, mịn, nhiều mạch máu, tổ chức tuyến ít
1.3-Dạ dày: Thay đổi theo độ tuổi về kích thước, hình thù và vị trí
- Vị trí: trẻ nhỏ dạ dày nằm ngang, cao, tâm vị bên trái

108


- Hình dạng: Hình hơi tròn, 1 tuổi hình thuôn dài
- Cơ dạ dày: Chưa ptriển, cơ tâm vị yếu, cơ môn vị phát triển tốt, lỗ tâm vị rộng -> trẻ ăn hay
nôn trớ
- Kích thước: thay đổi theo độ tuổi và tính chất của thức ăn
Trẻ sơ sinh: 30-35 Cm3 , 3 tháng : 100 Cm3, 1 năm: 250 Cm3
1.4 - Ruột :
- Trong 3 năm đầu phát triển nhanh, về tỷ lệ dài hơn người lớn
-Niêm mạc rất phát triển, diện tích hấp thu lớn, có nhiều mạch máu -> dễ hấp thu các chất kể
các những chất trung gian -> trẻ dễ rối loạn tiêu hoá, ỉa chảy
- Màng treo ruột dài, manh tràng ngắn, ít di động-> dễ lồng ruột
- Ruột thừa không cố định, trẻ dưới 1 tuổi có hình phễu
-Trực tràng tương đối dài, lớp niêm mạc lỏng lẽo, tổ chức mỡ bao quanh ít -> kiết lị kéo dài dễ
bị sa ruột
2. Các tuyến tiêu hoá:
a/ Tuyến nước bọt :
- Trẻ sơ sinh chưa bịêt hoá , tiết ít chưa có men tiêu hoá tinh bột
- 3-4 tháng tuyến nước bọt mới bắt đầu ptriển
-Môi trường PH trung tính và axít nhẹ trong đó có men amilaza, Ptyalin, mantaza hoạt tính
tăng theo độ tuổi
b/ Tuyến vị: Trẻ sơ sinh bài tiết dịch vị còn yếu , tăng dần theo tuổi
-Thành phần dịch vị: gần giống như người lớn, độ PH cao hơn người lớn = 5,8-3,8 (người lớn
1,5-2) hoạt tính men
Ở trẻ em có enzim presua phân giải sữa. Chúng hoạt động trong môi trường pH = 4 nhờ
sự có mặt của Ca++
Cazeinogen + Ca++ -> cazeinat caxi kết tủa
c.Gan
Gan là tuyến lớn nhất của cơ thể, nặng 1,5 kg và có màu sẫm. Gan có nhiệm vụ tiết ra
mật để tiêu hoá thức ăn, tham gia vào quá trình đồng hoá protêin, gluxit, lipit, là trung tâm
điều hoà của độc tố và tiêu huỷ hồng cầu già, đồng thời là nơi dự trữ glycogen.
Gan ở trẻ trương đối to so với trọng lượng cơ thể.
Ở trẻ sơ sinh trọng lượng của gan chiếm 4,4 % trọng lượng cơ thể.
Trẻ 10 tháng tuổi gan gấp đôi
3 tuổi gấp 3 lần, sau đó gan phát triển mạnh ở tuổi dậy thì, lúc này trọng lượng của nó
chiếm 2,4% trọng lượng cơ thể.
Gan ở trẻ em dễ di động và thay đổi vị trí theo tư thê hoặc bị chèm ép. Không những
thế, gan của trẻ còn có nhiều mạch máu và chức phận của chúng chưa hoàn thiện.
d. Tuyến tuỵ

109


Tuyến tuỵ ở trẻ hoạt động ngay từ lúc mới sinh, trong dịch tuỵ của trẻ có đủ các men tiêu hoá
protêin, gluxit và lipít như người lớn. Hoạt tính của các men này được tăng dần từ lúc 3 tháng
đến 2 tuổi thì gần giống người lớn.
Nhìn chung, các tuyến tiêu hoá nói chung chịu sự điều khiển của hệ thần kinh. Mà hệ
thần kinh của trẻ chưa hoàn chỉnh nên sự tiết dịch tiêu hoá dễ bị ức chế bởi các kích thích ức
chế.
IX SỰ THỐNG NHẤT HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN TIÊU HOÁ
Cơ quan tiêu hoá gồm nhiều bộ phận khác nhau, mỗi bộ phận có chức năng riêng và sản
phẩn của bộ phận trước là tiền đề cho các bộ phận tiếp theo. Giữa các bộ phận trong cơ quan
tiêu hoá có sự phối hợp chặt chẽ và chính xác nhờ ảnh hưởng của hệ thần kinh và thể dịch. Vì
thế, kết quả của sự phối hợp này là tạo ra các chất cho cơ thể và loại bỏ nhanh các thức ăn
không được sử dụng và có hại cho cơ thể. Nếu ăn các thức ăn ôi thiu hoặc các chất độc hại thì
sẽ kích thích lên các đầu mút dây thần kinh ở dạ dày. Để đáp ứng lại kích thích đó dạ dày và
ruột sẽ co bóp mạnh nối tiếp nhau và lan truyền theo hướng ngược lại làm xuất hiện triệu
chứng buồn nôn. Nhờ đó có thể loại được thức ăn không thích hợp và có hại ra ngoài. Nếu
thức ăn độc hại xâm nhập vào sâu trong ống tiêu hoá thì có thể loại bỏ bằng cách thành ruột co
bóp đột ngột, xô đẩy thức ăn về phía ruột thẳng, các tế bào ruột tiết ra nhiều nước và khối
lượng thức ăn đi nhanh qua toàn bộ ruột và thải ra ngoài cơ thể.
X -CƠ SỞ SINH LÝ CỦA VẤN ĐỀ ĂN UỐNG CHO TRẺ
Hiệu suất tiêu hoá phụ thuộc và sự tiết men tiêu hoá. Sự tiết men tiêu hoá thực hiện theo
cơ chế phản xạ. Cảm giác thèm ăn có liên quan tới sự hưng phấn của trung khu ăn uống nằm ở
não bộ và trung khu tiết dịch tiêu hoá nằm ở hành tuỷ. Vì vậy, thèm ăn thì dịch tiêu hoá sẽ tiết
nhiều và hiệu suất tiêu hoá sẽ cao hơn.
Các biện pháp để tạo cảm giác thèm ăn:
- Hình thành được phản xạ có điều kiện ăn uống về thời gian. Khi phản xạ này được
thành lập một cách bền vững thì chỉ đến các giờ ăn quen thuộc các cơ quan tiêu hoá bắt đầu
tiết dịch trước khi ăn. Khi đó ta có cảm giác thèm ăn và ăn sẽ ngon miệng. Đồng thời thức ăn
sẽ tiêu hoá nhanh.
- Tạo hoàn cảnh khi ăn: như bát đũa, phòng ăn sạch sẽ... bầu không khí vui tươi, yên
tĩnh, tránh những xúc động mạnh, cãi cọ...

Câu hỏi ôn tập
1. Phân tích ý nghĩa của sự tiêu hóa

110


2.
3.
4.
5.

Trình bày cấu tạo và chức phận của cơ quan tiêu hóa
Trình bày sự tiêu hóa thức ăn trong ống tiêu hóa
Thế nào là sự hấp thu thức ăn?
Muốn tạo cảm giác thèm ăn, ngon miệng ở trẻ cần phải làm gì?

111


Chương IX: TRAO ĐỔI CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG - ĐIỀU HOÀ THÂN NHIỆT
I – KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA TRAO ĐỔI CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG TRONG
CƠ THỂ
Mọi cơ thể sống để tồn tại được với môi trường sống đều có sự trao đổi chất với môi
trường. Trao đổi chất và năng lượng là đặc điểm cơ bản của sự sống, là đặc điểm để phân biệt
sinh vật với vật vô sinh, cơ thể sống và thể chết.Cơ thể sống luôn có mối quan hệ mật thiết với
môi trường sống xung quanh, môi trường cung cấp thức ăn, nước, muối khoáng, O2 qua hệ tiêu
hoá và hô hấp. Đồng thời môi trường còn tiếp nhận các chất cặn bã, sản phẩm phân huỷ và khí
CO2 thải ra từ cơ thể. Thức ăn khi đi vào cơ thể biến đổi thành những chất dinh dưỡng hấp thu
vào máu.
Trao đổi giữa cơ thể với môi trường bào gồm 2 quá trình là trao đổi chất và trao đổi
năng lượng. Hai quá trình này có mối liên hệ mật thiết và luôn thống nhất với nhau. Đặc điểm
chung của quá trình trao đổi chất và trao đổi năng lượng là 2 quá trình ôxy hoá khử trong cơ
thể.
1. Trao đổi chất: bao gồm 2 quá trình đồng hoá và dị hoá
- Đồng hoá: Là quá trình tổng hợp nên các chất sống cho cơ thể từ các chất dinh dưỡng đã
được hấp thu vào cơ thể như axit amin, glucozơ, glyxerin, axit béo… Đồng hoá có nghĩa là
quá trình tích luỹ năng lượng.
- Dị hoá: Là quá trình phân huỷ một phần chất sống nhằm thu hồi năng lượng hoá học chứa
trong đó để sinh công hoặc tổng hợp chất mới.
Đồng hoá và dị hoá là 2 quá trình luôn tiến hành liên tục, song song và thống nhất với nhau
trong mọi hoạt động của cơ thể. Do vậy, giúp cho cơ thể sinh trưởng, phát triển, lao động và
sinh sản…
2. Trao đổi năng lượng:
Song song với quá trình trao đổi chất là quá trình trao đổi năng lượng. Trao đổi năng
lượng là quá trình chuyển năng lượng từ dạng này sang dạng khác trong cơ thể. Các dạng năng
lượng đó là nhiệt năng (để duy trì thân nhiệt), cơ năng (co cơ và tiết chất dịch), điện năng
(hưng phấn thần kinh)
Bản chất quá trình trao đổi chất là chuyển các chất giàu năng lượng thành cácchất dự trữ
có năng lượng ít hơn và kèm theo đó là sự giải phóng ra một dạng năng lượng nào đó.
II – SỰ CHUYỂN HOÁ CÁC CHẤT CƠ BẢN TRONG CƠ THỂ:
Những chất sống mà cơ thể trao đổi với môi trường thuộc 2 loại
- Cung cấp nguyên liệu để tham gia vào cấu tạo và năng lượng cho cơ thể như protêin,
gluxit, lipít.
- Cung cấp tham gia vào cấu tạo và chuyển hoá trong cơ thể: nước, vitamin, muối khoáng.
1. Chuyển hoá protêin:

112


1.1. Vai trò của protêin:
- Vai trò kiến tạo: protêin chiếm 16-18% khối lượng cơ thể. Chúng tham gia vào cấu tạo nên
mọi tế bào, mô, cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể.
- Vai trò xúc tác sinh học: là thành phần chính của các enzim
-

Điều hoà hoạt động của cơ thể: vì prôtêin là thành phần của hormon
Ngoài ra protêin còn là thành phần của hêmoglobin để vận chuyển khí
Prrotêin tham gia vào quá trình oxy hoá để giải phóng năng lượng (tuy không nhiều)
1g protêin -> 4,1 kcalo
Prrotêin còn có thể chuyển hoá thành các dạng chứa năng lượng khác, như gluxit, lipit

2.1 Thành phần cấu tạo của protêin:
Protêin là chát hữu cơ được tạo thành từ các yếu tố hoá học : C,H,O,N và S,P
Ví du: hêmôglôbin C3032 H4816 O872N780S8Fe4
Protêin được cấu tạo từ hợp chất đơn giản gọi là axit amin. Các axit amin nối với nhau bằng
liên kết peptit, hiện nay có trên 20 loại axit amin.
NH2
Công thức của axit amin như sau:

R- CH

COOH
Trong cơ thể axit amin được chia làm 2 nhóm
-

-

Nhóm axít amin không thay thể: loxin, Izoloxin, lysin, triptophan, treômin, phenyalanin,
histadin, acginin, methyomin. Khi thiếu một trong các axit amin này cơ thể sẽ bị các rối
loạn.
Nhóm axit amin thay thế:

2.2 Sự trao đổi protêin trong cơ thể:
Sự trao đổi protêin trong cơ thể thực chất là quá trình trao đổi các axit amin, nó bào gồm 2 quá
trình tổng hợp và phân giải protêin trong cơ thể.
a. Sự tổng hợp protêin:
Sản phẩm cuối cùng của quá trình tiêu hoá protêin là các axit amin, nó được hấp thu vào
máu rồi theo tĩnh mạch cửa gan. Tại gan một phần axit amin được giữ lại và tổng hợp thành
các protêin của huyết tương như alumin, gobulin, fibrinogen. Còn phần lớn sẽ được chuyển
đến tế bào để tổng hợp nên protêin đặc trưng cho tế bào và mô như: hêmoglobin của máu,
hormon của tuyến nội tiết, prôtêin của mô cơ, kháng thể…Nănglượng cần thiết cho quá trình
tổng hợp này thường lấy ở các phản ứng phân huỷ ATP (adenozin – triphotphat) .
b. Sự phân giải protêin:
Sự phân giải protêin được diễn ra tại gan, đầu tiên các protêin ở gan được phân giải thành các
axit amin, sau đó là đến các protêin của ccs tế bào, mô cũng được huy động đến để phân giải
thành các axit amin. Tất các các axit amin này sẽ được chuyển đến gan để cùng với các axit
amin đã có ở gan tiếp tục phân giải bằng các phản ứng là khử amin, nhóm NH2 được tách

113


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×