Tải bản đầy đủ

Quan điểm nghệ thuật của thạch lam

Quan điểm nghệ thuật của Thạch Lam
Tư tưởng nghệ thuật của Thạch Lam
Hoàng Thiệu Khang
Mọi cái rồi sẽ trôi đi, riêng sự thật còn lại "Qua bao biến thiên lịch sử, qua bao chính kiến
nghệ thuật tả hữu... dọc con đường từ 45, văn chương và tư tưởng về văn chương của Thạch
Lam vẫn là một trong những giá trị còn lại".
1 - Văn chương của Thạch Lam là những trang đẹp. Cho đến nay, nó càng làm lôi cuốn tâm
hồn những con người đương đại, những con người đã trải qua hai cuộc chiến có máu và lửa
thảm khốc. Thoát ra khỏi không gian và thời gian "Vầng trăng và quầng lửa", con người hôm
nay tìm về Thạch Lam như nhu cầu tìm về một cõi hiền hoà, yên tĩnh, dịu dàng...; về một cõi
mình có thể lắng nghe mình - về thời gian của "Gió đầu mùa", không gian của "Nắng trong
vườn", hương vị của "Hà nội 36 phố phường"...
2 - Văn chương của Thạch Lam là những trang hiện thực thoáng qua, những dấu ấn còn lại
trong cảm nhận của ta sau một cơn gió nhẹ... dấu ấn trong miên man. Đó là chủ nghĩa hiện
thực không tả thực, một chủ nghĩa hiện thực mỹ thuật (réolisme pitoresque). Ở đây không
có rùng rợn và bão tố, không có sần sùi, gồ ghề kịch tính... Tất cả chỉ là đẹp và tinh tế;
những "Dưới bóng hoàng lan, Đứa con đầu lòng"... đi nhẹ vào tâm thức ta.
3 - Cũng có khi văn chương của Thạch Lam đưa mỗi chúng ta vào một tự vấn về nhân cách,
nhân phẩm, lương tâm, danh dự... nghĩa là những tự vấn ở vùng đạo lý, đạo đức tiên thiên;
những "Sợi tóc, Đứa con trở về "... mang hình câu hỏi tra vấn nhẹ nhàng.
4 - Từ thẩm mỹ cho đến tư tưởng, văn chương Thạch Lam xu hướng vế cái đẹp của chất

người, và chúng ta hiểu, vì sao Thạch Lam để lại nhiều giá trị hơn cả so với những giá trị
khác trong Tự lực văn đoàn. Thạch Lam cảm hứng trên hằng số của tinh thần, cho nên văn
chương của ông cũng trở thành một hằng số giá trị trong văn học Việt Nam.
Thời văn học Việt Nam những thập kỷ 30 - 40, các tư tưởng về nghệ thuật, dẫu đứng phía
nào, ở nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh, ở chủ nghĩa hiện thực hay chủ
nghĩa lãng mạn... cũng đều ở trình độ giản đơn, nếu không nói là thô sơ. Các nhà tư tưởng
nghệ thuật thưở ấy mang cấu trúc tư duy tam đoạn luận. Chưa thấy có sự xác lập nhiều tiền
đề trong mạch lý giải, biện luận. Do vậy, tính biện chứng bị vắng bóng. Họ chưa thấy được
nghệ thuật và văn chương là những hoạt động nhiều chiều và có khi là chúng ngược nhau,
đan dệt ngang dọc. Họ tuyệt đối hoá một tiền đề để đi tới một hợp đề duy nhất. Cho nên các
cuộc tranh luận như là rơi vào tình trạng bất đồng ngôn ngữ, không có giao lưu, thắng bại.
Trong bối cảnh và tình cảnh tư tưởng ấy, Thạch Lam xuất hiện trong một tư tưởng về sứ
mệnh của văn chương (nghệ thuật). Thạch Lam đang đặt văn chương đối diện với một sứ
mệnh toàn vẹn. Trong lời tựa tập "Gió đầu mùa", ông viết:
"Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự
quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố
cáo và thay đổi một cái thế giới đầy giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong
sạch và phong phú hơn... " So với thời đại của mình, tư tưởng nghệ thuật này tỏ ra hiểu văn
chương hơm cả.
Có thể tìm thấy trong những lời phát biểu ấy những nội dung như sau:
1 - Thạch Lam lắc đầu với loại văn chương đem đến cho người đọc thái độ thoát ly, quên
lãng thực trạng cuôc sống.
Thạch Lam đang sống và làm việc với những người bạn chí thân trong Tự lực văn đòan,


những Thế Lữ (Tôi chỉ là người bộ hành phiêu lãng, Đường trần gian xuôi ngược thú vui
chơi..), những Xuân Diệu (Tôi là con chim, đến từ núi lạ, ngửa cổ hót chơi...), thế mà ông vẫn
cứ lắc đầu!
Phải công bằng - một công bằng mang tính lịch sử, mà nói rằng, văn chương thời ấy có một
loại (mà chúng ta hay mệnh danh là văn học lãng mạn), bên cạnh những tư tưởng nghệ
thuật rất quý giá, vẫn đã rơi vào cái hạn chế mà Thạch Lam vừa đề cập tới (đem đến cho
người đọc sự thoát ly, sự quên).
Trong một cảm nhận thú vị và khâm phục Thơ Mới, chính nhà phê bình Hoài Thanh (trước
45) đã viết:
"Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với
Hàn Mặc Tử - Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu
không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ... ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng
Huy Cận... "
(Thi nhân Việt Nam)
Thoát ly và quên lãng, xét đến cùng, cũng là một thái độ phản kháng thực tại. Nhưng nó


không nhập cuộc. Thạch Lam muốn có một cái thế nhập cuộc của văn chương.
2 - Văn chương với Thạch Lam phải là một thứ khí giới. Con người sinh ra văn chương, mong
muốn nó trờ thành một công cụ chiến đấu cho hạnh phúc của con người. Đó là một sứ mệnh
xét từ góc độ sinh thành chủng loại văn chương - nghệ thuật. Đó là quan điểm nghệ thuật vị
nhân sinh. Nhưng khi văn chương phát triển thì cũng phải nhìn nó từ góc độ sinh thành cá
thể. Từ góc độ này, có thể chấp nhận thái độ nghệ thuật vị nghệ thuật. Bình diện nhân sinh
nằm nơi sâu của tiềm tàng, bình diện nghệ thuật sẽ bay lên như một cõi riêng từ cái nền
tiềm tàng đó.
Muốn vị nhân sinh hay vị nghệ thuật thì nghệ thuật vẫn là tiếng nói của trái tim con người,
vẫn là cuộc giao lưu giữa trái tim và những trái tim. Tự nó, văn chương đã mang cái véc - tơ
hướng vào con người, vào cuộc đời.
Văn chương, với Thạch Lam, là một thứ khí giới. Nhưng nó không mang tính vật chất thô
thiển, nó là thứ khí giới thanh cao. Nó đến với nơi thanh cao của tinh thần con người.
Viết đến đây, tôi tự nhiên liên tưởng tới thơ Sóng Hồng:
Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ
Mỗi vần thơ - bom đạn phá cường quyền...
3 - Sứ mệnh đầu tiên của văn chương, theo Thạch Lam, là tố cáo và thayđổi cái thế giới giả
dối và tàn ác.
Văn chương có thể nào khác như thế được khi con người đang bị chìm trôi trong bao bi kịch
bởi sự tàn ác và giả dối. Đưa sự mệnh tố cáo lên hàng đầu, Thạch Lam muốn văn chương
phải mang được một chủ nghĩa nhân đạo hiện thực (Nhà Mẹ Lê)
Nhưng khi ngôi nhà của cơ chế cũ đã nát vụn dưới buá tạ của văn chương phê phán, khi thói
tàn bạo và giả dối đã bị phơi ra dưới ánh nắng mặt trời... thì văn chương cũng phải cảm
nhận được một mạch sống đang chảy về đâu. Văn chương phải góp phần cho cuôc thay đổi.
Sinh thành cá thể phải nằm trong sinh thành chủng loại của nó.


4 - Sứ mệnh đích thực của thứ khí giới thanh cao này là làm cho lòng người thêm trong sạch
và phong phú hơn.
Văn chương tắn gội tâm hồn con người. Sống trong những điều kiện hiện thực, con người
vướng nhiều bụi bặm. Bên những tinh chất, con người cũng mang những tạp chất. Con người
dễ rơi vào tiền tài, danh vọng... rơi vào chốn phù du... Văn chương có tác dụng "thanh lọc"
(Katharsis - chữ dùng của Pythagore) tinh thần con người.
Lại nữa, tưởng tượng nếu không có văn chương - nghệ thuật thì tâm hồn con người sẽ nghèo
đi biết bao nhiêu. Văn chương là một trường thể nghiệm những rung động thẩm mỹ mãnh
liệt và sâu lắng. Nó đến với hồn ta. Nó nhân đôi mỗi trái tim chúng ta.
Tôi đã vẽ chân dung Thạch Lam với những nét đơn sơ nhưng đầy lòng cảm mến.

o
Lần đọc: 2156

04-22-2010,

#2

12:27 AM



Ðề: Quan điểm nghệ thuật của Thạch Lam

THẠCH LAM:CỐT CÁCH MỘT TRÍ THỨC MỚI
Vương Trí Nhàn
I
Thạch Lam cho in tập truyện ngắn đầu tay của mình vào năm 1937 và qua đời
vào năm 1942. Sự nghiệp sáng tác của ông như vậy chỉ kéo dài độ khoảng 5 - 6
năm. Trong cái thời gian ngắn ngủi ấy, khối lượng chữ nghĩa ông đã viết không
thể gọi là nhiều. Tuyển tập Thạch Lam in ra ở Hà Nội 1988 dày 332 trang, khổ
15x22. Chúng tôi dự đoán: may lắm, tất cả những gì đứng tên Thạch Lam chỉ
gấp độ hai lần cuốn tuyển tập đã in, không thể hơn được [1]
Ấy vậy mà trong tâm trí chúng ta, cái tên Thạch Lam vẫn tạo nên một ấn tượng
sâu đậm. Trong số những lý do tạo nên hiệu quả như vậy, có điều quan trọng
này: Thạch Lam đã xây dựng được cái thế giới riêng của mình, một thế giới bé
nhỏ, hạn hẹp - thậm chí, đôi lúc chúng tôi còn muốn nói nghèo nàn nữa nhưng là một thế giới độc đáo không lẫn với ai. Thế giới ấy lặp đi lặp lại từ
truyện nọ sang truyện kia. Thế giới ấy có cái vẻ riêng, những âm thanh riêng
và nhất là cái nhịp điệu riêng của nó.
Chẳng hạn, hãy nói về chuyện trời đất, khi hậu. Đọc Thạch Lam, rất ít khi người
ta bắt gặp mùa hè. Cũng gần như không có ngày xuân nữa, nếu không phải là
thứ ngày xuân mưa phùn gió bấc, tức là mùa đông còn sót lại. Bối cảnh được tả
trong Tiếng chim kêu: “một đêm mưa phùn ẩm ướt và tối tăm về cuối tháng
chạp” (Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học,1988, tr. 48 - các số trang nhắc sau
đây đều lấy từ Tuyển tập này). Mấy câu mở đầu của Đói “Một cơn gió lọt vào
làm Sinh tỉnh giấc. Anh thấy cái hơi lạnh của mùa đông thấm qua làn chăn


mỏng” (tr. 62). Một câu ở giữa Người đầm “Lúc chớp bóng tan, trời bắt đầu mưa
bụi và gió lạnh” (tr. 99). Đây nữa, những câu mở đầu Cuốn sách bỏ quên (tr.
117), Gió lạnh đầu mùa (tr. 90) Người lính cũ (tr. 75), Một cơn giận (tr. 43) và
khung cảnh được khắc hoạ đầu phần hai tiểu thuyết Ngày mới (tr. 221) Một cái
gì giống như vô thức đã chi phối tác giả, khiến ông tự lặp lại mình, mà không
hay biết.
Cố nhiên, gắn liền với cái thời gian của se lạnh, của tái tê, buồn bã ấy, là một
không gian u tịch và dù ở thành thị hay nông thôn, không gian đó thường có rất
nhiều khoảng tối. “Chung quanh tôi, cái đen tối của đêm khuya dày dằng dặc”
(tr. 79) “Diên nấc lên một tiếng rồi chạy trốn vào trong bóng tối của buổi chiều
vừa xuống” (tr. 116). “Nàng cúi đầu đi mau vào trong ngõ tối” (tr. 146). “Ngoài
đường trời hãy còn mưa, mưa buồn rầu và âm thầm trong tối” (tr. 132) “Trường
qua một cái cửa hẹp. Bóng tối bao bọc lấy chàng như một tấm màn lạnh lẽo”
(tr. 221). Quả có như Phong Lê nói, "Những khoảng tối” và sức gợi của nó
thường trở đi trở lại nhiều lần trên trang văn của Thạch Lam. (Lời giớí thiệu,
tr.15). Để xác định cái trục thời gian - không gian mà ở đó nhân vật Thạch Lam
hoạt động người ta chỉ còn có cách dùng những chữ: buồn, xám, nhợt nhạt, và
… vô vọng. Vâng, vô vọng, không lối thoát, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Kể ra, ở một thiên truyện như Dưới bóng hoàng lan, còn thấy có mùa hè, những
tiếng reo vui, một ít ánh sáng, nó khiến cho bóng tối thì dịu dàng mà không
buốt lạnh. Nhưng đặt vào toàn bộ sáng tác của Thạch Lam nói chung, thì nó lại
đứng riêng ra, như một trang sách sắp lạc. Đúng hơn, cái mơ màng trong Dưới
bóng hoàng lan có vẻ như không có thực. Nó chỉ là một kỷ niệm. Chẳng qua,
trước cơn xô đẩy của trường đời (một sự xô đẩy khiến nhân vật chính là Thanh
“cảm thấy mình bé quá và lại đi xa”), người ta phải gắng tìm lấy một chỗ dựa
về mặt tinh thần. Nhưng có chắc là chỗ dựa ấy bền vững không, không ai dám
nói! Thành thử bên cạnh phần bóng tối miên man không dứt trong tác phẩm
Thạch Lam, cái điểm tươi sáng mà thiên truyện Dưới bóng hoàng lan gợi lên
thật cũng chẳng khác gì những kỷ niệm thời thanh xuân còn rơi rớt lại trong
nhân vật cô hàng xén mang tên Tâm. Dù những ngày chợ búa có bừng lên rực
rỡ và nhiều màu sắc đến đâu, chúng cũng chỉ là một quãng thời gian ngắn
ngủi. Bởi phần chính trong cuộc đời ấy là một cái gì nhạt nhoà, âm điệu chính
của cuộc đời ấy là một cái gì mòn mỏi. Mà đó không phải là trường hợp riêng
của Tâm trong Cô hàng xén. Số phận những Mai (Trong bóng tối buổi chiều),
Liên (Một đời người), Dung (Hai lần chết), nhân vật xưng tôi trong Người bạn
cũ v.v đều thế cả. Trước Nam Cao khá lâu, Thạch Lam đã bày ra cho thấy
những kiếp sống mòn. Ông không đi vào một trường hợp nào thật sâu, thật kỹ.
Nhưng ông thấy nó ở khắp nơi. Nó là quá khứ, là hiện tại lại cũng là tương lai.
Nó là cái mẫu số chung làm nên cuộc sống nhiều người. Đứng về mặt kết cấu
mà xét, trong vẻ đa đạng của đời sống, người ta thường bắt gặp trong tác
phẩm Thạch Lam những truyện ngắn dựa trên tình thế chung là cả cuộc đời
nhân vật. Cuộc đời ấy đồng thời là một quá trình chuyển cảnh, sự di chuyển
lặng lẽ, nhưng rõ rệt; trong cuộc đời ấy, ánh sáng cứ nhạt dần, con người cứ
héo hon dần, cho đến khi chính họ mất hút đi trong bóng tối. Riêng trong Hai
đứa trẻ, thì sự biến chuyển xảy ra chỉ trong thời gian ngắn, gói gọn trong một
buổi chiều, nhưng cái hướng biến chuyển cũng đã rất rõ. Đầu truyện còn thấy
có ánh sáng; cuối truyện, bóng tối đã quánh đặc lại. Trong bóng tối một vài
biểu hiện của sự sống có được khắc hoạ như những điểm sáng linh động (mấy
người phu ngồi hàng nước, gia đình bác xẩm và cả chuyến tàu nữa, chuyến tàu
“rầm rộ đi tới”). Nhưng rồi chúng cũng tan biến, nhường chỗ cho bóng tối càng
đặm đặc và chắc chắn hơn. Từ điểm này mà quy kết lên, có thể bảo Thạch Lam
là nhà văn bi quan bậc nhất trong giai đoạn văn học trước 1945. Nhiều lần,
trong các thiên truyện, nhân vật của ông biết rằng lẽ ra họ phải kêu to lên,


đứng thẳng lên phản kháng, song họ lại “lờ mờ cảm thấy… không đủ can đảm..
không đủ quả quyết với chính mình” (tr. 73). Đức hy sinh, thói quen nhẫn nại
cam chịu có làm cho các nhân vật này có phần cao quý hơn (chúng tôi sẽ trở
lại điều này ở một đoạn sau) nhưng mặt khác cũng làm cho họ bé nhỏ đi. Trong
các nhân vật không có cái xu thế chống trả quyết liệt lại hoàn cảnh mà người
ta coi là một đặc điểm phải có của nhân vật tiểu thuyết ( có lẽ vì thế mà tiểu
thuyết Thạch Lam hay bị chê là đọc kém hấp dẫn?) Nhưng nên nhớ rằng sự
chọn lựa của các nhà văn không bao giờ chỉ là việc riêng của các nhà văn đó
mà chắc chắn còn biểu hiện sự chọn lựa nào đó của cộng đồng, của xã hội.
Trong lúc chưa giải thích được đầy đủ ý nghĩa cái nhìn bi quan của tác giả Cô
hàng xén, chúng ta hãy ghi nhận nhà văn đã lựa chọn, đã có cách nhìn riêng và
đã trung thành với chính mình. Cùng với lối sắp đặt không gian thời gian đã
nói, lối miêu tả con người như thế này là đặc trưng cho văn xuôi Thạch Lam, nó
cũng là một phương diện làm nên thi pháp Thạch Lam, nếu như chúng ta muốn
đi tìm cái thi pháp đó.
II
Để hiểu rõ thêm hình ảnh con người được miêu tả trong văn Thạch Lam nói
chung có một điểm phải dừng lại kỹ hơn: hình ảnh của tác giả với tất cả những
biến điệu của hình ảnh ấy qua các tác phẩm.
Trong công việc này, người nghiên cứu Thạch Lam có một may mắn: Văn xuôi
Thạch Lam là một thứ văn xuôi giàu chất tiểu sử.
Trong cuốn Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường in ở Sài Gòn trước 1975, bà
Nguyễn Thị Thế, người chị kề với Thạch Lam kể rằng: Về quê ngoại ở Cẩm
Giàng, gia đình xin được một khoảnh đất ngay phố huyện, đằng sau nhà là
đường xe hoả. Gia đình vắng, hai chị em chỉ mong có chuyến tàu sau nhà là
chạy ra xem. Nhà ở giữa một xóm chợ toàn người Hà Nam- Phủ Lý. Các gia đình
đó, người làm nghề kéo xe làm mướn, như nhà bác Đối, người đánh cá, vớt tép
như nhà mẹ Lê. Vẫn lời bà Thế kể: Bà tôi dù trong nhà còn ít gạo mà thấy chị
Lê đem rá sang, thưa cụ bố cháu mấy hôm nay ốm không đi làm được, các
cháu đói từ sáng đến giờ chưa có gạo thổi cơm, là bà tôi còn bao nhiêu gạo
đem cho hết. Rồi nhà lại chuyển từ Cẩm Giàng xuống Tân Đệ, ở Tân Đệ một
năm mới lên Hàng Bún. Đối chiếu giữa lời kể đó với các chi tiết trong truyện
ngắn Thạch Lam, thấy mọi chuyện gần như hoàn toàn trùng khít. Thạch Lam
đã chỉ viết những gì mà bản thân ông từng sống.
Nhưng đấy vẫn chưa phải là điều quan trọng nhất.
Chất tiểu sử trong văn xuôi Thạch Lam, bộc lộ ra trước tiên là ở nhân vật.
Thế giới trong Thạch Lam sở dĩ hằn lên rõ rệt, trước tiên vì ở đó hiện lên hình
ảnh một con người thống nhất. Dù viết chuyện chính mình trải qua hay nghe
người khác kể lại,[2] tác phẩm vẫn trở thành một thứ chân dung tự hoạ của nhà
văn, bất kể ông muốn hay không.
“Trước ngọn gió đầu mùa, tôi không khỏi ngăn được những cảm giác sâu xa và
mới lạ. Tôi đem tâm nghĩ ngợi đếnnhững cơn gió đột khởi của lòng người, báo
trước những sự thay đổi trong cái bí mật của tâm hồn” (V.T.N. gạch dưới). Trong
lời nói đầu viết cho Gió đầu mùa, Thạch Lam hé ra cho thấy con người nhà văn
trong ông như vậy. Và đó cũng là hình ảnh của ông mà người đọc tiếp nhận
được qua tác phẩm. Ông thích yên lặng, thích đằm mình trong những suy


tưởng riêng tư. Bởi đời sống, với ông, là một cái gì thiêng liêng, nên chỉ cách
sống của ông là cách sống của một người rất kỹ tính. Chẳng những mọi suồng
sã trong tình cảm, mọi xô bồ hỗn tạp trong giao tiếp xa lạ với ông, mà cả
những lối sống, lối nghĩ hời hợt, nhợt nhạt, theo ông đều là không thể chấp
nhận được. Trong quan hệ với mọi người, ông có những nguyên tắc chặt chẽ:
không ai có thể hiểu hết người khác. Mọi lời nói ra đều bao hàm những điều
chưa nói hết. Cuộc sống mãi mãi còn những bí mật. Nhưng sự quan tâm tới mọi
người, tình thương với đồng loại, cả những phút se lòng trước đau khổ của
những kiếp sống chung quanh chỉ là điều bắt buộc, thiếu nó, người ta không
còn là người ta nữa. Trong chừng mực nào đó, hình ảnh con người Thạch Lam
hiện lên qua tác phẩm có những nét tương đồng với con người Tchékhov mà
các nhà văn học sử đã mô tả.
“Ý nhị nhưng buồn rầu, tốt bụng nhưng lạnh lùng, vị kỷ nhưng nhạy cảm với nỗi
đau khổ của con người, Tchékhov cống hiến đời mình cho văn học và y học, làm
say mê lòng người nhưng lòng mình lại buồn chán.”
Sự buồn chán nói ở đây (và rộng hơn một phần cái nhìn bi quan nói ở trên) thật
ra là đồng nghĩa với sự lương thiện. Chỉ có những người hết lòng với cuộc sống
mới cảm thấy hết ý nghĩa buồn chán của nó.
Vả chăng, trong Thạch Lam cũng như trong các nhân vật của ông, sự buồn
chán không hề dẫn tới thái độ buông xuôi, hoặc lối sống lưu manh tuỳ tiện. Khi
là một người thợ, khi khác một công chức, một cô hàng xén thậm chí một cô
gái trông hàng cho mẹ, song các nhân vật của Thạch Lam có chỗ giống nhau:
họ đều là những người tận tuỵ với nghĩa vụ làm người của mình, ở họ, có sự
lương thiện, sự trong sạch, dấu hiệu của một đời sống nội tâm ổn định. Trong
khi có vẻ như là chịu đựng, thậm chí như là đầu hàng, người ta lại thấy toát lên
ở cái nhân vật ấy một khí phách cứng cỏi: họ vẫn là mình; không hoàn cảnh
nào bẻ gãy nổi họ.
Hợp cả lại, bấy nhiêu sự tận tuỵ, sự trong sạch, sự cứng cỏi làm cho nhân vật
của Thạch Lam có một nét chung này: sự cao quý.
Từ các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, qua các tiểu thuyết của Vũ Trọng
Phụng, chúng ta biết rằng trong xã hội Việt Nam trước 1945, có một loạt tính
cách rất phổ biến là tính cách lưu manh. Với những kẻ lưu manh ấy, cuộc sống
mất hết vẻ thiêng liêng mà nó phải có. Khi đã lưu manh hoá, con người ta
không thấy có sự ràng buộc nào hết. Luật pháp họ cũng coi thường. Kỷ cương,
đạo đức với họ càng vô nghĩa. Họ chỉ biết có lợi. Vì chút lợi nhỏ các nhân vật
trong những Tôi xin hết lòng, Răng con chó của nhà tư sản, Một tin buồn, Đồng
hào có ma v.v dám làm bất cứ việc khốn nạn nào. Vì những món lợi lớn hơn,
Nghị Hách sẵn sàng nhúng tay vào những việc kinh thiên động địa, bất chấp cả
lễ nghĩa và liêm sỉ. Đám lưu manh ấy chen nhau xô đẩy nhau mà sống, rút ruột
nhau, phỉ báng nhau, hành hạ nhau. Và qua cách miêu tả của Nguyễn Công
Hoan và Vũ Trọng Phụng họ ngày càng đông đảo hơn và trở nên đểu giả hơn.
Các nhân vật của Thạch Lam thuộc vào một thế giới hoàn toàn khác. Trong khi
những bác sĩ, kỹ sư, bà phán, ông Nghị, ông dân biểu ở Nguyễn Công Hoan và
Vũ Trọng Phụng cũng cư xử như một lũ vô học đích thực, thì ở Thạch Lam, đến
mấy cô điếm cũng có cốt cách sang trọng của người được giáo dục cẩn thận từ
nhỏ. Trong Tối Ba mươi, ngay ở chốn lầu xanh bẩn thỉu, hai nhân vật Liên và
Huệ vẫn cúng tất niên một cách thành kính, như bất cứ một ông đồ có học nào.
Mặc dù phải làm một cái nghề khốn nạn, nó cho phép người ta nguyền rủa cả
loài người, song Huệ cũng như Liên vẫn rất gần gũi với những Tâm (Cô hàng
xén), Mai (Trong bóng tổi buổi chiều), và nhiều nhân vật phụ nữ khác trong
Thạch Lam. Thậm chí họ hơi cổ nữa. Song đạo đức mà họ noi theo ở đây rõ
ràng là một thứ đạo đức truyền thống đã bắt rễ sâu vào cuộc sống của những


người dân thường trên mọi miền của xứ sở. Không phải ngẫu nhiên, năm 1940,
khi Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân vừa in, Thạch Lam nhận ra ở đó sự
gần gũi về mặt đạo đức. Trên báo Ngày nay, số ra 15-6-1940, ông khen
ngợi Vang bóng một thời nói chung, đặc biệt Ngôi mả cũ nói riêng (“truyện
ngắn hay nhất của toàn tập”) do chỗ nó gợi chúng ta cái hương vị cũ kỹ và
nhẫn nại của sự hy sinh. Dường như đó cũng là lúc Thạch Lam nhận ra ở
Nguyễn Tuân một người cùng chí hướng cùng quan niệm: đi tìm chỗ dựa cho
con người ở những giá trị đã ổn định trong quá khứ.
Chính định hướng về nguồn ấy đã là một nét làm nên cốt cách trí thức của ngòi
bút Thạch Lam, một yếu tố căn bản tạo nên sự độc đáo của Thạch Lam trong
nền văn học 1930-1945



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×