Tải bản đầy đủ

hồ xuân hương và văn hóa phồn thực

Đề bài : Ảnh hưởng của tín ngưỡng văn hóa phồn thực trong
thơ Hồ Xuân Hương
Đề bài : Ảnh hưởng của tín ngưỡng văn hóa phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương.
Hồ Xuân Hương sáng tác cách đây gần hai trăm năm, mà đến nay, vấn đề Xuân Hương còn nhiều
phức tạp chưa giải quyết dứt khoát được. Con người và thơ ca bà như là một “cơn bão” luôn
khuấy động trong dư luận. Hàng trăm công trình nghiên cứu, phê bình, hàng chục khảo luận và
chuyên luận, nhiều công trình luận án tiến sĩ và thạc sĩ đã chứng tỏ cho địa vị “Bà chúa thơ
nôm” trên thi đàn văn học Việt Nam. Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng cười tục nhã, cái cười ấy như
có trong văn học dân gian ta ngày xưa, những câu tục ngữ, ca dao, trào phúng của bình dân Việt
Nam. Phải chăng Xuân Hương đã tiếp thu bề dày văn hóa ngàn năm đó để tạo cho mình một
phong cách riêng độc đáo với những mảng đề tài táo bạo, gây sửng sốt với người đọc. Một Hồ
Xuân Hương coi tình dục là cảm xúc lành mạnh và cường tráng, vừa tục vừa thanh, vùa thanh,
vừa tục.
Hồ Xuân Hương có một số bài thơ được đem chọn vào giảng dạy ở trường phổ thông (Tự tình I,
Tự tình II, Mời trầu, Bánh trôi nước, Đề đền Sầm Nghi Đống). Thực tế hoàn cảnh tiếp nhận thơ
Hồ Xuân Hương ở nhà trường đã để lại cho người viết bài một ấn tượng sâu sắc, thôi thúc người
viết tìm hiểu sâu hơn về thơ của một bậc kì tài. Đặc biệt là mảng nội dung táo bạo như yếu tố
phồn thực. Vì vậy, đi vào tìm hiểu “Ảnh hưởng của tín ngưỡng văn hóa phồn thực trong thơ
Hồ Xuân Hương”, người viết muốn đi vào cái ám ảnh muôn đời trong thơ bà để tìm ra đường
dây liên hệ giữa biểu tượng về âm vật, dương vật, hoạt động giao tính trong thơ Hồ Xuân Hương
với những biểu tượng văn hóa trong tín ngưỡng phồn thực. Từ đó, có thể hiểu sâu sắc hơn về nỗi

niềm trắc ẩn và thầm kín trong con người nghệ sĩ
Tín ngưỡng phồn thực tồn tại trong vô thức tập thể, trong ký ức cộng đồng, trong huyền thoại,
truyền thuyết, giấc mơ, tục thờ cúng, lễ hội, lời ăn tiếng nói hàng ngày… bằng những siêu mẫu.
Đó là những biểu tượng hoặc “khuôn đúc” sản ra những biểu tượng. Tín ngưỡng nếu bị chèn ép
thì dồn về lớp bề sâu của tâm thức, tức tiềm thức hoặc vô thức, trong đời sống tâm linh của
người Việt cổ. Nó lắng đọng trong thời gian thành một lớp trầm tích văn hóa, một kho ký ức tập
thể trong vô thức cộng đồng dưới dạng những siêu mẫu. Chính những siêu mẫu này tạo ra các
khuôn mẫu văn hóa, khuôn mẫu tư tưởng và khuôn mẫu hành vi của con người. Khi tâm thế xã
hội không cho phép thì chúng cứ tồn tại tiềm tàng như thế trong vô thức tập thể, khi có điều kiện
thì các siêu mẫu này “giáng lâm” vào đời sống văn hóa cộng đồng, hoặc trong sáng tạo văn hóa
cá nhân.
Tiếp cận Hồ Xuân Hương từ tín ngưỡng phồn thực, bởi vậy ta không thể không nghiên cứu
những biểu tượng trong thơ bà. Những biểu tượng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương đều là
những biểu tượng văn hóa – tôn giáo. Chúng là hiện thân của những siêu mẫu được hình thành
và tồn tại từ thời con người chưa có chữ viết. Cái siêu mẫu này tồn tại trong vô thức tập thể của
cộng đồng cũng như trong vô thức của cá nhân dưới dạng huyền thoại cổ tích, những giấc mơ…
chúng tạo thành những khuôn mẫu của tư duy cho mọi người và mỗi người. Do vậy mà các biểu
tượng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương được độc giả cảm thông và cận một cách dể dàng
không chỉ vì trên nền một cộng cảm chung, mà giường như nó ở sẵn trong mỗi người. Bằng ngôn
ngữ tuyệt vời của mình, nhà thơ đã nói ra điều đó, tức thức hữu hóa cái vô thức, hiển minh hóa


cái còn tù mù trong độc giả. Bởi vậy nói theo ngôn ngữ Hồ Xuân Hương, siêu mẫu là sợi dây
xuyên xuốt và kết nối mỗi người chúng ta lại với nhau, như cái đinh kết nối nhừng nan quạt để
trở thành một chiếc quạt qua “ Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa”( cái quạt).
Thơ Hồ Xuân Hương là những dòng suối cội nguồn, là hợp lưu của những yếu tố phồn thực, vì
thơ bà chịu ảnh hưởng của những nguyên nhân sau :
Nguyên nhân xã hội : Hồ Xuân Hương sinh vào thời cuối Lê đầu Nguyễn, vào lúc xã hội Việt
Nam rơi vào cảnh loạn lạc không cùng, do đó bao nhiêu ràng buộc của lễ giáo phong kiến bị phá
tung, và nhiệt độ tình cảm cyra cong người dâng lên rất cao. Hồ Xuân Hương chịu ảnh hưởng
của hoàn cảnh ấy nên thơ bà mới có cái giọng điệu ngang tàng, phóng túng không e dè kiêng nể
đối với những mãnh lực tinh thần đang đè nặng trên xã hội đương thời.
Nhưng nguyên nhân chính và quan trọng hơn cả phải tìm thấy ngây trên con người Hồ Xuân
Hương hay đúng hơn ở trong tâm lí Xuân Hương : một tâm hồn vừa mến trọng lý tưởng thanh
cao lại vừa dạt dào tình cảm vì không gặp những điều kiện thuận lợi để nảy nở hoàn toàn nên
chán ngán mà sinh ra giọng điệu trớ trêu táo tợn.Những trở lực cho sự phát triển điều hòa của
tâm hồn ấy có thể là sự nghèo túng, cảnh lẽ mọn, cái thô bỉ của vài hạn người mà Xuân Hương
đã gặp trên co đường tình cảm của mình, cái dởm của những người chung quanh làm cho Xuân
Hương uất ức chán ghét. Nói tóm lại, những nguyên nhân ảnh hưởng đến lối thơ Hồ Xuân
Hương là nguyên nhân xã hội, nguyên nhân thuộc về bản chất tình dục, nhưng yếu tố tâm lí là


quan trọng hơn cả. Thật thế, bên trong cái lẳng lơ và những cái xem như là những hậu ý tục tĩu
của Xuân Hương, còn có một cái gì rất sâu sắc, rất thâm trầm, rât đứng đắn và rất cảm động : đó
là nỗi lòng Hồ Xuân Hương.

Đi tìm dấu ấn phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương
Khúc dạo đầu –tín ngưỡng phồn thực với văn hóa và văn học
Tín ngưỡng phồn thực - một biểu hiện của khát vọng về cuộc sống con người và thiên nhiên nảy
nở, sinh sôi, viên mãn, trường tồn đã làm cho đời sống văn hóa ngay từ buổi đầu hồng hoang đã
chứa đựng sức sống sung mãn. Phồn thực hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là sự giao hòa đực cái,
sự sinh sôi nòi giống hay biểu đạt tính tượng trưng của giao hòa nam nữ mà còn là sự mong
muốn, khát khao cuộc sống no đủ, đông đúc, cuộc sống được sinh sôi nảy nở, mùa màng tươi tốt,
cây cỏ xanh tươi, hoa quả trĩu cành. Phồn thực trở thành một nhu cầu lành mạnh cho sự trường
tồn và phát triển con người.
Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh: “Phồn: cỏ tốt, nhiều – thực: đầy đủ - phồn thực: nảy
nở ra nhiều”. “Sinh thực khí: sinh: đẻ - sinh thực khí: cơ quan của động, thực vật dùng để sinh
thực”. “Cái nghĩa gốc của phồn thực” phần nào giải mã cho những biểu hiện của phồn thực
trong đời sống. Tín ngưỡng phồn thực từ nguồn gốc hình thành vẫn trường tồn mãi ở khắp mọi
vùng miền ở Việt Nam, tính ngưỡng phồn thực là biểu hiện bình dị tự nhiên, sâu lắng trong tâm
thức của người Việt. Từ cái nhìn trừu tượng hay cụ thể, yếu tố phồn thực xuất hiện trong hội họa,
điêu khắc, trong văn hóa với những lễ hội dân gian. Ở đâu nó cũng là điểm thu hút của khát
vọng, của tâm linh, của tinh thần nhân văn lớn lao. Đặc biệt trong văn học Việt Nam, cái nhìn
phồn thực được biểu hiện vô cùng sinh động, đa dạng và có những điểm mới mẻ, hấp dẫn riêng.
Không là mắt nhìn trực tiếp, không là ấn tượng nhục cảm trực tiếp mà là tư duy phồn thực được
phán đoán bằng hình tượng. Chúng ta đi ngược dòng thời gian để có cái nhìn đầy đủ về tư duy
phồn thực trong bề dày văn học Việt.


Trong văn học cổ, có những truyền thuyết hàm chứa sức mạnh mãnh liệt của đời sống tâm linh
phồn thực. Các truyền thuyết cũng phản ánh khá nhiều về tính phồn thực hùng vĩ, câu chuyện về
bà Âu Cơ về bọc trăm trứng nhìn ở khía cạnh khác cũng có dấu ấn phồn thực. Cả một nền văn
hóa dân gian đồ sộ cũng thấm đượm dấu ấn phồn thực. Mảng tín ngưỡng trong văn học dân gian
như một bứt phá của con người trong hệ lụy phong kiến, bị kìm kẹp, áp bức, con người bản năng
tìm đến với nghệ thuật để giải bày tâm tư. Mảng phồn thực trong văn học dân gian mang dấu ấn
riêng, chủ yếu là tiếng cười trào lộng.
Những biểu hiện phồn thực trong ca dao, dân ca và đa dạng, từ tiêu chuẩn chọn chồng
Chẳng giàu thì phải đẹp giai
Chẳng thông minh lịch sự phải dài cái kia.
(Phong dao hoa tình )
Dòng văn học chảy ngồn ngộn trong kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam, đặc biệt là câu đố, từng
tồn tại hàng nghìn năm vẫn ào ạt chảy trong huyết mạch dân tộc, lúc thâm trầm, rã rích, lúc cuồn
cuộn, da diết, ngay cả hình ảnh đồ vật cũng được các cụ tả:
Tụt quần trong
Tụt quần ngoài
Trong có hạt
Trải qua mấy nghìn năm dựng nước, kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam ngày một giàu thêm
như lớp thạch nhũ bám trên nền hang động. Lớp thạch nhũ nghìn năm ấy giờ lung linh huyền ảo
thêm với ánh đèn màu của quan niệm đổi mới tư duy nghệ thuật trong văn học.
Vì giới hạn của bài viết “ảnh hưởngcủa tín ngưỡng văn hóa phồn thực trong thơ Hồ Xuân
Hương”, bây giờ chúng ta đi tắt , tạm thời bỏ qua dòng văn học của nhân vật chính này và sẽ
quay lại tìm hiểu một cách cụ thể và có bài bản hơn. Chúng ta tiến bước đến nền văn học hiện
đại, nền văn học luôn bị thôi thúc bởi nền kinh tế thị trường đầy thực dụng và tỉnh táo, nó sẵn
sàng đạp mọi trở ngại là hàng rào ngăn cách mấy ngàn năm để đến với thế hệ hậu sinh chúng ta.
Lớp lớp nhà văn đã tiếp bước theo hoài niệm phồn thực của cha ông để khẳng định một điểm
nhấn về sự thay đổi sâu sắc trong quan niệm con người về thế giới, về tính chỉnh thể của thế giới
như là điểm mút tận độ của ý thức cá nhân. Sự xuất hiện sắc thái phồn thực trong văn chương
hiện thực phê phán của Vũ Trọng Phụng, Nam Cao là cái hài hước nhằm phản ánh bi kịch nhân
sinh. Trong văn xuôi đổi mới sau năm bảy lăm, phồn thực có nhiều biểu hiện, nhưng chuyện tính
giao là chyện trung tâm. Với Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng…
phồn thực là cái hài hước đa nghĩa hơn khi thả sức cười trong lòng đắm ái dục của con người, bất
kể là ai. Phê phán những khoái hoạt, nhục dục tối tăm và sinh sôi, cả truyền giống và khoái cảm,
vụng trộm lén lút và mạnh bạo, hồn nhiên, giả dối và thành thực, tất cả đều cùng một lúc phát ra
từ yếu tố phồn thực trong văn học hiện đại. Đặc biệt, sự xuất hiện yếu tố phồn thực trong văn học
hiện đại biểu hiện khát vọng về sự hồi sinh, phát triển con người ở một xứ sở vốn chịu nhiều mất
mát và hủy diệt.
Qua bao không gian, thời gian dài dằng dặc trong từ trường, sức hút của yếu tố phồn thực trong
dòng chảy văn học Việt Nam vẫn giữ nguyên dáng vẻ tưới rói, sống động của tín ngưỡng ban
đầu.
Biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương.
“Nhà văn phải biết khơi lên ở con người niềm trắc ẩn, ý thức phản kháng cái ác, khát vọng khôi
phục và bảo vệ nhũng cái tốt”. Lời lẽ này thật chính xác cho Hồ Xuân Hương, một tác giả nổi
bật trong nền văn học trung đại. Bà được đọc giả cũng như các đồng nghiệp văn thơ ca ngợi và
thán phục. Sinh ra dưới một thời đại biến động, dưới sự áp bức, kiềm tỏa của chế độ phong kiến
với Nho Giáo, đi kèm bao nhiêu bất công hà khắc về tiếng nói con người, đặc biệt là người phụ


nữ. Xuân Hương sống trong thời đại xã hội tối tăm nên tấm lòng nữ sĩ đã có lúc chai sạn, cay
đắng, dám ngẩng cao đầu đứng lên chống phong kiến, với vua quan. Tiếng thơ của bà ngang với
khí phách nam nhi của Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, của Nguyễn Đình Chiểu. Tấm thân rạo rực
với bao cảm xúc miên man của người phụ nữ trong thơ nhưng cũng bị phê phán, đả kích. Bà là
cái gai trong mắt của giai cấp thống trị, là cái nhọt trong xã hội phong kiến bởi lối thơ dâm và tục
. Cái dâm – tục với bản chất sâu xa của tín ngưỡng phồn thực, nơi gắn liền với cái thiêng liêng
vừa tục vừa thanh mà người viết muốn khám phá.
Tín ngưỡng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương có những nét tương đồng với tín ngưỡng phồn
thực trong văn học dân gian về bản chất và sự hình thành. Trong văn học dân gian, từ những
truyện tiếu lâm, những câu tục ngữ ca dao bình dân dồi dào những yếu tố của tín ngưỡng phồn
thực. Sự tương đồng ấy được chứng minh bằng hoàn cảnh xã hội chịu ảnh hưởng của lễ giáo
phong kiến, chịu áp bức bởi những lề thói khắc nghiệt của đạo Nho, đạo Khổng. Cái mong muốn
giải tỏa bị kìm nén dẫn đến cách lựa chọn của Hồ Xuân Hương giống văn học dân gian, đó là gửi
tâm tư vào chữ nghĩa, vào tư duy hình tượng. Tiếng nói của bản năng con người mà đem phô ra
là điều cấm kỵ, nhưng trên thực chất của giai cấp thống trị lại có cảnh tượng dâm giật. Tâm hồn
Hồ Xuân Hương bất mãn, Hồ Xuân Hương bị ngẹt thở trong xã hội đó. Biểu tượng của tín
ngưỡng phồn thực vì thế mà lúc nào cũng đậm nét và sâu sắc.
Nêkratxtôp đã từng viết: “Nếu những nỗi đau khổ từ lâu bị kiềm chế, nay sục sôi dâng lên trong
lòng thì tôi viết”, Hồ Xuân Hương cũng đồng quan điểm như nhà văn nước ngoài trên. Bà muốn
khẳng định bức phá khỏi lễ giáo phong kiến với những khao khát chính đáng và đầy tự nhiên.
Cũng khẳng định tên tuổi trong dòng văn học trung đại, cũng là một trong những người đã từng
qua lại xướng thơ với Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du đã xây dựng nhân vật Kiều của mình với
tiếng nói tố cáo phong kiến, kể về người đàn bà trinh tiết, Nguyễn Du mượn hình ảnh đóa trà mi
để bóng gió xót xa:
Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về
Những câu thơ của Nguyễn Du viết về Thúy Kiều như bày ra một nghĩa ngầm đó là những biểu
tượng liên quan đến phồn thực. Niềm trắc ẩn ở Hồ Xuân Hương là dấu ấn của tín ngưỡng văn
hóa – tín ngưỡng phồn thực. Từ những dấu ấn phồn thực trong thơ, nữ sĩ đã đem lạinhững ấn
tượng mạnh gắn liền với hình ảnh người phụ nữ tiềm tàng những khao khát của giống người, rất
tự nhiên, rất trần tục nhưng cũng rất nhân văn cao cả. Vì khát vọng của chính mình mà con người
phải đấu tranh. Chúng ta đã giải mã được phần nào bí mật phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương.
Hồ Xuân Hương đã viết về phồn thực táo bạo trong thời đại bà, cái tôi riêng có vượt lên nhiều
nhà thơ khác, táo bạo và quyết liệt hiếm thấy. Hồ Xuân Hương là tiền đề để yếu tố phồn thực tiếp
tục được phản ánh nhiều trong văn học. Đến bây giờ chúng ta tự tin đi tiếp để tìm chân lí phồn
thực trong thơ bà. Tín ngưỡng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương – những biểu tượng của
sự ám ảnh.
Nhà thơ Lưu Trọng Lư đã từng nói: “Một câu thơ hay là một câu thơ có sức gợi”. Sức gợi là
ngọn gió thổi cánh diều liên tưởng. Sức gợi trong những bài thơ của Hồ Xuân Hương là biểu
tượng phồn thực. Để tìm hiểu một cách có hệ thống những biểu tượng phồn thực trong thơ Hồ
Xuân Hương, trước tiên chúng ta phải giải mã ý nghĩa của biểu tượng.
“Biểu tượng” (Symbol), theo Petit Larousse (1993), là một dấu hiệu hình ảnh, con vật hay đồ vật,
biểu thị một điều trừu tượng, nó là hình ảnh cụ thể của một sự vật hay một điều gì đó. Nhà phân
tâm học Thụy Sĩ C.G.Jung, từ góc độ ngôn ngữ, nói rành rọt hơn: Biểu tượng là một danh từ,
một tên gọi hay một đồ vật tuy đã quen thuộc với ta hằng ngày, nhưng còn gợi thêm những ý
nghĩa khác bổ sung vào nghĩa ước định, hiển nhiên và trực tiếp của nó.


Những biểu hiện phồn thực được thể hiện trong thơ Hồ Xuân Hương đều là những biểu tượng
văn hóa – tôn giáo, chúng là hiện thân của những siêu mẫu được hình thành, tồn tại từ thời con
người chưa có chữ viết. Cái siêu mẫu này tồn tại trong vô thức tập thể của cộng đồng cũng như
trong vô thức của cá nhân dưới dạng huyền thoại cổ tích, những giấc mơ,… chúng tạo thành
những khuôn mẫu của tư duy cho mỗi người và của mỗi người. Do vậy mà các biểu tượng phồn
thực trong thơ Hồ Xuân Hương được độc giả cảm thông và tiếp cận một cách dễ dàng không chỉ
vì trên nền một cộng cảm chung, mà dường như nó ở sẵn trong mỗi người. Bằng ngôn ngữ tuyệt
vời của mình, nhà thơ đã nói ra điều đó, tức hữu thức hóa cái vô thức, hiển minh hóa cái còn tù
mù trong độc giả. Bởi vậy nói theo ngôn ngữ Hồ Xuân Hương, siêu mẫu là sợi dây xuyên suốt và
kết nối mỗi người chúng ta lại với nhau, như cái đinh kết nối những nan quạt một lỗ xâu mấy
cũng vừa (Cái Quạt).
Đọc thơ Hồ Xuân Hương ta thấy những biểu tượng phồn thực là nỗi ám ảnh của bà, trước hết ở
tính toàn diện của nó, nghĩa là ở đâu cũng có mặt, từ những hình ảnh có tính thật đến những ảo
giác. Vào thế giới Hồ Xuân Hương như vào một thế giới kính vạn gương, những biểu tượng
mang tính phồn thực được nhân lên đến vô hạn, tạo thành nột thế giới riêng biệt, tuy không khỏi
những biến ảnh dị dạng, đó là ống kính đặc tả của nhà thơ để ghi lại những trạng thái xung mãn
nhất của sự sống.
Những biểu hiện phồn thực của thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hương rất đa dạng và phong phú,
sự phong phú của chúng có thể phân loại thành nhiều kiểu. Đầu tiên là sự phân loại liên quan đến
các bộ phận của các cơ quan sinh sản như sinh thực khí: hang (Cắc Cớ, Thanh Hóa), động
(Hương Tích), đèo (Ba Dội), kẽm (Trống), cửa (qua cửa đó), giếng (Cầu trắng phau phau đôi ván
ghép), lỗ (cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không), kẽ hầm (rêu mốc trơ toen hoẻn), kẽ rêu (trưa trật nào ai
mốc kẻ rêu), cái quạt (Chành ra ba gốc da còn thiếu, Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa), miệng túi
(càn khôn)… Các biểu tượng phồn thực liên quan đến sinh thực khí nam như: Sừng (dê cỏn buồn
sừng húc dậu thưa), cán cân (tạo hóa rơi đâu mất), dùi trống (trống thủng vì chưng kẻ nặng dùi),
con suốt (đâm ngang thích thích mau), cọc (cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không), hòn đá (đâm toạc chân
mây); hành vi tính giao: đánh đu (Giai đu gối hạc lom khom cật, Gái uốn lưng cong ngửa ngửa
lòng), dệt cửi (hai chân đạp xuống năng năng nhắc, Một suốt đâm ngang thích thích mau), đánh
trống (Ngày vắng đập tung dăm bảy chiếc, đêm thanh tỏm cắc đôi hồi, Khi giang thẳng cánh bù
khi cúi, chiến đứng không thôi lại chiến ngồi), châm (ong non ngứa nọc châm hoa rữa), húc (dê
con buồn sừng húc dậu thưa)…
Trong biểu tượng phồn thực, hình ảnh sinh thực khí nữ trong thơ Hồ Xuân Hương thường liên
quan đến tính chất sáng thế, trong sự lưỡng phân thì trời là cha, đất là mẹ, con người, cũng như
muôn loài, được sinh ra trong lòng đất mẹ, từ hang động, bang giếng,… bởi vậy một cách tự
nhiên, người ta coi hang động, bang giếng như sinh thực khí nữ, nơi con người từ bụng mẹ (đất)
đi ra. Hang động cũng là nơi những người sơ thủy cư trú, chở che họ khỏi nắng mưa, giá rét, bảo
vệ họ khỏi kẻ thù, thú dữ. Ở đây cũng là nơi người ta vẽ lên vách đá nhưng bức tranh mang ý
nghĩa ma thuật, thiêng liêng.
Thơ Hồ Xuân Hương đầy ám ảnh bởi những biểu tượng hang động: Động Hương Tích, Hang
Cắc Cớ, Hang Thanh Hóa, Kẽm trống, Đèo Ba Dội, Qua Cửa Đó…
Đây là bài thơ hang Cắc Cớ:
Trời đất sinh ra một cái chòm,
Nứt làm đôi mảnh hỏm hòm hom.
Kẻ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn,
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm.
Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,


Con đường vô ngạn tối om om.
Khéo ai đẽo đá tài xuyên tạc,
Khéo hớ hanh ra lắm kẻ dòm!
Bài thơ tả cảnh một cái hang – hang Cắc Cớ, rất thực đúng. Nhưng việc sử dụng một số từ có
dụng ý như nứt làm đôi mảnh, kẽ hầm rêu mốc, giọt nước hữu tình, con đường vô ngạn, hớ hanh,
đẽo đá, xuyên (tạc) và tử vận om (chòm, phòm, lõm bõm, om dòm) kề cận nhau trong một văn
bản nên đã dậy nên một nghĩa khác, nghĩa ngầm sinh thực khí nữ. Cả hai nghĩa này đều rất đúng
và không thể tách khỏi nhau được.
Túi càn khôn cũng là một biểu tượng liên quan đến sinh thực khí nữ. Theo huyền thoại của nhiều
tộc người trên thế giới: xưa trời đất là một khối hỗn mang, nguyên lý đực nguyên lý cái lẫn lộn
chưa phân biệt, sau đó là sự phân biệt tính giao và sinh đẻ con cái: Trời đất tách nhau tạo thành
khoảng không. Bẩu trời, túi vũ trụ, túi càn khôn trở thành biểu tượng của sinh thực khí nữ, của
cái rỗng không có khả năng sinh sản. Đây là một liên tưởng về chức năng có tính vũ trụ luận, từ
liên tưởng này mới có chuyện: Tối ba mươi khéo cách càn khôn…Sáng mồng một lỏng then tạo
hóa. Hay khi ông Phú Vĩnh Tường chết nhân vật trữ tình mới khóc:
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất,
Miệng túi càn khôn khép lại rồi.
(Khóc ông Phú Vĩnh Tường)
Những biểu tượng gốc liên quan đến sinh thực khí nữ trong thơ Hồ Xuân Hương thì rất nhiều,
nhưng biểu tượng gốc liên quan đến sinh thực khí nam thì rất ít. Sự thưa vắng này hẳn không
phải do văn hóa Việt, một nền văn hóa trọng thực vật, thờ bà Ỷ Lan và Ỷ La, nên ít hơn nền văn
hóa Ấn thờ Shiva, một thần sáng tạo vũ trụ đồng thời cũng là thân Dương vật, trong thơ Hồ Xuân
Hương cũng có biểu tượng khá độc đáo là sừng:
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa,
Dê con buồn sừng húc dậu thưa.
(Lũ Ngẩn Ngơ)
Trong tâm thức nguyên thủy, sừng của con bò mộng thường được ví với trăng lưỡi liềm và được
đồng nhất với mặt trăng. Mặt trăng vừa liên quan đến nước vừa là biểu tượng của sự sinh thành
trong chu kì một vòng đời, nên con bò đực cũng đồng nhất với các thần phồn sinh, phồn thực,
thần mưa…
Những biểu tượng liên quan đến hành động tính giao giữa người, ta thấy rõ nhất trong các trò
chơi: múa co, múa nỏ nường, ném còn,… Trong thơ Hồ Xuân Hương, một trong những biểu
tượng của hành động tính giao có lẽ cổ sơ hơn đánh đu:
Bốn cột khen ai khéo léo trồng,
Người thì lên đánh kẻ ngồi trông.
Trai đu gối hạc khom khom cật,
Gái uốn lưng công ngửa ngửa lòng.
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,
Hai hàng chân dọc duỗi song song.
Chơi xuân đã biết xuân chẳng tá ?
Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không!
(Đánh Đu)
Bài thơ của Hồ Xuân Hương tả cảnh đánh đu thật tuyệt vời, bài thơ đầy những chuyển động,
những màu sắc không khí tươi vui của xuân trong trời đất, trong lòng người: các từ láy đôi đầ y
ám chỉ khéo khéo, khom khom, ngửa ngửa, phơi phới, song song,… làm bài thơ dậy lên một
nghĩa khác, nghĩa chỉ hành động tính giao.


Trên đây là một vài biểu tượng phồn thực gốc có mặt trong thơ của Hồ Xuân Hương và trong
văn hóa tín ngưỡng của dân gian, nó mang trên mình những dấu tích tuy bị thời gian làm chìm
khuất nhưng không bao giờ mất của tín ngưỡng phồn thực, nó là những điểm chứa năng lượng và
phát sáng trong thơ nữ thi sĩ.
Thơ Hồ Xuân Hương còn nhiều biểu tượng phồn thực khác vốn không nằm trong kho trời chung,
mà do chính tay bà sáng tạo ra. Những biểu tượng này không có nghĩa tự thân ngoài văn bản thơ,
hay nói đúng hơn ở ngoài đời chúng mang nghĩa khác, nhưng trong thơ Hồ Xuân Hương chúng
mang nghĩa phồn thực. Trong đời sống thường nhật biết bao sự vật, hành động ta thường gặp,
không có một ý nghĩa nào khác ngoài ý nghĩa tự thân của nó. Vậy mà trong văn cảnh thơ Hồ
Xuân Hương nó bỗng mang một ý nghĩa khác như: Mặt trăng (Một trái trăng thu chín mõm
mòm, Nảy vừng quế đỏ đỏ lòm lom, Giữa in chiếc bích khuôn còn méo, Ngoài khép đôi cung
cánh vẫn khòm), lâm tuyền (Rừng suối) một từ Hán Việt rất mờ nghĩa, chỉ khái quát nhưng trong
câu Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại. Rõ khéo trời già đến dở dom! Của bài thơ vịnh Động
Hương Tích thì lâm tuyền lại phục nguyên nghĩa, nôm na mách qué, là rừng suối để gợi đến hình
ảnh sinh thực khí nữ.
Những câu thơ Hồ Xuân Hương chính hay và độc đáo bởi nghĩa hai mặt của nó. Hầu hết những
bài thơ của Hồ Xuân Hương mang hai nét nghĩa: Nghĩ phô và nghĩa ngầm (Xuân Diệu). Cái
nghĩa hai mặt biến hóa tài tình, chứa đựng những bí mật riêng của Hồ Xuân Hương, chứa đựng
tài năng. Đó là những biểu tượng do bà sáng tạo ra bên các những biểu tượng gốc tồn tại lâu dài
trong kí ức cộng đồng, trong lễ hội.
Để xây dựng hình ảnh – biểu tượng đầy những bất ngờ thú vị như vậy, Hồ Xuân Hương đã dựa
vào tư duy liên tưởng. Chính sự liên tưởng thâm trầm đó, một mặt làm cho các biểu tượng phồn
thực trong thơ Hồ Xuân Hương sinh sôi nảy nở vô cùng phong phú, đa dạng, mặt khác làm cho
các biểu tượng đó đều có tính lấp lững, hai nghĩa, lưỡng trị một đặc sắc thơ Hồ Xuân Hương. Ví
dụ bài thơ Dệt cửi:
Thắp ngọn đèn thấy trắng phau
Con cò mấp máy suốt đêm thâu,
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc,
Một suốt đâm ngang thích thích mau.
Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả,
Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau.
Cô nào muốn tốt ngâm cho kĩ,
Chờ đến ba thu mới dãi màu.
Bài thơ rõ ràng là có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất, nghĩa do nhan đề bài thơ mách bảo là tả người
dệt cửi, từ khung cảnh ban đêm, màu trắng của sợi, các bộ phận của khung cửi như: con cò, suốt,
khuôn khỗ… đến các tác động của người và công cụ lao động (Hai chân đạp xuống năng năng
nhắc,Một suốt đâm ngang thích thích mau.) đều được miêu tả chính xác. Điều kì lạ là việc miêu
tả công việc dệt cửi chính xác bao nhiêu thì càng nổi lên nghĩa chìm bấy nhiêu: đó là hành động
tính giao, cái nghĩa thứ hai này cũng được miêu tả rất chính xác. Như vậy, mỗi một từ, một câu
trong bài thơ của Hồ Xuân Hương đều ánh lên hai nghĩa: nghĩa phô và nghĩa ngầm (Xuân Diệu),
nghĩa thanh và nghĩa tục. Điều đặc biệt là hai nghĩa này xoắn luyến vào nhau không thể tách ra
được. Nhà thơ Xuân Diệu đã nói rất đúng. “Thơ Hồ Xuân Hương tục hay là thanh? Đố ai bắt
được: bảo rằng nó hoàn toàn là thanh, thì cái nghĩa thứ hai của nó có giấu được ai, mà Xuân
Hương muốn dấu đâu. Mà bảo rằng nó là nhảm nhí, là tục thì có gì là tục nào?”
Chúng ta không hoảng hốt khi cắt nghĩa những biểu tượng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương,
giản dị bởi đó là câu chuyện phồn thực, những biểu tượng gần gũi của dân tộc và toàn nhân loại.


Thơ Hồ Xuân Hương hoàn toàn mô tả đúng bản chất sự vật, không gợn bản chất của một tâm
hồn dâm đãng. Những tâm hồn chỉ chờ để phân tích cái nghĩa mà họ cho là đen tối thì đã nhầm.
Xuân Diệu đã từng bênh vực cho Hồ Xuân Hương: “Không phải cái gì vướng lề thói tập tục
thông thường là chìm đi ngay, như vậy làm cho văn học nghèo đi, và như vậy sẽ có những vùng
rất lớn của tâm tư con người mà không ai dám bén mảng, dò la đến nữa, những vùng sâu thẳm,
rộng lớn đó là những mạch nước ngầm rấ quan trọng”. Những hình tượng trong thơ Hồ Xuân
Hương luôn sống lên, luôn luôn cử động như những con mồi rơm dưới câu thần chú của người
phụ nữ cao tay ấy. Thơ Hồ Xuân Hương vừa thanh, vừa tục. Bởi nó gắn với một điều thiêng liêng
là sự cầu mong sinh sôi nảy nở. Những con người thường nhật, những con người tiêu dùng phần
lớn là sống trong thời gian đồng đại, sống là sống cuộc đời chính thức, cho nên mặc nhiên tiếp
nhận những biểu tượng này là dâm, là tục, là cấm kỵ. Bởi vậy, cũng như các lễ hội, thơ Hồ Xuân
Hương là sự vi phạm một cách trang nghiêm các cấm kỵ do ý thức xã hội dựng nên. Do lễ hội là
một không gian, thời gian đặc biệt mà trong đó cái không thể cũng có thể trở thành có thể¸nên
cái hành động bất ngờ là phạm vi cấm kỵ, được chấp nhận là bình thường. Còn thơ Hồ Xuân
Hương thì vi phạm cấm kỵ trong khung thời gian thường nhật, lại bằng chữ nghĩa, bằng thơ nên
đã gây một tâm lý chống đối dữ dội của ý thức chính thống. Vậy làm thế nào để hóa giải sự
chống đối này, đúng hơn là bắt ý thức chính thống phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Đây là một thách
thức lớn đối với Hồ Xuân Hương.
Tín ngưỡng văn hóa phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương.
Tác giả Trần Thanh Mại trong bài viết “Thử bàn lại vấn đề dâm và tục trong thơ Hồ Xuân
Hương ” đã từng nói: “Đứng trên quan điểm mĩ học tiên tiến mà nói thì văn học nghệ thuật
không thể hiểu và thưởng thức một cách phiếm diện, nửa chừng”. Điều đó đã thôi thúc người
viết muốn khám phá tận cùng trên con đường đi tìm yếu tố phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương,
khẳng định phồn thực là tinh hoa mà bà đem đến cho văn học Việt nam. Hồ Xuân Hương là nhà
thơ cổ điển táo bạo nhất, thành thực với chính mình nhất. Từ biểu tượng của sinh thực khí đến
những hình ảnh giao hoan nam nữ đều hiện lên sinh động trên nền ngôn ngữ diễm lệ. Những biểu
tượng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương mang một ý nghĩa trào lộng để gây cười, nó vừa dâm
vừa không dâm, thanh mà tục, tục mà thanh. Những biểu tượng ám ảnh ấy không hề dậy lên một
thú tính nhục dục để khơi gợi những ấn tượng, những cảm giác không lành mạnh cho người đọc.
Biểu tượng ám ảnh của tín ngưỡng văn hóa lâu đời của ông cha ta, hình ảnh thiêng liêng và trần
tục nhất của con người được nữ thi sĩ đem vào con đường thơ như một thứ vũ khí để tát vào mặt
bọn quan lại thống trị, bọn vua chúa phong kiến, bọn trí thức nghêu ngao, nhưng đã bị tha hóa về
đạo đức:
Chành ra ba góc da còn thiếu
thế mà
Mát mặt quân tử khi tắt gió
Che đầu quân tử lúc mưa sa
Hình ảnh sinh thực khí nữ đem đặt đối lập với khuôn mặt chứa đầy những cảm xúc nhục tính của
bọn hiền nhân quân tử. Thật là hả hê! Đó là tiếng nối phản kháng nhưng cũng chính là tiếng cười
trào lộng, hài hước. Lời phê phán, đả kích mạnh mẽ đến thế thật hiếm thấy trong thơ một người
đàn bà luôn phải cô độc, lẻ loi chống chọi với phong kiến như Hồ Xuân Hương.
Những bài thơ ám chỉ đến biểu tượng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương nhiều vô kể, bà ám
chỉ các bộ phận sinh dục xong rồi, bao giờ cũng nói đến chuyện tình dục như một bản thể sinh
dục tự nhiên, như đặc điểm của tín ngưỡng phồn thực luôn mà bà luôn ca ngợi. Theo bà, giao
hòa nam nữ là một chuyện hoàn toàn bình thường. Tín ngưỡng phồn thực đem ra thờ sinh thực
khí đã chứng minh cho Hồ Xuân Hương không hề đem bản năng, khát vọng luyến ái của mình đi


quá xa. Đề cập đến tình dục như một nhu cầu, một khát vọng thì Hồ Xuân Hương là người duy
nhất đi trước thế hệ của bà hàng trăm năm. Và tất nhiên, Hồ Xuân Hương sẽ mãi luôn tìm được
tiếng nói đồng tình khi sống trên đất nước mà phồn thực đã trở thành tín ngưỡng văn hóa.
Điều đặc biệt trong lối thơ phồn thực của là Hồ Xuân Hương là đã làm nhiệm vụ của tiếng nói
nhân văn cao cả. Đó là tiếng nói mạnh mẽ, táo bạo nhất của người đàn bà phải sống trong vòng
vây phong kiến. Đồng cảm với người đàn bà thì có rất nhiều nhà văn, nhà thơ. Nhưng hiếm
người đem cái lộ liễu, đem cái tinh hoa trời phú cho từng giới mà đồng cảm. Bà đã xây dựng nên
hình ảnh người đàn bà mà bóng của nó bao trùm lên bóng của người đàn ông. Hồ Xuân Hương
quan tâm đến hạnh phúc cá nhân, nhất là hạnh phúc người phụ nữ. Hôn nhân với người đàn bà
không phải là một cuộc chơi và người đàn bà không phải là một thứ đồ chơi.
Muốn nói gì thì nói tình dục – cái cốt lõi của phồn thực, đóng một vai trò quan trọng trong hôn
nhân và cuộc sống. Hồ Xuân Hương là người duy nhất nói thẳng vào điều đó và ca ngợi nó. Là
người phụ nữ mà đường tình duyên không mấy thuận lợi, lại sống trong xã hội không thừa nhận
yêu đương và tự do yêu đương, vì thế mà Hồ Xuân Hương cay đắng lên tiếng. Văn hóa phương
Đông ngần ngại khi nói đến tình dục, đến giao hoan nam nữ. Tinh hoa thơ Hồ Xuân Hương gói
trọn trong những cảm xúc nhân văn của bà. Yếu tố phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương biểu
hiện ở một mức độ lành mạnh và khỏe khoắn. Hồ Xuân Hương không dâm đãng như lời oan
nghiệt của giai cấp phong kiến đương thời giành cho bà. Thơ Hồ Xuân Hương nằm trong trào
lưu lịch sử mà tiếng nói cá nhân bị chặn đứng, bà không phải là một hiện tượng riêng lẻ, và nhất
định không phải là một bệnh thái. Hồn thơ phồn thực trong Hồ Xuân Hương đã đạt đến độ cao
nhất của nghệ thuật biểu hiện tư tưởng nhân đạo, gần như đứng chênh vênh trên bờ vực thẳm của
chủ nghĩa tự nhiên mà không bao giờ sa xuống vực.
Người viết đã không theo cảm tính khi tiếp nhận một đề tài nhạy cảm về thơ Hồ Xuân Hương.
Đúng như lời ca ngợi của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học.” Chính quan niệm bình thường,
coi tình dục là một đặc tính hết sức tự nhiên của con người cho nên Hồ Xuân Hương đã tìm đến
tự nhiên để gửi gắm tư tưởng của mình”. Người đọc rạo rực trước một thiên nhiên căng tròn sức
sống, một thiên nhiên luôn luôn cựa quậy, động đậy và tươi rói màu sắc. Quan niệm tình dục là
đặc tính tự nhiên của con người nhưng Hồ Xuân Hương không tìm thấy lời giải đáp trong xã hội,
bà đã đi tìm lời giải đáp trong tự nhiên. Bà tìm về tự nhiên và chẳng tin một giáo lí,một quy định
nào cả. Mọi giáo lí, pháp luật đều do con người sinh ra để hành hạ nhau. Và chính tín ngưỡng tự
nhiên- tín ngưỡng văn hóa- tín ngưỡng phồn thực đã giúp Hồ Xuân Hương giải phóng mình một
cách tự nhiên nhất. Phồn thực chính là tinh hoa thơ Hồ Xuân Hương, yếu tố văn hóa ấy đã giúp
bà đến với người đọc theo con đường đồng tình và đồng cảm tự nhiên nhất. Yếu tố phồn thực
trong thơ Hồ Xuân Hương tuyệt nhiên đã không làm chức năng “Giáo khoa” về sinh lí ở những
thời mà con người kinh qua cuộc sống vợ chồng trong trạng thái là gần như “vô giáo dục” về
tình dục, mà phồn thực chính là ngọn nguồn tôn giáo, tín ngưỡng của người Việt. Thơ Hồ Xuân
Hương chỉ hạn chế và đã từng bị hạn chế bởi xã hội mà bà sống, hạn chế trong quan niệm của
Nho, Phật, Lão nhưng không vì thế mà bây giờ thơ bà bị cô lập với người đọc. Trước quan niệm
đổi mới về tu duy và quan niệm sống, thơ Hồ Xuân Hương ngày càng thu hút nhiều đọc giả hơn.
Đa dạng những công trình nghiên cứu, sách phê bình, tiểu luận, tạp chí đã ca ngợi Hồ Xuân
Hương, đã chứng minh cho sức sống bất diệt cũng như sự nghiệp thơ văn đồ sộ của bậc tài hoa,
kì nữ này. Chúng ta gửi đến nữ sĩ niềm trân trọng và cảm phục. Hồ Xuân Hương - Một người
phụ nữ tiềm tàng ý chí và nghị lực đã làm sống lại năn học tiếng Việt – văn học thành văn ở giai
đoạn cổ điển của nó cả một truyền thống văn hóa phồn thực hùng hậu.
KẾT LUẬN


Mấy trăm năm qua, không ai là không cảm thấy hứng thú khi đọc thơ Hồ Xuân Hương .Tiếng
cười trong thơ Hồ Xuân Hương đã làm phong phú và sâu sắc hơn tiếng cười dân gian. Thơ Hồ
Xuân Hương chính là một phương diện khác để biểu hiện cái thiêng liêng bên cạnh phương thức
tín ngững dân gian. Bằng tài năng nghệ thuật của mình, đặc biệt là tài năng sử dụng tiếng Việt,
Hồ Xuân Hương một mặt đã biến những bài thơ của mình thành một hội hề ngôn ngữ, một lễ hội
trong đó sự thiêng liêng đã bước qua khỏi cái ranh giới đời thường, hòa nhập làm một. Mặt khác,
mỗi từ, mỗi câu, mỗi hình ảnh trong thơ bà đều lấp lửng nghĩa hai mặt, vừa thiêng, vừa tục, vừa
tục, vừa thiêng được đặt nơi mảnh đất riêng của phồn thực. Đọc thơ Hồ Xuân Hương, người đọc
luôn được chuyển đi từ cực này sang cực khi trong cái không gian đạo đức- thẩm mĩ của bà. Một
người phụ nữ táo bạo nhất của nền văn học cổ điển đã giám dứng lên chống lại phong kiến bằng
tiếng cười trào lộng qua những biểu tượng ám ảnh con người. Chúng ta ca ngợi và cảm phục nữ
thi sĩ Hồ Xuân Hương đã đưa phồn thực vào trong thơ văn một cách khéo léo đến tuyệt vời. Và
có lẽ cái tâm lí sục sôi những niềm khát khao yêu đương, hạnh phúc của thi sĩ Xuân Hương cũng
mãnh liệt như khát vọng sinh sôi, nảy nở phát triển hơn nữa trong tín ngưỡng phồn thực của
người Việt.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×