Tải bản đầy đủ

Trần đình sử văn học và hiện thực trong tầm nhìn hiện đại

Trần Đình Sử Văn học và hiện thực trong tầm nhìn hiện đại
[ 12-04-2011 05:53:25 am ] - View: 347

Văn học và hiện thực là một trong những vấn đề trung tâm của lí luận văn học, cho đến nay, dù
có rất nhiều hệ thống lí luận giải thích khác nhau, vẫn chưa có lí luận nào được nhất trí công
nhận. Đó là vì hoạt động văn học có nhiều mối quan hệ, mà mỗi lí luận thường chỉ xây dựng
theo một quan hệ nhất định để khái quát thành nguyên lí, cho nên thường ít gặp nhau. Theo sự
phân tích của nhà lí luận văn học Mĩ M. H. Abrams, mọi lí luận văn học đều xây dựng trên quan
hệ của các yếu tố cơ bản họp thành hoạt động nghệ thuật sau đây:
Thế giới (hiện thực)
|
Tác phẩm
/

\

Nghệ sĩ(tác giả) Người tiếp nhận[1]
Từ quan hệ tác phẩm (văn học) với thế giới ta có lí thuyết mô phỏng cổ xưa và thuyết phản ánh
ngày nay. Từ quan hệ nghệ sĩ với tác phẩm, ta có lí thuyết biểu hiện, sáng tạo. Từ quan hệ tác
phẩm(văn học) với người thưởng thức ta có lí thuyết giáo huấn thực dụng truyền thống và lí
thuyết giao tiếp, tiếp nhận hiện đại. Từ bản thân tác phẩm trong quan hệ nghệ sĩ và người tiếp

nhận ta có vấn đề nội dung, ý nghĩa, kí hiệu, trò chơi, giải trí. Như thế vấn đề văn học và hiện
thực, cho dù bao quát cả quan hệ tác giả/hiện thực, người đọc/hiện thực vào trong đó thì cũng chỉ
bao quát có một phương diện của mô hình hoạt động nghệ thuật nói chung, và quan hệ đó tác
động đến quan điểm đối với các phương diện quan hệ còn lại. Từ quan điểm đó, không có lí do
nào để hạ thấp hay phủ nhận mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cũng như phản ánh luận.
Xét từ phương diện này văn học phản ánh hiện thực vẫn là một nguyên lí cơ bản, quan trọng


không thể thiếu, nhưng chỉ là một phương diện mà thôi. Phản ánh, theo nghĩa triết học mà nhà
triết học Todor Pavlov khái quát, là sản phẩm của “tác động qua lại”, do đó nó không đơn giản
chỉ là “tái hiện”, “mô phỏng”như lâu nay ta hiểu, mà nó còn có nghĩa là phản ứng, đáp trả, phủ
nhận…cho nên những người phát biểu “văn học không mô phỏng (hay phản ánh) hiện thực, mà
chỉ phát hiện, biểu hiện thực tại (Cassirer, Adorno…), thậm chí phủ nhận hiện thực, phê phán
hiện thực, bóc trần các mặt nạ của hiện thực, vượt lên trên hiện thực, thì cũng đều nằm trong
phạm trù “phản ánh” hiện thực, bởi họ đã hiểu phản ánh rộng hơn, bao quát hơn. Chẳng hạn, Bản
chất nghệ thuật, tính nghệ thuật chính là sự phủ định tính bản thể của thực tại. Hình tượng văn
học là sự phủ định đối với chất liệu thực tế của hiện thực. Lời văn nghệ thuật là sự phủ định lời
ăn tiếng nói thông tục hằng ngày. Trước đây ta chỉ khẳng định phản ánh luận như là lí thuyết tái
hiện, nhận thức là đã phiến diện, đối với các lí thuyết khác không được coi là phản ánh luận đều
có thái độ phê phán, thù địch, như thế lại càng phiến diện. Hiểu thế, trong bài này chúng tôi chỉ
xét một mối quan hệ là văn học phản ánh hiện thực, nhưng không xem nó là duy nhất, quyết định
tất cả.
2. Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực và thời đại
Mệnh đề “văn học phản ánh hiện thực” từng bị hiểu giản đơn thành sao chép các sự kiện của thời
đại, tôn sùng nguyên mẫu, miêu tả người thật việc thật, phản ánh các mâu thuẫn bản chất của xã
hội, thời đại…Mặc dù có lúc đã sáng tạo nên những sáng tác đáp ứng yêu cầu thực tế lịch sử,
nhưng do nghèo nàn về tư tưởng và thẩm mĩ, thiếu sức tưởng tượng, cá tính sáng tạo nhợt nhạt…
cách hiểu đó đã bị phê phán vào thời đổi mới những năm 80 – 90 thế kỉ XX. Tuy bị hiểu sơ lược,
nhưng bản thân mệnh đề đó vẫn có cơ sở. Bởi đó là mệnh đề xác định một cách tổng quát nhất
mối quan hệ giữa văn học với hiện thực và thời đại, không có cách biểu đạt khác. Thuật ngữ “mô
phỏng” có từ thời cổ đại. Xưa nhất, Platon hiểu “mô phỏng” (mimesis) chỉ là mô phỏng bề ngoài,
chưa phải chân lí[2] ,đến Aristote đã hiểu đó là mô phỏng con người, hành động, tự nhiên. Đối
với Aristote nghệ thuật không mô phỏng cái dĩ nhiên, mà mô phỏng cái khả nhiên của thế giới
để tạo ra thế giới có giá trị triết lí và thẩm mĩ. Theo ông thơ ca (tức văn học) mang đậm chất triết
lí hơn lịch sử. Từ thời Phục hưng cho đến thời Cận đại cho đến trước chủ nghĩa lãng mạn tư
tưởng mô phỏng hiện thực vẫn là tư tưởng chủ yếu của phê bình. Văn học là tấm gương phản
chiếu đời sống xã hội (Stanhdal), nhà văn là thư kí của thời đại (Balzac), nếu là nhà văn vĩ đại thì
tác phẩm của anh ta phản ánh ít ra vài ba khía cạnh chủ yếu của cuộc cách mạng (Lênin). Đối với
các bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực, phản ánh hiện thực có nghĩa là tìm kiếm các gía trị nhận
thức,đạo đức, thẩm mĩ của dời sống, lột trần các dối trá, phơi bày mọi ung nhọt, xé toạc mọi mặt


nạ, là dấn thân vào tiến trình tiến bộ của xã hội. Các tư tưởng đó đã diễn đạt khá đúng và hay về
mối quan hệ giữa văn học và đời sống lịch sử trên tầm vĩ mô, nghĩa là toàn bộ các sự kiện, nhân
vật, tư tưởng, tình cảm thể hiện trong văn học nghệ thuật đều là sự phản ánh của đời sống xã hội.
Cho dù quan niệm phương Đông xưa xem văn học là dùng để nói chí, hoặc chủ nghĩa lãng mạn
phương Tây xem văn học “biểu hiện tình cảm, khát vọng chủ quan của con người” thì cái chí ấy,
tình cảm ấy cũng đều là phản ánh đời sống xã hội. Tuy vậy, coi phản ánh luận là lí thuyết duy
nhất để giải thích văn học nghệ thuật là chưa đủ, vì với tư cách là nhận thức luận, phản ánh luận
chưa thể đi vào các quy luật sáng tạo của văn học nghệ thuật cũng như quy luật tiếp nhận của
người đọc. Để hiểu nghệ thuật người ta phải nghiên cứu quy luật sáng tạo, tâm lí học sáng tạo, kí
hiệu học, tiếp nhận nghệ thuật…nhưng không vì thế mà phủ nhận văn học phản ánh hiện thực,
tức là phản ánh sự kiện, kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm của con người trong văn học.


3. Hiện thực của văn học là thế giới ý nghĩa do thực tiễn gợi ra
Quan niệm hiện thực như là tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người đã trở
nên siêu hình, không phù hợp thực tế. Hiện thực là thực tại trong mối quan tâm của con người.
Từ đó, mỗi hình thái ý thức xã hội có một đối tượng hiện thực tương ứng với nó. Hiện thực của
văn học không giống với hiện thực của khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và chính trị. Một thời
gian rất dài chúng ta hiểu “hiện thực” của văn học là cái thực tế hiểu theo một định hướng hẹp
( hiện thực đấu tranh thống nhất nước nhà, hiện thực đấu tranh hai con đường, hiện thưc phong
trào thi đua…mà thực chất đó là hiện thực đã được chính trị hoá ). Hiện thực của văn học không
tách rời với chính trị, nhưng không đồng nhất hoàn toàn với hiện thực của chính trị. Chẳng hạn,
hiện thực chính trị không nhất thiết bao gồm hiện tượng vô cảm của cá nhân đối với số phận của
đồng loại, sự rung cảm trước thiên nhiên…nhưng đó là điều không thể bỏ qua đối với hiện thực
của văn học. Điều này L. Tolstoi đã nói rất hay trong tác phẩm Luserne. Có thể hiểu, hiện thực
của văn học là thế giới ý nghĩa mà con người sống trong đó. Vũ trụ, thiên nhiên, con người, xã
hội, văn hoá, đồ vật… chỉ khi có ý nghĩa đối với con người mới là hiện thực. Tất cả những gì mà
con người tìm thấy có ý nghĩa đối với cuộc sống và từ đó khám phá những con đường để đi tới
cuộc sống có ý nghĩa tốt đẹp hơn, thú vị hơn trong nghệ thuật đều là hiện thực. Thực tiễn cho
phép người ta càng ngày càng phát hiện ra nhiều ý nghĩa của thế giới đối với đời sống và do đó
mà cả đối với nghệ thuật. Ý nghĩa của sự vật thay đổi theo quá trình thực tiễn. Không có hiện
thực bất biến, muôn thuở. Văn học phản ánh hiện thực đó trong tính đa diện, toàn vẹn và tính
thời đại.
Thực tiễn là tính chất quan trọng nhất của hiện thực con người. Thực tiến là hoạt động của con
người để vượt qua hữu hạn nhằm hướng tới lí tưởng vô hạn và tự do. Con người là giống vật
luôn ý thức sự hữu hạn của chính mình từ trong mọi hoạt động sống như cô đơn, tuổi thọ, khả
năng chinh phục thế giới và bản thân, hữu hạn trong sản xuất, trong tình yêu, trong sáng tạo,
nhận thức, cảm nhận. Trong hoạt động vượt lên chính mình con người nếm trải mọi tình cảm từ
vui sướng, tự hào, cao cả, đến bất lực, bi đát, khôi hài, nhục nhã, cay đắng… Vì vậy hiện thực
con người rất phong phú, phức tạp, muôn màu.
4. Hiện thực của văn học – lĩnh vực của cái khả nhiên
Văn học nói chung không phản ánh hiện thực như các sự kiện hiện tồn như báo chí, thông tấn,
lịch sử biên niên, tư liệu… Văn học phản ánh hiện thực trong những ý nghĩa do thực tế và các xu
thế, khả năng đời sống gợi ra. Vì thế từ xưa Aristote đã nói văn học (thi ca) do mô phỏng cái khả
nhiên mà giàu tính triết lí hơn lịch sử. Văn học ngày nay vẫn thế, thiên về phản ánh cái khả nhiên
của đời sống, bởi đặc điểm con người là không chỉ quan tâm thực tại mà còn quan tâm hơn tới
khả năng, tương lai. Người ta có thể chịu khổ, hi sinh, nếu điều đó có ý nghĩa đối với tương lai
của đất nước, con cháu mình hoặc loài người nói chung[3]. Trong triết học duy vật biện chứng
người ta hiểu hiện thực là một cặp phạm trù đối lập và chuyển hoá cho nhau. Hiện thực là cái tồn
tại với tư cách là kết quả thực hiện của một khả năng nào đó, còn khả năng là khuynh hướng phát
triển tiềm tại của một hiện thực nào đó. Hiện thực thì không phải khả năng, còn khả năng thì
chưa phải là hiện thực. Nhìn bề ngoài thì rõ ràng người ta đã loại bỏ khả năng ra ngoài hiện thực,
hạn chế văn học trong việc phản ánh các sự việc, con người hiện tồn. Chúng ta đã làm như thế và
về lí thuyết đã từng đối lập văn học hiện thực và văn học lãng mạn. Nếu hiểu đúng, thì về thực
chất hiện thực bao hàm cả cái khả năng, và thiếu tính khả năng thì hiện thực chưa phải là hiện


thực của văn học. Chính vì là cái khả năng, nghĩa là cái chưa trở thành hiện thực, cho nên nhà
văn mới có thể dùng hư cấu sáng tạo để làm cho cái khả năng tiềm tại hiện hình lên mặt giấy cho
mọi người quan sát, thể nghiệm, thực hiện chức năng dự báo của văn học. Con người không chỉ
quan tâm hiện tại, nó còn quan tâm tương lai gấp trăm nghìn lần. Nó sợ nhất là hiện thực không
thay đổi hoặc thay đổi bất lợi cho nó. Nó không lo sợ cái hiện thực vì nó đã có rồi, biết rồi, mà sợ
nhất sự bất trắc của tương lai. Hiện thực vốn đã vô cùng phức tạp, song khả năng là lĩnh vực còn
rộng lớn và phong phú hơn nhiều. Các khả năng hiện thực và khả năng phi hiện thực, văn học
đều quan tâm. Trong hiện thực tồn tại vô vàn khả năng, nhưng do điều kiện cụ thể, hiện thực chỉ
là sự thực hiện của một trong các khả năng nào đó. Các khả năng khác tuy đã mất cơ hội được
thực hiện, nhưng chúng vân có ý nghĩa để suy nghĩ về quá khứ, hiện tại và tương lai. Như thế
hiện thực của văn học rộng lớn gấp nhiều lần so với hiện thực của lịch sử. Cái khả nhiên còn là
hiện thực độc nhất vô nhị của văn học, bởi vì nó là những khả năng, cho nên thích hợp cho nghệ
sĩ lựa chọn về mặt lí tưởng, tinh thần, nhận thức, tình cảm, thích hợp với trí tưởng tượng, với hư
cấu sáng tạo. Phản ánh cái khả nhiên ngoài chức năng dự báo còn có chức năng giải phóng tư
duy con người khỏi những khuôn mẫu cứng nhắc, bất di dịch.
5. Hiện thực – nguồn kí hiệu tự nhiên vô tận và sức mạnh của chủ nghĩa hiện thực.
Trước đây nói đến hiện thực ta thường chỉ nói đối tượng phản ánh là nguồn nội dung nhận thức
của văn học. Nhưng xét từ góc độ kí hiệu học, nếu hiện thực là thế giới ý nghĩa thì toàn bộ các sự
vật cụ thể, cảm tính – những yếu tố mang nghĩa xung quanh con người lại đều là những kí hiệu
tự nhiên ai cũng thấy, nhớ và hiểu. Các hiện tượng, sự vật, con người – các yếu tố mang nghĩa,
do lặp đi lặp lại, cho nên chúng trở thành kí hiệu của các khả năng cuộc sống tiềm ẩn. Nếu nhà
văn biết nắm bắt, lựa chọn cái nổi bật, cái lặp lại, cái đặc trưng, sử dụng chúng như những ngôn
ngữ kinh nghiệm quen thuộc thì sáng tác của anh ta dễ được công chúng đồng cảm, hiểu, chính
vì thế, ngôn ngữ hiện thực, sự miêu tả các hình tượng như thật từ lâu đã được nghệ thuật sử dụng
và sáng tạo. Ngôn ngữ tự nhiên này phong phú vô tận, khả năng diễn đạt hiện thực bằng ngôn
ngữ hiện thực tự nhiên cũng vô tận. Đó là lí do vì sao ngôn ngữ hiện thực cho đến nay vẫn là
ngôn ngữ gần gủi, yêu thích của nhân loại. Ngôn ngữ huyền thoại, hoang đường, gắn với mẫu
gốc, biểu tượng cũng có giá trị phổ biến nên cũng được sử dụng lâu dài như một ngôn ngữ văn
học hữu hiệu, nhưng do quan niệm về “chủ nghĩa hiện thực độc tôn” một thời mà nhiều khi nó bị
bài xích. Nhưng trong văn học dù có sử dụng yêú tố ngôn ngữ biểu đạt tượng trưng như truyện
và tiểu thuyết của Kafka, V. Hugo thì ngôn ngữ hiện thực ở trong đó vẫn có vị trí nền tảng.
6. Tác phẩm văn học - sáng tạo kí hiệu sinh nghĩa
Một thời gian dài do quan niếm sơ lược về phản ánh hiện thực, cho rằng phản ánh là tái hiện đời
sống như sự phản chiếu gương, như chụp ảnh, giống như thật. Thực ra trong đầu óc con người
không có gương hay máy chụp ảnh nào hết, do đó, các thuật ngữ phản ánh, tài hiện, miêu tả…
đều chỉ có ý nghĩa ẩn dụ, nghĩa là nói, (hoặc tin rằng) ý thức con người có khả năng nhận thức
đúng như sự vật vốn có trong thực tế. Đây cũng là lí do mà Lênin đã dùng các từ “sao chép”,
“chụp ảnh” để chỉ khả năng phản ánh của ý thức trong sách Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh
nghiệm phê phán. Đáng tiếc là nhiều người cố tình hiểu các thuật ngữ ấy theo nghĩa đen (không
phải nghĩa ẩn dụ ) để mà bắt bẻ, phê phán. Tuy vậy cuốn sách của Lênin viết trong điều kiện đi
đày ở Siberi, sách vở tham khảo thiếu, ngay cuốn Hệ tư tưởng Đức của Marx và Engels phải đến
năm 1934 mới xuất bản, ông khopong được đọc, cho nên những đoạn viết về ý thức và ngôn ngữ


Lênin chưa được tham khảo[4]. Lại nữa, ý kiến về “phản ánh” Lênin dùng của F. Engels trong
sách Chống Duyrinh bằng tiếng Đức in năm 1904, trong đó Engels giả định rằng mọi vật chất có
thuộc tính gần giống với cảm giác người. Nhưng giả định đó không được khoa học chứng minh.
Quan niệm của Lênin cho rằng sự phản ánh chỉ phụ thuộc vài cái được phản ánh mà không phụ
thuộc vào cái phản ánh cũng trái với thực tế. Có nhà triết học đã chỉ ra cột thuỷ ngân trong nhiệt
kế phản ánh nhiệt độ của môi trường, nhưng sự phản ánh đó phụ thuộc vào cấu tạo của nhiệt kế.
Không thấy sự phụ thuộc và cái phản ánh đã dẫn đến việc đánh giá không hết vai trò của chủ thể.
Ngày nay với các lí thuyết kiến tạo, người ta cho thấy sự phản ánh thực chất là một sự kiến tạo
của ý thức con người. Mọi hình ảnh, từ giản đơn đến phức tạp đều do hoạt động kiến tạo tinh vi
trong đầu óc con người trên cơ sở thông tin mà giác quan và kinh nghiệm tích luỹ. Điều này
trong Tư bản luận Marx cũng nói đến trong từ “biến cải” trong đầu óc người. Hiểu như vậy thì
phản ánh là kiến tạo, mà đã kiến tạo tức là có vai trò sáng tạo của thể. Phản ánh và sáng tạo
thông nhất với nhau. Các hình thái ý thức chỉ khác nhau trong cách kiến tạo, chứ không khác
nhau ở chỗ có hình thái thiên về phản ánh, có hình thái ý thức thiên về sáng tạo như có người
hiểu. Khoa học kiến tạo thành khái niệm, còn nghệ thuật kiến tạo thành hình tượng hoặc giai
điệu cảm tính. Thực chất kiến tạo tác phẩm nghệ thuật là tạo nên một “văn bản” có khả năng sinh
nghĩa, người đọc qua hệ thống các biểu tượng, kí hiệu, kết cấu sẽ lại kiến tạo ý nghĩa của nó. Các
nhân vật, chi tiết, hình ảnh thực chất đều là những kí hiệu thuộc các cấp độ khác nhau, được tổ
chức vào hệ thống, có mở đầu, có kết thúc, có tương phản, đối chiếu…tức là có cấu trúc, từ đó
mà tạo nên nghĩa của tác phẩm. Từ đó ta thấy chủ nghĩa hiện thực là một kiểu kiến tạo kí hiệu
mà chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa lãng mạn cũng là những kiến tạo kí hiệu khác, không phân biệt
hơn kém về giá trị nhận thức và nghệ thuật. R. Jakobson căn cứ vào cặp đối lập trục dọc và trục
ngang, cho rằng ngôn ngữ của chủ nghĩa hiện thực là kiến tạo văn bản theo nguyên tắc tương
cận, đặt các sự vật bên nhau theo sự liên tục, liên tiếp để chúng bộc lộ ý nghĩa như thật, còn ngôn
ngữ của chủ nghĩa lãng mạn là thay thế cái này bằng cái khác, tạo thành những ẩn dụ về hiện
thực.
7. Nhìn lại lí thuyết chủ nghĩa hiện thực và lí thuyết điển hình
Chủ nghĩa hiện thực về lí luận, chủ trương phản ánh đời sống như nó vốn có trong thực tế, tức là
chủ trương dùng chi tiết chân thực lấy từ đời sống. Theo quan niệm của tôi, đó là những kí hiệu
tự nhiên dược chọn lọc và nghệ thuật hoá. Chủ nghĩa hiện thực là kiểu sáng tác sử dụng ngôn
ngữ tự nhiên để sáng tác. Nhân vật điển hình của văn học lâu nay hiểu là loại nhân vật có sự
thống nhất giữa cái chung khái quát cao và cái cá biệt đặc thù, thì “cái chung” là nghĩa, cái được
biểu đạt, còn “cái cá biệt” là yếu tố cảm tính đóng vai trò cái biểu đạt, hai mặt này họp lại tạo
nên cấu trúc của kí hiệu văn học. Lí luận điển hình ngoài yêu cầu về cái chung như là yêu cầu về
tính khái quát cao, có giá trị phổ biến, còn yêu cầu về tính cụ thể, cá thể, độc đáo, đặc trưng, cá
tính không lặp lại… đều chung chung, bởi nó không đi ra ngoài cấu trúc chung của kí hiệu[5].
Biêlinski nói điển hình là “người lạ quen biết”, là “nhân vật mà tên của nó trở thành danh từ
chung” cũng nhằm chỉ đặc điểm của hình tượng nhân vật như một kí hiệu. Một đặc điểm quan
trọng nữa của chủ nghĩa hiện thực, theo tôi, là loại kí hiệu mà giữa cái biểu đạt và cái được biểu
đạt có mối liên hệ nhân quả. Miêu tả người vô sản có nghĩa là khái quát về vô sản, miêu tả địa
chủ tức là khái quát về địa chủ, phong kiến. Engels khi nói rằng chủ nghĩa hiện thực ngoài chi
tiết chân thực ra còn phải tái hiện tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình.” đã nâng tính
nhân quả lên một mức cao hơn, ông yêu cầu các chi tiết giống như thật đến mức có thể có giá trị
nhận thức về lịch sử. Ông lại đòi hỏi nhận thức về bản chất giai cấp, xã hội của nhân vật như


trong thục tế. Ông đã phê bình tác phẩm Cô gái thành thị của Hackness là miêu tả giai cấp công
nhân trong đó thiếu tính tích cực như nó vốn có ở khu phố Đông Luận Đôn. Nhưng quan hệ giữa
mặt biểu đạt và mặt được biểu đạt trong kí hiệu lại có tính chất võ đoán, do vậy, bản chất giai cấp
của nhân vật có lúc làm nên tính điển hình, nhưng nhiều lúc tính điển hình lại nằm ở chỗ khác.
Ví dụ như ở hình tượng AQ, tính giai cấp của y không làm nên tính điển hình, còn cái phép thắng
lợi tinh thần rất điển hình thì lại không thuộc về tính giai cấp của y. Do vậy tuyệt đối hoá mối
liên hệ nhân qủa trong điển hình hiện thực sẽ làm nghèo sự đa dạng của khái quát văn học. Hơn
nữa, tạo thói quen đọc nhầm văn học. Trong truyện cổ tích ông vua có về giai cấp phong kiến
đâu! Trong lí luận văn học hiện thực điển hình là một kí hiệu xây dựng theo ngôn ngữ tự nhiên,
còn các kiểu hình tượng khác sử dụng kí hiệu huyền thoại, hoang tưởng. Phân tích về mặt cấu
trúc kí hiệu ta thấy điển hình không khác gì hình tượng phi điển hình. Nó chỉ là loại hình tượng
đặc thù chứ không có gì tỏ ra là khái quát cao cấp hơn, chân thực hơn các hình tượng nghệ thuật
khái quát theo ngôn ngữ nghệ thuật khác. Suy nghĩ lại về khái niệm điển hình không có nghĩa là
phủ định điển hình và chủ nghĩa hiện thực, mà chỉ là muốn nói rằng đó là một ngôn ngữ nghệ
thuật có tác động to lớn, sâu rộng, được bạn đọc yêu thích, nhưng không hề là phương pháp sáng
tác hay ngôn ngữ nghệ thuật có giá trị nhân thức cao hơn ngôn ngữ của chủ nghĩa lãng mạn, chủ
nghĩa hiện đại mà một thời chúng ta đã gán cho nó. Trong thực tế so với các ngôn ngữ khác,
ngôn ngữ tự nhiên của chủ nghĩa hiện thực do dễ đọc dễ cảm, vẫn được đông đảo nhà văn và
người đọc yêu thích đón nhận. Tuy vậy lạm dụng ngôn ngữ này sẽ kìm hãm sự phát triển năng
lực sáng tạo cũng như thưởng thức trong thói quen truyền thống, xa lạ với ngôn ngữ khác và sẽ
khó khăn trong giao lưu văn học trong thời đại hội nhập.
8. Sự đa dạng của các phương pháp sáng tạo phản ánh hiện thực
Theo cách hiểu nêu trên, mọi sáng tác nghệ thuật đều phản ánh hiện thực theo những cái khả
nhiên mà nghệ sĩ lựa chọn để nêu lên những vấn đề bức xúc của nhân sinh, hướng tới tạo lập một
nhãn quan mới về thế giới cho người đọc. Sự khác nhau của sáng tác nằm ở phương pháp sáng
tác với tư cách là ngôn ngữ phản ánh khác nhau. Do đó để phản ánh hiện thực sâu sắc, rộng lớn,
không phải chỉ độc tôn một chủ nghĩa hiện thực như trước đây mà có thể sử dụng nhiều phương
pháp – ngôn ngữ nghệ thuật khác. Dòng ý thức, theo tôi hiểu cũng là một ngôn ngữ hiện thực,
bởi nhà văn sử dụng ngôn ngữ chiêm nghiệm bên trong của dòng ý thức của mỗi con người mà
do một thời chúng ta chỉ quen với ngôn ngữ khách quan bên ngoài mà bỏ quên nó đi. Ngôn ngữ
huyền thoại, hoang tưởng, nghịch dị, xáo trộn không gian thời gian cũng không xa lạ với tư duy
kì ảo dân gian và sáng tác của các tác giả lớn như Bồ Tùng Linh, Kafka, Marquez…đều có giá trị
trong việc sáng tạo ra những hình tượng văn học có tầm cỡ dân tộc và nhân loại. Như thế để khái
quát hiện thực hôm nay chúng ta có thể sử dụng các loại ngôn ngữ nghệ thuật đa dạng nhất.
Hà Nội, 15 – 6 – 2010
(Bài đã đọc tại Hội nghị khoa học về Văn học phản ánh hiện thực đất nước hôm nay, tại Đà Lạt,
ngày 12 – 7 – 2010)
[1]
M. H. Abrams.


Gương và đèn. Lí thuyết lãng mạn và truyền thống phê bình văn học
. Lê Trĩ Ngưu, Trương Chiếu Tiến, Đồng Khánh Sinh dịch, Vương Ninh hiệu đính. Đại học Bắc
Kinh, Bắc Kinh, 1992, tr. 6.
[2] Platon cho thế giới tự nhiên mô phỏng ý niệm tuyệt đôi, vĩnh hằng, còn nghệ thuật thì mô
phỏng tự nhiên, còn kém hơn tự nhiên, bởi vì nó “chỉ là sự mô phỏng tác phẩm của kẻ khác”, là
sự mô phỏng hạng ba. Người đối thoại hỏi Socrates: “Vậy nhà thơ viết bi kịch cũng là người mô
phỏng, vậy anh ta cũng giống như mọi kẻ mô phỏng khác, cách biệt ba lần so với vị chúa tể và
chân lí những ba lần có phải không? Socrat trả lời: Hình như đúng như thế..
[3] Xin xem: “Văn học như là tư duy về cái khả nhiên”, Báo Văn nghệ, số 2008.
[4] Cuốn này đến năm 1934 mới được xuất bản ở Nga.
[5] Chính vì thế M. Gorki ngoài điển hình Oblomov, điển hình con người thừa trong văn học
Nga, từng nói các hình tượng trong truyện cổ tích đều điển hình cho cái thiện, cái ác. Nghĩa là ở
đâu cũng tìm thấy điển hình, không riêng gì văn học hiên thực. Còn một thời gian dài người
Trung Quốc tranh luận về tính điển hình của nhân vật AQ trong truyện của Lỗ Tấn mà cho đến
nay vẫn chưa ngã ngũ. Theo tôi đó là vì khái niệm điển hình chưa đạt đến mức chuẩn mực của
một khái niệm khoa học, nghĩa là nó chỉ là một khái niệm cảm tính về một hình tượng độc đáo
có ý nghĩa phổ quát mà thôi..



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×