Tải bản đầy đủ

NHỮNG lớp SÓNG NGÔN từ TRONG bài THƠ TRE VIỆT NAM

NHỮNG LỚP SÓNG NGÔN TỪ TRONG BÀI THƠ TRE VIỆT NAM
11/10/2008 15:41 | 7,589 lượt xem
Cây tre, từ lâu đã trở thành một trong những biểu tượng đẹp đẽ về sức sống và phẩm
cách của con người Việt Nam. Bài “Tre Việt Nam” được Nguyễn Duy sáng tác trong thời kỳ
đế quốc Mỹ đang tiến hành cuộc chiến tranh huỷ diệt đất nước ta, thêm một lần nữa khẳng
định điều này bằng những hình ảnh giàu sức khái quát và cách nói hồn nhiên, trong sáng:
Tre xanh,/
Xanh tự bao giờ?//
Và liền sau đó là một câu trả lời: Chuyện ngày xưa... Chuyện về cây tre gợi cho người
đọc khả năng liên tưởng đến những thần thoại, cổ tích. Chính không khí huyền thoại của khổ
thơ đầu đã góp phần làm cho độc giả trong suốt cả bài thơ hiểu rõ ý nghĩa biểu trưng của cây
tre Việt Nam. Từng bước, từng bước, qua mỗi khổ thơ, tác giả đã khắc họa hình ảnh cây tre
với những đặc tính của dân tộc Việt Nam: cần cù, lạc quan, thương yêu đùm bọc và kiên
cường, bất khuất.
Đọc xong bài thơ, tôi cứ tự hỏi: có bao nhiêu hình ảnh xuyên suốt bài thơ? Hình như chỉ
có một. Điều này chẳng đã được dự báo từ đầu đề của bài thơ? Đúng thật, bài thơ nói về cây
tre, loại cây mọc khắp làng quê Việt Nam. Đó là tre Việt Nam, có thể hiểu là tre của Việt Nam,
tre ở Việt Nam.
Cây tre thân thiết với mỗi người Việt Nam nên mỗi chi tiết về nó, dù thoáng qua vẫn gợi
nên tình cảm thân thương, quý mến.
Thân gầy guộc, / lá mong manh

Mà sao nên luỹ, / nên thành / tre ơi? //
Những từ gầy guộc, mong manh trong câu thơ giản dị, không có vẻ được trau chuốt
nhưng đọc lên sao xúc động ? Đúng là tả tre nhưng lại thân thiết như nói về ta, nói về chính
ta ?
Ở đâu / tre cũng xanh tươi /
Cho dù đất sỏi / đất vôi bạc màu?
Cũng kì lạ, thuộc vào loại cây thân gầy, lá mỏng, vậy mà sức chịu đựng của tre thật kỳ
diệu! Tre có thể mọc ở bất kỳ đâu, trong điều kiện đất đai cằn cỗi như thế nào... mà vẫn tươi
xanh lạ thường. Dạng đặc biệt của câu hỏi tu từ ở đây là: có câu trả lời, mà là câu trả lời
phiếm chỉ:
Có gì đâu, / có gì đâu /
Mỡ màu ít, / chắt dồn lâu / hoá nhiều.
Rễ siêng / không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ / bấy nhiêu cần cù.
Vươn mình trong gió / tre đu
Cây kham khổ / vẫn hát ru lá cành.
Không biết đây là lời của tác giả hay chính là lời của tre. Có thể là những suy tư của tác
giả về sức tre mãnh liệt, cũng có thể là lời tâm tình của tre. Câu thơ lục bát ở khổ thơ trên
theo nhịp 2/2, đến khổ thơ này đổi thành nhịp 3/3 (Có gì đâu... hoá nhiều). Nhịp điệu có vẻ
như gấp gáp cùng với việc lặp lại: Có gì đâu, có gì đâu thể hiện phần nào đức tính khiêm
nhường và lạc quan của tre. Người ta không thể biết là tre có bao nhiêu rễ thì cũng không thể
biết sự cần cù của tre cao đến mức nào. Không chỉ có tre được nhân hóa mà cả rễ – một bộ
phận của tre – cũng được nhân hoá: Rễ siêng không ngại đất nghèo.


Hai câu cuối của khổ thơ là một hình ảnh đẹp, khái quát lại một phẩm chất của tre, cũng
là của con người Việt Nam: vượt mọi gian khổ, luôn luôn lạc quan, cố gắng phấn đấu vươn
lên (Vươn mình... lá cành). Tre phải chống chọi lại những cơn gió lớn. Thân cây có thể oằn
lại, nhưng tre vẫn sẵn sàng chịu đựng để cho lá cành có thể đùa vui cùng gió.
Trong một đất nước ở vùng nhiệt đới nắng nhiều, tre còn là biểu tượng của sức sống hiên
ngang thần kỳ:
Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh
Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm.
Người đọc nhận ra ngay mình, ra vẻ đẹp kiên cường bất khuất của cộng đồng làng quê
mình.
Khổ thơ tiếp theo là khổ dài nhất, gần mười bốn câu nói đến những phẩm cách quý báu
khác của tre: Tre biết yêu thương, đùm bọc, tre biết truyền cho con cháu “cái gốc” để con
cháu noi theo, tre biết chịu đựng mọi gian khổ, dám hy sinh tất cả cho đời sau. Kết quả là lớp
măng non đã tiếp thu được truyền thống bất khuất của cha ông. Những phẩm cách này của
tre cũng chính là của con người Việt Nam:


Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm, tay níu tre gần nhau thêm
Thương nhau tre không ở riêng
Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người.
Miêu tả những khóm tre trong gió bão mà dùng hình ảnh thân bọc lấy thân, tay ôm tay
níu của thân tre, cành tre thì đúng là hình ảnh của cây tre trong luỹ tre nhưng sao cứ vương
vấn một cái gì khác nữa ngoài tre? Phải chăng là sự thương yêu đoàn kết giữa con người với
nhau ? Tre, có thể liên kết với nhau thành luỹ, là trường hợp duy nhất trong các loài cây được
con người gọi kèm với từ “luỹ”: luỹ tre.
Tuy nhiên, sự đời có gì bền vững mãi, tre già thì măng mọc. Điều quý nhất là tre đã kịp
để lại “cái gốc” cho con cháu noi theo. Tre còn là biểu tượng cho niềm kiêu hãnh, hiên ngang
và hy sinh:
Chẳng may thân gãy cành rơi
Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng
Nòi tre đâu chịu mọc cong
Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường.
Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con.
“Tre già, măng mọc” là quy luật, đồng thời cũng thể hiện sức sống bất diệt của tre, của
sự cần cù, bao dung, yêu thương giống nòi. Măng non là sự tiếp thu truyền thống bất khuất
của cha ông:
Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre.
Nhọn như chông, dáng thẳng thân tròn là những chi tiết chân thực tả cây măng. Nhưng
sao lại Nòi tre đâu chịu mọc cong? Hình như đâu phải chỉ nói đến tre, đến măng mà còn nói
đến ai đó ngoài tre và măng?
Càng đọc càng có thể cảm nhận được: ngoài cây tre là hình ảnh thực còn ẩn hiện một
hình ảnh ảo nữa, hình ảnh về những con người Việt Nam – những con người “suốt cả cuộc
đời từ khi sinh ra đến khi nhắm mắt xuôi tay đều gắn bó với tre, với nứa, với trúc,... những họ
hàng thân thích của tre”. Tre Việt Nam có thể hiểu là tre của Việt Nam, tre ở Việt Nam nhưng
cũng có thể hiểu tre như là Việt Nam. Một cách so sánh rút gọn thành ẩn dụ. Và mạch ẩn dụ


ấy chạy suốt bài thơ, tạo nên vẻ đẹp lấp lánh của mỗi chi tiết. Cho nên thân gầy guộc, lá
mong manh, thân bọc lấy thân, tay ôm tay níu, nòi tre là nói về tre nhưng cũng nói về người.
Chi tiết lưng trần phơi nắng, phơi sương đích thực là chi tiết tả người nông dân một
nắng hai sương nơi đồng quê. Chuyện nhường áo cho con đâu chỉ riêng của tre mà còn của
người. Nó gợi nhớ chuyện cha con Chử Đồng Tử, gợi nhớ đức hy sinh cao đẹp của bao thế hệ
đi trước.
Cả bài thơ, như vậy có hai hình ảnh. Hình ảnh thực, hình ảnh dễ nhận ra là hình ảnh cây
tre. Hình ảnh ảo, hình ảnh khó nhận thấy là hình ảnh con người Việt Nam. Hai hình ảnh ấy
quấn quýt lẫn nhau, hoà vào nhau tạo nên bề sâu cho giọng thơ chân tình, chân thành vương
vấn khắp bài thơ. Tạo nên cái kỳ ảo của bài thơ không chỉ có cách cấu trúc ẩn dụ của hình
ảnh xuyên suốt bài thơ mà còn có màu xanh đặc biệt của tre, một màu xanh trải dài từ câu
đầu tiên đến câu cuối cùng.
Khổ thơ cuối cùng của bài thơ đột ngột thay đổi cách ngắt nhịp, cách ngắt dòng:
Mai sau
Mai sau
Mai sau...
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh.
Có thể nói đến sự trùng điệp ba dòng thơ Mai sau có một giá trị biểu đạt đặc biệt: ý thơ
âm vang bay bổng, câu thơ gợi ra những liên tưởng phong phú. Dòng thơ cuối cùng với ba từ
xanh trong những kết hợp cú pháp đặc sắc gợi một màu sắc trường tồn của tre Việt Nam, của
con người Việt Nam của truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam.
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh
Bài thơ khép lại trong màu xanh hy vọng, màu xanh của sự sống đang nảy nở ra cả chân
trời. Ta đi trong màu xanh ấy để đến tương lai với niềm tin yêu vào đất nước mình.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×