Tải bản đầy đủ

Nhìn lại phong trào thơ mới

Nhìn Lại Phong Trào Thơ Mới
Hoài Chân
Cũng như nàng Kiều của Nguyễn Du, cuộc đời nàng Thơ
mới cũng ba chìm bảy nổi. Sau Cách Mạng tháng Tám, trong
suốt bốn mươi năm nàng Thơ mới "ở không yên ổn ngồi không
vững vàng". Chỉ từ mười năm trở lại đây, dưới làn gió đổi mới,
giá tri. Thơ mới mới dần dần được nhìn nhận thoả đáng.
Trong bài "Một thời đại trong thi ca" đầu cuốn "Thi nhân
Việt Nam", chúng tôi - Hoài Thanh và Hoài Chân - đã phác qua
lịch sử phong trào Thơ mới, đã phân tích tính chất và nội dung
của Thơ mới\. Sự phân tích ấy đến bây giờ tôi vẫn thấy là đúng.
Nhưng nay sau hơn nửa thế kỷ, nhìn lại phong trào Thơ mới tôi
thấy rõ hơn một số điểm.
Hai bài thơ tuyên ngôn của phong trào Thơ mới:
Cũng như nhiều trường phái thi ca, phong trào Thơ mới
có bản tuyên ngôn của nó. Mà lại có đến hai bản tuyên ngôn
(1).
Bản tuyên ngôn thứ nhất là bài thơ "Cây đàn muôn điệu"
của Thế Lữ, người có công đầu trong việc xây dựng nền Thơ
mới. Bài ấy nêu cao "tinh thần" của Thơ mới: Thơ mới là tiếng
nói của cái tôi\. Bài thơ có 36 câu mà có đến 15 chữ tôi. Xin

trích 11 câu của bài thơ ấy:
Tôi chỉ là một khách tình si
Ham vẻ đẹp có muôn hình, muôn thể
Mượn lấy bút nàng Ly Tao, tôi vẽ
Và mượn cây đàn ngàn phím, tôi ca
Vẻ đẹp u trầm, đắm đuối, hay ngây thơ
Cũng như vẻ đẹp cao siêu, hùng tráng


Của non nước, của thi văn, tư tưởng...
(.....)
Với Nàng Thơ, tôi có đàn muôn điệu
Với Nàng Thơ, tôi có bút muôn màu
Tôi muốn làm nhà nghệ sĩ nhiệm mầu
Lây thanh sắc trần gian làm tài liệu
Bản tuyên ngôn thứ hai là bài thơ "Cảm xúc" của Xuân
Diệu, nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới\. Như tên
bài thơ, bài "Cảm xúc" nói về lối cảm xúc mới của nhà thơ\. Xin
trích ba đoạn (12 câu) trong số sáu đoạn (24 câu) của bài ấy:
Là thi sĩ là ru với gió
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây
Để linh hồn ràng buộc với muôn dây
Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến
(.....)
Ta ấp ngực dò xem triều máu lê.
Nghìn trái tim mang trong một trái tim
Để hiểu vào giọng suối với lời chim
Tiếng mưa khóc lời reo tia nắng động
(.....)
Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ
Mà vạn vật là muôn đám nam châm
Nếu hương đêm say dậy với trăng rằm


Sao lại trách người thơ tình lơi lả
Bài "Cây đàn muôn điệu" và bài "Cảm xúc" đều được
đăng trên báo Phong Hóa trong năm 1933, bài đăng sau (Cảm
xúc) Xuân Diệu đề tặng Thế Lữ, có thể xem như hoạ lại bài
đăng trước (Cây đàn muôn điệu).
Một thời đại thi ca phong phú:


Phong trào Thơ mới bắt đầu từ năm 1932, năm ông Phan
Khôi đề xướng phong trào và kết thúc năm 1941 (2), năm nhà
thơ mới Chế Lan Viên đề tựa tập "Mùa cổ điển" của Quách Tấn,
một tập thơ cũ được nhiều nhà thơ mới hoan nghênh (3).
Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một
hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng
tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo
não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế
Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.
Nêu tên tám nhà thơ ấy là nêu tên tám nhà thơ tiêu biểu
cho phong trào Thơ mới. Phong trào có chừng năm mươi nhà
thơ phong cách khác nhau mặc dù một số có chịu ảnh hưởng
lẫn nhau.
Phong trào Thơ mới phong phú không chỉ ở số các nhà
thơ mà còn ở số lượng những bài thơ hay\. Cuốn "Thi nhân Việt
Nam" đã chọn in 169 bài, phần lớn là những bài thơ hay\.
Nhưng còn biết bao nhiêu bài hay không được đưa vào "Thi
nhân Việt Nam": Xuân Diệu chỉ có 15 trong số 72 bài (trong
"Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió") được chọn in cho trong
Tuyển tập Xuân Diệu I, Huy Cận chỉ có 11 trong số 34 bài
(trong "Lửa thiêng") được chọn in trong Tuyển tập Huy Cận I,
Thế Lữ chỉ có 7 bài, Lưu Trọng Lư 7 bài, Nguyễn Bính 8 bài, Chế
Lan Viên 8 bài, Hàn Mặc Tử 7 bài, Nguyễn Nhược Pháp 2 bài,
Thâm Tâm 1 bài, thơ Trần Huyền Trân chỉ được bình qua mà
không được trích một bài nào. "Tiếng địch sông Ô" -- bài anh
hùng ca nổi tiếng của Huy Thông -- chỉ được trích mấy câu mà
không được in trọn bài. Bài "Đây thôn Vĩ Dạ" -- một bài thơ kiệt
tác của Hàn Mặc Tử-cũng không được in trong "Thi nhân Việt
Nam".


Tôi nêu cụ thể như trên để nói rằng còn hằng trăm bài
thơ hay không được chọn in vào cuốn "Thi nhân Việt Nam". Và
để khẳng định: một thời đại chỉ có mười năm mà ta thấy xuất
hiện cùng một lần hơn năm mươi nhà thơ với hàng mấy trăm
bài thơ hay, đúng là một thời đại phong phú trong lịch sử thi ca
Việt Nam.
Về cái buồn của Thơ mới:
Về cái buồn của Thơ mới, năm 1941 chúng tôi đã viết ở
cuối bài "Một thời đại trong thi ca":
"Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi
tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên
cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư,
ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử , Chế Lan Viên, ta đắm say cùng
Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên
cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn trở về hồn ta
cùng Huy Cận. Cả trời thực trời mộng vẫn nao nao theo hồn ta.
Thực chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn và nhất là xôn xao như
thế".
Đúng là Thơ mới buồn, buồn nhiều. Nhưng vấn đề không
ở chỗ buồn nhiều hay buồn ít, mà ở chỗ: cái buồn ấy phải
chăng là mặt tiêu cực của Thơ mới, phải chăng cái buồn ấy là
cái buồn ủy mị dẫn đến bi quan mất tin tưởng ? Muốn biết cái
buồn của Thơ mới là cái thứ buồn gì ta phải tìm trong thơ các
nhà thơ tiêu biểu cho phong trào Thơ mới\. Thế Lữ buồn cả khi
được thoát lên tiên. "Tiếng sáo thiên thai" dội vào lòng nhà thơ
một nỗi buồn mênh mông xa vắng:
Tiếng đưa hiu hắt bên lòng
Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn !
Ở cõi trần Thế Lữ càng buồn. Nỗi lòng của Thế Lữ là nỗi "Nhớ
rừng" của con hổ trong vườn bách thú:
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan


Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới !
...Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu !
Nói về cái buồn của Lưu Trọng Lư chúng ta đều biết Lưu Trọng
Lư buồn nhiều, đau khổ nhiều vì tình yêu, nhưng Lưu Trọng Lư
cũng có những nỗi buồn khác, tiêu biểu là nỗi buồn trong
"Tiếng thu":
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phu.
Em không nghe mùa thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô
Với Chế Lan Viên "tất cả như vô nghĩa, tất cả không ngoài
nghĩa khổ đau". Một nỗi đau khổ triền miên của Chế Lan Viên
là "nỗi buồn thương nhớ tiếc giống dân Hời".
Cái buồn trong thơ Hàn Mặc Tử phần lớn là cái buồn đau đời,
không chỉ đau về tâm hồn mà đau cả về thể xác. Nhiều bài thơ
của Hàn Mặc Tử là những tiếng kêu thương thống thiết.
Còn Xuân Diệu, nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới,
Xuân Diệu buồn ít hay buồn nhiều ? Tôi nghĩ phải là người đau
buồn nhiều mới viết được những câu buồn "nhức xương" như:
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi


Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời
(...)
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm !
Có lẽ người hay buồn nhất là Huy Cận. Chính Huy Cận đã
tự xưng ở câu mở đầu bài "Mai sau" viết năm 1940: "Chàng
Huy Cận khi xưa hay buồn lắm."
Qua thơ mình Huy Cận nói cùng ta nỗi buồn nơi quán
chật đèo cao, nỗi buồn của sông dài trời rộng, nỗi buồn của
người lữ thứ dừng ngựa trên non, buồn đêm mưa, buồn nhớ
bạn, buồn khi nắng lên, buồn khi chiều xuống, buồn cả khi
không còn thấy những dấu chân trên đường...
Huy Cận gọi những nỗi buồn ấy là "nỗi hiu quạnh của hồn buồn
không có", nhưng ta thấy rõ là "có cớ" và ngay câu thứ tám bài
"Mai sau" nói là nhà thơ "cùng đất nước mà nặng buồn đất
nước."
Đến đây chúng ta đều thấy cái nỗi buồn của Thơ mới không
phải là cái buồn ủy mị bạc nhược mà là cái buồn của những
người có tâm huyết, đau buồn vì bế tắc chưa tìm ra lối thoát,
cho nên một khi thấy ánh sáng của cách mạng, hầu hết các
nhà thơ mới đều đi theo cách mạng và người đi theo cách
mạng sớm nhất lại là người "khi xưa hay sầu lắm". (4)
o0o
Thơ mới đã trở thành một di sản của văn học dân tộc.
Đối xử với Thơ mới -- tất nhiên là đối với những bài Thơ mới
xuất sắc -- phải như đối xử với những tinh hoa của di sản văn
học dân tộc.
Riêng với tôi thời thanh niên đã từng sống trong lòng
phong trào Thơ mới, đã từng ru hồn tôi với hồn Thơ mới, nay
đọc lại Thơ mới tôi thấy như được sống lại những năm đầy thơ
mộng nhưng cũng đầy buồn tủi của lứa tuổi hai mươi.


Và nàng Thơ mới tuy nay đã trên sáu mươi tuổi, tôi vẫn thấy
nàng vẫn xinh tươi như thời thơ ấu:
Hoa tàn mà vẫn xinh tươi
Trăng tàn mà vẫn như hồi rằm xưa (5)
Ghi chú:
(1) Bài "Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ" của ông
Phan Khôi (Phu. Nữ Tân Văn số 122 ra ngày 10-3-1932) không
thể xem là bản tuyên ngôn của phong trào Thơ mới vì định
nghĩa Thơ mới rất không đầy đủ.
(2) Thật ra phong trào Thơ mới kéo dài đến Cách mạng tháng
Tám.
(3)Chế Lan Viên viết trong lời tựa "Mùa cổ điển": "Phân chia bờ
cõi thơ bằng hai chữ mới cũ chẳng có ý nghĩa gì".
(4) Huy Cận tham gia hoạt động trong Mặt trận Việt Minh từ
đầu năm 1942.
(5)Nguyên văn trong truyện Kiều:
Hoa tàn mà lại thêm tươi
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×