Tải bản đầy đủ

đặc điểm nghệ thuật ngôn từ trong bài thơ bên kia sông đuống

đặc điểm nghệ thuật ngôn từ trong bài thơ Bên kia sông
Đuống,
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đất nước – với những hàng tre xanh, những cánh đồng lúa, những con đường, nơi mà
chúng ta đã lớn lên, nơi mà chúng ta đã bảo vệ những hơi thở cuối cùng để giữ lấy
từng tấc đất của xứ sở, không quản “Sáng ngăn bão giông, chiều ngăn nắng lửa”. Nơi
đó, mãi mãi là niềm tự hào vô biên, mãi mãi là nguồn thơ không bao giờ cạn.
Nghĩ về đất nước, có biết bao nhà thơ đã từng xúc động nghẹn ngào. Khi bình yên, họ
nghe lòng rộn ràng với niềm vui xây dựng quê hương mình, khi giặc đến, họ đau đớn
xót xa quê hương bị gót giày xâm lược tàn phá, lại càng căm giận lũ giặc bạo tàn.
Những tình cảm dâng cao như những đợt sóng ào ào lớn lên thành một dòng cảm
hứng mạnh mẽ bật lên thành thơ. Đó là bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm.
Khi ông nghe tin giặc đánh phá quê hương mình. Cái dồn nén của tình cảm vỡ ra
thành những dòng chữ nghẹn ngào thấm máu và nước mắt, những dòng chữ như vắt ra
từ trái tim nhà thơ với biết bao nhiêu xúc động mạnh mẽ, bao nhiêu yêu thương, bao
nhiêu tình yêu, trân trọng, nâng niu, bao nhiêu nuối tiếc, nhớ nhung, bao nhiêu xót xa
căm phẫn trào ra từ đầu ngọn bút. Đó phải chăng là cảm hứng lớn để ông viết lên
những dòng thơ có sức lay động ghê gớm lòng người? “Thơ chỉ trân trọng tim ta khi
cuộc sống tràn đầy”.
Giờ đây, khi đọc lại những dòng thơ Bên kia sông Đuống, chúng tôi không thể hình

dung ra được cái cảm xúc như thế nào khiến tác giả có thể sáng tác ra bài thơ này.
Nhưng riêng chúng tôi, chúng tôi thì lại hiểu rõ cái cảm xúc buồn đau như bây giờ khi
nghe tin tác giả Hoàng Cầm đã về “Bên kia sông Đuống”. Một quy luật nghiệt ngã mà
ai cũng phải chấp nhận. Nhưng sao, tin thi sĩ ra đi đến vẫn làm cho lòng ta vẫn cảm
thấy đau thắt lại. Vĩnh biệt người đi tìm “Lá diêu bông”, rồi cũng về “Bên kia sông
Đuống”.
Để thể hiện tình cảm của mình đối với nhà thơ chúng tôi cũng muốn làm một điều gì
đó để tiển biệt người về “Bên kia sông Đuống”. Chúng tôi muốn đi vào tìm hiểu Đặc
điểm nghệ thuật ngôn từ trong bài thơ Bên kia sông Đuống với mục đích mong muốn
đóng góp một phần nhỏ của mình để tôn vinh tài năng của thi sĩ Hoàng Cầm.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này không chỉ giúp chúng tôi hiểu hơn về đặc điểm nghệ thuật
ngôn từ trong bài thơ Bên kia sông Đuống, mà nó còn trang bị cho chúng tôi những
kiến thức cơ bản nhất phục vụ cho công việc học tập và nghiên cứu sau này.
3. Lịch sử nghiên cứu
Bên kia Sông Đuống là một tác phẩm lớn mà ngay từ khi ra đời đã được đánh giá cao,
được nhiều đọc giả nổi tiếng quan tâm. Nhiều vấn đề luôn là đối tượng, là đề tài của
các công trình nghiên cứu xưa và nay. Tôi xin trích dẫn một vài nhận xét trong một số


công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan tới đề tài:
Trong cuốn Thơ Hoàng Cầm với văn hóa Kinh Bắc Thạc sĩ văn hóa Nguyễn Thị Minh
Bắc đã nhận xét: “Hoàng Cầm luôn mang theo hành trang Kinh Bắc trong thơ mình,
dù ở đâu hay trong những hoàn cảnh kháng chiến. Quê hương Kinh Bắc sinh ra ông,
nuôi dưỡng hồn thơ ông, cũng là cõi đi về trong lòng ông. Trong những năm rút vào
sống bản thể, quê hương đã nâng đỡ, giúp ông suy ngẫm nhìn được chính mình và
sống có ích”.
Nhà phê bình bình luận Phạm Hoài nhận xét : “Tôi thấy Hoàng Cầm đẹp và xa cách,
bất kì câu nào của ông cũng tiêu tao yểu điệu, có vẽ như một liên hệ dễ dãi với quê
hương Kinh Bắc, với những chùa chiền dân ca huyền thoại và những liền anh, liền
chị”.
Trong cuốn Phê bình bình luận văn học, Hồng Nguyên,Chính Hữu, Trần Hữu Thung,
Hoàng Cầm, Quang Dũng do Võ Trọng Quần tuyển chọn. G.S Nguyễn Đăng Mạnh đã
nhân xét: “Hình như Hoàng Cầm có một không gian kinh bắc, một thời gian kinh bắc
rất đổi cổ kính trong thơ ca. Và trên cái nền thời gian ấy, cứ thấp thoáng một cô gái
Kinh Bắc thuở nào, có vẽ duyên dáng tình tứ “cười như mùa thu tỏa nắng”. Tất cả vẽ
nên bằng một ngọn bút tài hoa và một nhạc điệu buồn”.
Cũng trong cuốn Phê bình bình luận văn học đó G.S Trần Mạnh Hảo cũng đã nhận
xét: “Sau khi hòa bình và những năm tháng chống Mỹ. Hoàng Cầm chừng như cả
hồn lẫn xác cứ nằm nghiêng nghiêng như chiếc bóng không lúc nào sắp đổ, sắp tàn.


Dáng nằm của ông lúc đó không nghiêng nghiêng hoành tráng dạt dào theo dáng
Sông Đuống năm nào. Mà xanh xao, oặt ẹo theo dáng cây nghiêng nghiêng bị trốc
gốc vì cơn bảo lớn ào qua. Một bàn tay níu bám thi ca một bàn tay vịn vào tình yêu
như vịn vào một chiếc gậy,nhà thơ cứ nghiêng nghiêng theo các bóng gầy leo lét của
mình”.
Đồng thời G.S Hoàng Như Mai cũng nhận xét : “Thơ Hoàng Cầm hầu như không tìm
tòi những kĩ xảo nghệ thuật cầu kì, về tu từ hay về cấu trúc. Đọc thơ Hoàng Cầm ta
có cảm tưởng như nhà thơ viết một mạch, nột hơi, những lối thơ từ trái tim anh rót
thẳng vào bạn đọc không sắp xếp, không điểm trang, giống như một nước suối từ khe
đá tuôn ra như hoa mọc tự nhiên ngoài đồng nội. Thơ ca mang sự trinh nguyên của
tình cảm, không phải qua một sự chế biến nào, không thêm chất phụ gia nào”.
Tuy đã có nhiều nhà phê bình đi sâu vào nghiên cứu thơ Hoàng Cầm nhưng chưa có
nhà phê bình nào đi sâu vào nghiên cứu kĩ “đặc điểm nghệ thuật ngôn từ trong bài
Bên kia Sông Đuống của Hoàng Cầm”.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tiếp thu những thành tựu của các
công trình có liên quan để tham khảo và từ đó vận dụng một cách sáng tạo để tập
trung đi vào tìm hiểu vấn đề cần quan tâm: Đặc điểm nghệ thuật ngôn từ trong bài thơ
Bên kia sông Đuống.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tìm hiểu về nghệ thuật trong bài thơ Bên kia sông Đuống.
Phạm vi nghiên cứu: Trong điều kiện năng lực cũng như thời gian có hạn, chúng tôi


chỉ tập trung đi sâu vào nghiên cứu vấn đề: Đặc điểm nghệ thuật ngôn từ trong bài
thơ Bên kia sông Đuống.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng một số cách tiếp cận sau:
- Phương pháp thống kê – phân loại
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp khái quát – tổng hợp

NỘI DUNG
1.Những vấn đề chung
1.1. Khái niệm thi pháp ngôn từ
Ngôn ngữ mang tính chất nghệ thuật là công cụ, là chất liệu của văn học, vì vậy văn


học được gọi là loại hình nghệ thuật. Để thể hiện thành công tư tưởng và tình cảm của
mình thì nhà văn đã lấy ngôn từ làm thước đo chuẩn mực cho thi phẩm của mình. Như
Goocki khẳng định: “Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học. Và trên nhiều phương
diện khác nhau của văn học nghệ thuật thì các yếu tố đó mang lại những giá trị khác
nhau”.
Theo V.Vinogradov thì ngôn ngữ được hiểu như sau: Là cách thức, tổ chức, các kĩ
thuật sắp xếp, mô phỏng, trình bày ngôn từ trong trong tác phẩm văn học. Nghiên cứu
thi pháp ngôn từ là phát hiện các giá trị và ý nghĩa cách thức tổ chức ngôn từ trong tác
phẩm, xem xét nó có tác dụng gì trong việc bộc lộ, thể hiện tư tưởng của nhà văn.
1.2. giới thiệu tác giả và tác phẩm
1.2.1. Tác giả
Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, (sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922, tại xã Phúc
Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang – mất ngày 6 tháng 5 năm 2010 tại Hà Nội).
Quê gốc của Hoàng Cầm ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông xuất
thân trong gia đình nhà nho lâu đời. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào
nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh là tên
một vị thuốc đắng trong thuốc bắc: Hoàng Cầm.
Mang trong mình hơi thở vùng đất Kinh Bắc, nhà thơ Hoàng Cầm với Bên kia sông
Đuống đã mở ra một thế giới Kinh Bắc, tạo nên dấu ấn đặc sắc, độc đáo cho thơ ông.
1.2.2. Bài thơ Bên kia sông Đuống
Tin giặc Pháp chiếm đóng bên kia sông Đuống đến với Hoàng Cầm vào một đêm
tháng tư năm 1948 làm ông bàng hoàng, đau đớn. Ngay trong đêm, cảm xúc ấy được
tuôn chảy vào bài thơ Bên kia sông Đuống dưới nhiều sắc thái: buồn đau, nhớ nhung,
tự hào, tiếc nuối, căm hờn, ước mơ. Và từ dòng cảm xúc chân thành hiện hữu lên vẻ
đẹp về một thế giới Kinh Bắc.
Bài thơ thể hiện tình yêu mến, thương nhớ và tự hào đối với quê hương Kinh Bắc;
căm giận quân xâm lược đang giày xéo quê hương; niềm tin vào một ngày mai giải
phóng, quê hương trở lại thanh bình.
2. Đặc điểm nghệ thuật ngôn từ trong bài thơ Bên kia sông Đuống
2.1. Giọng điệu
Cũng tựa như Trường ca sông Lô của Văn Cao và Du kích sông Thao của Đỗ Nhuận
trong âm nhạc, bài thơ Bên kia sông Đuống của thi sĩ Hoàng Cầm có thể coi là một
bản trường ca trong thơ thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Quy mô bài thơ khá lớn, bao
hàm đủ cả quá khứ, hiện tại, tương lai của một miền đất vốn là chiếc nôi văn hóa của
xứ Bắc lại đang chìm ngập trong cơn binh lửa, với nhiều cảnh đời, tình người, nhiều
trạng huống cảm xúc buồn, vui, yêu, ghét, nhớ tiếc, hy vọng… như cả một hoạt cảnh
thơ hoàn chỉnh.
Để chở được một dung lượng khá đồ sộ như vậy mà cấu trúc không bị manh mún,
chất lượng không bị sồi sụt, mà ngược lại người viết lại có thể cuốn người đọc, người
nghe theo một dòng chảy cuồn cuộn từ câu thứ nhất đến câu cuối cùng như một con
sông Đuống bằng thơ ấy, rốt cuộc là nhờ vào sức mạnh của cái gì vậy? Về ý tưởng ư?-


Thực ra bài thơ có tung ra được ý tưởng gì độc đáo, mới mẻ lắm đâu. Về cốt truyện
ư?- Càng không có gì đáng gọi là ly kỳ, hấp dẫn, nếu không nói là sơ lược. Rốt cuộc,
sức mạnh to lớn của bài thơ dài này vẫn nằm trong nguyên lý muôn đời của thơ ca tức
là dòng cảm xúc mạnh mẽ, dào dạt vô cùng. Thứ cảm xúc dường như đã được tích tụ
từ rất lâu trong lòng người, bất chợt được một bàn tay của ngoại cảnh bật tung cánh
cửa, khiến nó tuôn ra ào ạt, đủ sức cuốn phăng đi mọi con đê khuôn sáo, mọi toan tính
chừng mực và tỉnh táo, để làm tràn ra trên mặt giấy những chữ, những dòng mà sau
này chính nhà thơ có lần thú nhận là ông đã viết chúng ra như trong một cơn mê sảng,
như thể có ai đó đọc vào tai cho mà ghi lại vậy! Thần bí hóa công việc làm thơ hẳn có
người khó chịu, nhưng tình trạng thăng hoa của cảm xúc, sự khơi đúng nguồn mạch
trong khai thác cảm xúc và cả ý tưởng nữa trong công việc sáng tạo nghệ thuật, dẫu
rất hiếm và quý, nhưng cũng là chuyện xưa như trái đất. Và thi sĩ Hoàng Cầm của
chúng ta, một nhà thơ vốn đã nổi danh đa tình, đa cảm, lại sành sỏi trong công việc
thao túng chữ nghĩa, trong cái đêm Việt Bắc se lạnh, đang nằm nhớ thương gia đình
và quê hương đến cháy lòng, lại được nghe những người du kích từ quê nhà vừa bị
giặc chiếm chạy lên chiến khu kể lại nguồn cơn thảm cảnh thì việc chỉ ngay trong một
đêm ông có thể hạ bút làm xong bài thơ tràng thiên ngót một trăm năm mươi câu này
là điều không có gì khó hiểu. Thậm chí, ta cũng không ngại để “nói vuốt đuôi” rằng,
với mạch tình cảm thể hiện ra trong bài thơ này thì sự thể còn không thể nào khác
được nữa kia! Liệu bài thơ còn giữ được cái mạch liền như “áo nhà trời không có
đường khâu” này hay chăng, nếu nó được làm ra một cách ì ạch, ngắc ngứ, đánh vật
hết ngày này sang ngày khác? Dĩ nhiên, làm có thể nhanh, sửa sang có thể dềnh dàng,
nhưng liệu có sự khôn ngoan, kỹ tính nào lại đẻ ra nổi một câu thơ kỳ lạ vào bậc nhất
trong thơ Việt từ cổ chí kim như câu thơ tả sông Đuống nằm nghiêng nghiêng trong
kháng chiến trường kỳ được chăng?
Như vậy là ta đã động đến cái đặc thù của bài thơ này: tính liền mạch - nhờ cảm xúc
mạnh mà tạo nên liền mạch, lại nhờ có mạch mà tạo ra được nhiều ưu thế khác.
Bài thơ rõ ràng mang những cảm xúc có tính xã hội và thời sự, nghĩa là nó thực sự là
thơ công dân, thơ phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc, nhưng điều then chốt ở đây là
cảm xúc xã hội lại trùng lên cảm xúc cá nhân, những buồn vui, yêu ghét của cộng
đồng lúc này cũng chính là tâm trạng riêng tư của người viết-chính sự hòa hợp ấy đã
làm nên một sự cộng hưởng trong cảm xúc và người làm thơ có thể tung hoành ngòi
bút để rồi bật lên những lời không còn phân biệt được đâu là chung đâu là riêng, tất cả
đều tự nhiên nhi nhiên: Em ơi! Buồn làm chi Anh đưa em về sông Đuống.
2.2. Vần thơ
Theo từ điên thuật ngữ văn học:
Vần là một phương diện tổ chức văn bản thơ dựa trên cơ sở sự lặp lại không hoàn toàn
các tiếng ở những vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạo nên tính hài hòa và liên kết
các dòng thơ và giữa các dòng thơ.


Với ngôn từ nghệ thuật trong Bên kia sông Đuống Hoàng Cầm lấy con người làm
trung tâm (tiểu vũ trụ) xung quanh hành tinh, nhà thơ hướng về sự hoạt động của con
người trong xã hội. Hoàng Cầm nhìn vào nhịp sống hằng ngày của con người Kinh
Bắc như một tấm gương phản chiếu đời sống xã hội, mà bài thơ Bên kia sông Đuống
là một bức tranh rộng lớn, khái quát sâu sắc ở tầm nhân văn, nhân bản, với quan niệm
triết học vị nhân sinh. Sông Đuống hiện ra như một bức tranh hoành tráng, lay động
tâm thức người đọc đến từng chi tiết:
Em ơi ! buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ
Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì
Ta thấy rằng, các câu đầu có vần “i” chi phối. Những câu thơ nghe như một tiếng an
ủi, thầm thì của nhân vật trữ tình với “em”. Ngỡ như có một người con gái nhỏ đầy
đau khổ, đứng chết lặng bên này sông mà không được qua sông. Tác giả lên tiếng vỗ
về “em” nhưng cũng là vỗ về chính mình.
Trong khổ thơ đầu này ta thấy vần “iêng” trong từ lặp “nghiêng nghiêng”, vần “iêng”
(“nghiêng nghiêng”, “kháng chiến”) cùng sự chuyển đổi đột ngột từ câu ngắn(ngắn
hơi) bốn tiếng:
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
tới câu dài (dài hơn) tám chữ:
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì
Đã tạo cho khổ thơ một tâm trạng, một cái hơi tiếc nuối rất cần thiết (không phải đợi
tới câu “Đứng bên này sông sao nhớ tiếc” của khổ thơ kế mà ta mới nhận ra điều ấy).
Như vậy, chỉ qua một câu thơ thôi, tác giả đã cho ta phát hiện cùng một lúc cả độ viền
và độ nhòe, cái sáng tỏ và cái mơ hồ của thơ ca. Thông qua tâm trạng “nhớ tiếc” của
ông là hình ảnh cô gái e dè, ấp úng rất “có duyên” hay cái dáng vẻ sợ sệt đến tội
nghiệp của dòng Đuống và của cả những cô gái hiền lành vùng Kinh Bắc mà tác giả
muốn nói? Khổ thơ hay và nhiều tầng nghĩa là ở chỗ này.
Trong bài thơ, tác giả sử dụng nhiều các vần ngân vang như: iên, iêc, ong, iêp, inh,
ăng… có khi tạo nên một cảm giác oai hùng nhưng chủ yếu là mang một nỗi buồn da
diếc, một nỗi xót xa mênh mang: [biêng biếc: nhớ tiếc]; [giấy điệp: khủng khiếp]…
- Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc…
- Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp…
Bên cạnh các vần ngân vang, đôi khi lại xen vào mạch cảm xúc đang dâng trào một


cái gì đó như xót xa, như đau nhói, một sự lắng động bởi các vần: an, ai, âu, en, eo,
un ut, âm…
Ta không thể không chú ý vần “âu” được tác giả sử dụng rất nhiều:
- Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những cô nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già bay tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu… Về đâu…
- Đi bán lụa màu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu… về đâu…
- Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu…
Mẹ ta lòng đói dạ sầu
- Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu
“À ơi… cha con chết trận từ lâu
Con càng khôn lớn càng sâu mối thù”
Vần “âu” tạo ra một cái gì đó như đau nhói, như xót xa đến tận chiều sâu tâm tưởng,
đến tận đáy lòng của nhà thơ. Làm cho ta có cảm giác như mất mát cái gì đó không
thể tìm lại được.
Chưa bán được một đồng
Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong
Bước cao thấp bên bờ tre hun hút
Có con cò trắng bay vùn vụt”
Có thể nào mà trong cái đêm đó, trong tâm tưởng cua thi sĩ, hình bóng của người mẹ
Việt Nam anh hùng lại hiện ra với tư thế như thế. Vần “un ut” trong hai câu thơ liên
tiếp. Chỉ “un ut” thôi cũng đã gợi ra một hình bóng mẹ già còm cõi hiện lên rồi mất
hút trong không gian như là mất đi hình ảnh của bóng tối để cho ánh sáng của ngày
mai.
Trong bài thơ tác giả đã sử dụng thành công hệ thống các từ láy. Có rất nhiều từ láy
được tác giả sử dụng. Có một điều mà chắc hẳn ít có ai để ý đến rằng trong thơ ca đa
số các từ láy để sử dụng làm cho bài thơ thêm lung linh, huyền ảo. Nhưng với Bên kia
sông Đuống của Hoàng Cầm thì khác. Bên cạnh một ít các từ láy như: Lấp lánh,
nghiêng nghiêng, xanh xanh, biêng biếc, từng bừng, rộn rã,chang chang là số ít các từ
tạo cảm giác vui tươi, phấn chấn thì toàn bộ các từ láy còn lại tạo ra cảm giác âm u,
buồn thương thê thảm: Xót xa, khủng khiếp, thấp thoáng, văng vẳng, sột soạt, còm
cõi, xì xồ, lác đác, hun hút, vùn vụt, loe lét, líu ríu, rầu rầu, căm căm, mịt mờ, phăng
phắc, cuồn cuộn, tơi bời”. Đọc lên một tràng các từ láy như vậy ta như tự hỏi rằng, có
lẽ nào tất cả nhứng từ láy diễn tả nỗi đau, sự hoang mang, sự nuối tiếc của tiếng Việt
đều đã được tác giả thâu tóm và đưa vào trong hơn một trăm câu thơ?
Một sự thành công nữa trong việc sử dụng từ láy của tác giả trong bài thơ là có không


ít các câu thơ sử dụng hai từ láy như:
- Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
- Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu
- Căm căm gió rét mịt mờ mưa bay
Tóm lại, Hoàng Cầm đã sử dụng rất thành công trang tâm sự của mình qua cách xây
dựng những vần thơ nhịp nhàng, sâu lắng và gợi cảm.
2.3. Nhịp thơ
Cùng với giá trị của những từ ngữ, hình ảnh xuất thần, về mặt nhạc tính, Bên kia sông
Đuống đã là cả một dàn giao hưởng của rất nhiều giai điệu, tiết tấu làm say đắm hồn
người và đủ để biểu dương vẻ đẹp không gì sánh nổi của tiếng Việt khi trở thành vũ
khí lợi hại của thơ ca. Mà một trong những điều ấy là: chính mạch thơ- nhờ được bảo
lãnh bởi mạch cảm xúc- đã khơi nguồn cho sức băng tới của bài thơ, và chính trong sự
vận động tự thân của thơ như một dòng suối chảy xiết đã làm cho những hạt vàng lấp
lánh của ngôn từ vốn bị vùi sâu dưới đất đã bật lên, đã có dịp phơi mình dưới ánh
sáng mặt trời. Sức cuốn ấy của tình cảm cũng tạo nên một dòng âm nhạc chảy xiết,
vừa phong phú vừa linh hoạt, với hầu như đủ hết các thể thơ từ tự do, lục bát, đến cả
song thất… dài ngắn, mạnh nhẹ, cao thấp, nhanh chậm đều nương theo nhu cầu tình
cảm của con người mà ngân lên. Ta dễ dàng nhận ra sức mạnh ấy của nhạc tính trong
thơ của thi sĩ Hoàng Cầm khi đọc vào bất cứ đoạn nào trong bài thơ, chẳng hạn:
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu…
Và cứ thế cho đến những câu thơ kết đẹp như một dòng âm thanh lanh lảnh vút lên
giữa trời xanh:
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trẩy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.
Tuy nhiên trong cái mạch cảm xúc đang trào dâng đó, một khúc nhạc đang vút lên cao
đó, bỗng dưng tự nhiên lại bị chùng xuống như đứt quảng, như văng ra khỏi một thực
thể gắn kết của đoạn nhạc bởi các từ “đâu”: “ở đâu”, “về đâu”, “ở đâu”, “về đâu”, “về


đâu”, “ở đâu về”.
Ta có thể nhận thấy rằng, ở tất cả các đoạn thơ có mạch cảm xúc nhanh, nhịp điệu
đang dồn dập, đột nhiên xuất hiện câu thơ “bây giờ tan tác về đâu” hay là “bây giờ đi
đâu về đâu” làm cho mạch cảm xúc chùng xuống, đôi khi lại xuất hiện một khoảng
ngừng nghỉ ở đó. Hai câu thơ trên luôn được nhắc đi nhắc lại nhiều lần vừa gợi tả nỗi
đau thương tan tác, vừa thể hiện nỗi nhớ ứa máu tơi bời, nỗi xót xa và căm giận lũ
hung tàn cướp nước.
Bên cạnh việc lặp lại câu thơ tác giả còn sử dụng các điệp từ để càng làm tăng thêm
tính nhạc trong cảm xúc sâu xa chan chứa đó như:
- Những cô nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già bay tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
- Bao nhiêu đồn giặc tơi bời
Bao nhiêu nước mắt
Bao nhiêu mồ hôi
Bao nhiêu bóng tối
Bao nhiêu nỗi đời
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Điệp từ “bao nhiêu” ở cuối bài thơ không phải thể hiện sự xót xa, thương cảm của tác
giả như ở trên nữa. Đó chính là sự thâu tóm “bao nhiêu” cái đẹp nhất của ngày mai
tươi sáng cho dân tộc Việt Nam.
Các từ “em” nhắc đi nhắc lại trong bài thơ và ở ba câu thơ cuối thể hiện niềm tin của
tác giả đối với ngày mai, ngày mai của các trụ cột của đất nước.
Hoàng Cầm đã có những sáng tạo riêng khi dùng nhịp thơ dài ngắn khác nhau để thể
hiện tình cảm, cảm xúc của mình, nhưng không vì thế mà bài thơ mất đi nhịp điệu.
Tính nhạc của bài thơ như những câu hát ngân lên, điệp lại rồi dàn trải ra buồn da diếc
và có gì đó như xa xăm. Sự kết hợp giữa độ cao và tiết tấu nhanh chậm đã làm cho âm
hưởng của bài thơ có những lúc trùng xuống, bồi hồi, xót xa:
- À ơi… cha con chết trận từ lâu
Con càng khôn lớn càng sâu mối thù
- Thân ta hoen ố vì mày
Hờn ta cùng với đất này dài lâu…
Tác giả đưa ca dao, dân ca vào thơ của mình làm cho đoạn thơ càng ngân vang thành
một khúc nhạc buồn. Điều đó chứng tỏ rằng, ca dao dân ca là nền tảng cho những vần
thơ bay cao, bay xa và mang giá trị truyền thống và thời đại sâu sắc.
Trong bài thơ tác giả sử dụng thể thơ tự do cho nên cách ngắt nhịp cũng trở nên tự do
tùy vào mạch cảm xúc của tính nhạc:
Những câu thơ bốn chữ là nhịp 2/2:
Sông Đuống/ trôi đi
Một dòng/ lấp lánh


Những câu bảy chữ thường có nhịp 3/2/2 hoặc tám chữ thì nhịp 3/2/3:
Tranh Đông Hồ/ gà lợn/ nét tươi trong
Màu dân tộc/ sáng bừng/ trên giấy điệp
Quê hương ta/ từ ngày/ khủng khiếp
Giặc kéo lên/ ngùn ngụt/ lửa hung tàn
Những câu thơ lục bát thì nhịp 2/2/2 của câu lục và 4/4 của câu bát:
Gió đưa/ tiếng hát/ về gần
Thợ cấy đánh giặc/ dân quân cày bừa
Tiếng bà/ ru cháu/ xế trưa
Chang chang nắng hạ/ võng đưa rầu rầu
Như trên đã nói, với thể thơ tự do tác giả đã đi theo cảm xúc của mình với những nhịp
điệu tự do hòa theo cảm xúc của bài thơ. Điều này đã tạo ra nét đặc sắc riêng trong
nghệ thuật ngôn từ của Hoàng Cầm.
2.4. Tính hình tượng
Hình tượng là dùng cái này để dẫn dắt cái khác. Tính hình tượng biểu hiện ở nhiều
phương diện: tượng thanh, tượng hình qua đó tạo cho người đọc cảm giác. Trong bài
Bên kia sông Đuống vấn đề này thể hiện khá rõ:
Câu thơ mở đầu hơi lạ: “Em ơi buồn làm chi!” Em là ai vậy? Bên dưới sẽ thấy tác giả
tự xưng là anh rồi ta: anh đưa em về, quê hương ta, mẹ gì ta, cho ta, ta có. Có một đại
từ phiếm chỉ khác là ai, như một nhân vật trừu tượng. Ai về, may áo cho ai, ai về. Có
phải em biến thành ai chăng? Chắc không phải, bởi em đi liền với anh: Anh đưa em về
sông Đuống. Cuối cùng, em chẳng cần là ai cả, là vợ, là người thương, là một đứa bạn
nhỏ hoặc có khi là bản thân mình. Cốt là nó mở đầu cho một cái giây chung, cái
“điệu”, cái “tông” như trong bài nhạc, nó là nốt, là âm thanh mở đầu tạo ra giai điệu
của bài. Quả nhiên bài thơ là một âm điệu tha thiết, đau thương, sâu sắc mà vẫn là dịu
nhẹ, sâu xa, không ồn ào, to tiếng.
Trong bài có các hình tượng tiêu biểu:
Có con cò trắng bay vùn vụt
Lướt ngang dòn sông Đuống về đâu
Cánh cò khêu gợi trong tâm tư người Việt Nam nhiều cảm xúc truyền thống, đó là sự
vất vả của những bà mẹ, những người vợ làm ăn nuôi chồng nuôi con:
Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non
(Cadao)
Tuổi thơ của một dân tộc nghèo lại bị tai họa chiến tranh thật là tang thương:
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Các em thơ đem tất cả sự hồn nhiên ngây thơ của chúng để chống lại chiến tranh hung
tàn:
Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quây tròn
Tưởng làm tổ ấm


Nhà thơ sử dụng biện pháp nghệ thuật đối chiếu tương phản:
Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm
Ú ớ cơn mê
Thon thót giật mình
Chúng ta chú ý đến hình ảnh bà mẹ già bán hàng ở chợ:
Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong
Bước cao thấp bên bờ tre hun hút
Đọc lên câu thơ ta thấy từng chi tiết, từng từ ngữ đều hiện lên một bà mẹ chịu thương
chịu khó sống nghèo túng, già nua còm cói gánh hàng rong với năm miếng cau khô,
mấy lọ phẩm hồng…
Như vậy, qua một số hình ảnh vừa phân tích ta thấy được tình cảm, cảm xúc của thi sĩ
đối với con người quê hương, đất nước. Một tình cảm dào dạt xen lẫn với sự xót
thương với nỗi đau chiến tranh. Với đóng ghóp của nghệ thuật hình tượng ngôn từ
nghệ thuật của bài thơ được nâng lên một tầm cao mới.

KẾT LUẬN
Văn học là một dòng sông, nhà văn là con thuyền trên dòng sông ấy. Nước chảy,
thuyền trôi. Con thuyền đi qua mọi bờ bến của thời gian, không gian và ở một nơi xa


nào đó trên một bờ vắng đầy cỏ dại, nó đã cập bến mang theo những khuông hàng
chất nặng suy tư. Để rồi những khuông hàng ấy được trao đến tay độc giả những bài
học, những cảm thức và những suy nghiệm mà nhà văn lưu giữ nó suốt chặng đường
lênh đênh sóng nước. Hoàng Cầm đã đem sản phẩm tinh thần của mình vượt quá khứ
xa xăm, băng qua những rào cản xã hội để đến với con người của thế kỉ XXI, hòa điệu
những khoảnh khắc đồng điệu của cảm xúc. Và rồi bước ra khỏi thế giới ấy, con người
không khỏi ngỡ ngàng ngoái nhìn lại bản thân và hô to lên một tiếng như để tán
thưởng cho giây phút thăng hoa.
Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm đã tạo tiếng riêng cho mình một kĩ thuật ngôn từ
hết sức độc đáo. Độc đáo từ vần thơ, nhịp thơ cho đến giọng điệu và cả cách xây dựng
các hình tượng trong thơ. Tất cả những điều đó được hợp lại để tạo nên một sức hấp
dẫn độc đáo cho cả bài thơ.
Cách chúng ta gần ba nghìn năm, nhà thơ Home (Hy Lạp) đã viết: “Không có mảnh
đất nào êm đềm bằng quê cha đất mẹ”. Bài thơ Bên kia sông Đuống giúp ta cảm nhận
sâu hơn ý tưởng của Hôme. Con sông Đuống và Thuận Thành, Kinh Bắc là quê hương
nhà thơ. Nhưng người đọc thấy vô cùng thân thiết gắn bó với mình. Cái ý vị, cái hay
của bài thơ là ở chỗ ấy. Câu thơ dào dạt theo cảm xúc rất hồn nhiên mà giàu nhạc
điệu. Nhạc điệu ngọt ngào của dân ca Quan họ. Sâu lắng, thiết tha, bồi hồi là âm
hưởng, là sắc điệu trữ tình đã thấm sâu vào hồn ta tình yêu quê hương đất nước. Bên
kia sông Đuống xứng đáng là kiệt tác của thi ca Việt Nam hiện đại.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×