Tải bản đầy đủ

Màu sắc đường thi TỐNG BIỆT HÀNH

Màu sắc Đường thi
trong bài thơ "Tống biệt hành" của Thâm Tâm
__________________________________
*HỒ THUÝ NGỌC
.
Viết về đề tài rất quen thuộc và có nhiều bài thơ nổi tiếng nhưng vẫn tạo được cho thi phẩm của
mình một màu sắc độc đáo, hấp dẫn thì không thể không nói đến nhà thơ Thâm Tâm với bài thơ
Tống biệt hành. Đã có rất nhiều người khám phá vẻ đẹp lung linh muôn sắc màu của tác phẩm
này. Xin góp thêm cảm nhận về Tống biệt hành nhìn từ góc độ cấu tứ mang màu sắc Đường thi
trong việc thể hiện tâm trạng, tinh thần của đấng nam nhi thời đại mới thông qua cuộc tiễn đưa.
Một trong những đặc điểm của cấu tứ thơ Đường là các nhà thơ không bao giờ nói trực tiếp và
nói hết ý mình mà chỉ dựng lên các mối quan hệ để độc giả luận ra ý tác giả.
Thâm Tâm đã kế thừa cấu tứ thơ Đường làm cho bài thơ đậm đà phong vị Đường thi nhưng lại
ngời sáng tinh thần thời đại. Trước hết, tác giả tạo dựng mối quan hệ KHÔNG – CÓ ở bốn câu
thơ mở đầu bài thơ để thể hiện tình người trong cuộc chia ly, tiễn biệt: không có sông nhưng có
tiếng sóng ở trong lòng, không có bóng chiều nhưng có hoàng hôn trong mắt. Những hình ảnh
đối lập đó đã diễn tả nỗi buồn tê tái của người đưa tiễn, ẩn chứa đằng sau đó là tâm trạng của
người ra đi. Thâm Tâm đã tạo ra sự hiện diện của những cái không có bằng hàng loạt từ phủ định
("không đưa qua sông", "bóng chiều không thắm, không vàng vọt") nhưng liền sau đó lại đưa ra
những câu hỏi tu từ.
Đưa

người,
ta
Sao
nghe
tiếng
Bóng
chiều
không
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

không
sóng
thắm,

đưa

không

qua
trong
vàng

sông,
lòng?
vọt,

Chính điều đó lại gợi cái có trong liên tưởng người đọc về hình ảnh "dòng sông", "hoàng hôn" đã
trờ thành biểu tượng cho những cuộc chia ly. Trong thơ Đường, dường như cuộc tiễn đưa nào
cũng không thể thiếu những hình ảnh đó:
Sổ
thanh
phong
địch
ly
đình
Quân
hướng
Tiêu
Tương,
ngã


hướng
(Trịnh
Cốc

Hoài
thượng
biệt
hữu
(Vài tiếng sáo theo gió vi vút, ở đình ly biệt buổi
Anh đi tới vùng sông Tiêu, sông Tương, tôi đi tới đất Tần)
Thỉnh
Biệt
(Lý

quân
ý

thi
dữ

vấn
chi

đông
thuỷ
Bạch)

lưu
đoản

vãn
Tần.
nhân)
chiều hôm
thuỷ
trường.


(Xin
bạn
thử
dòng
nước
chảy
Xem tình ý biệt ly và dòng nước bên nào ngắn bên nào dài)
Li
tâm
bất
dị
(Hứa
(Tình li biệt chẳng khác gì dòng nước sông)

Tây
Hồn)

về
giang

đông
thuỷ

Các nhà thơ cổ điển lúc viết thơ "Tống biệt" hay dùng thủ pháp đồng nhất tình cảm và cảnh, còn
Thâm Tâm có cách thể hiện riêng: không tả cảnh nhưng lại gợi cảnh. Cái tài của tác giả là tạo
nên sự liên tưởng, sự cộng hưởng nối liền cuộc chia ly hiện tại với cảnh cũ người xưa trong lòng
độc giả. Chính vì vậy nhà thơ đã thành công khi thể hiện tình cảm muôn thuở của con người: "Bi
mạc bi hề sinh biệt ly" (Không gì buồn bằng nỗi buồn chia ly) (Khuất Nguyên). Có lẽ Thâm Tâm
đã gặp gỡ Huy Cận trong cách thể hiện này. Khi tác giả Tràng giang viết "Lòng quê dợn dợn vời
con nước / Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà" đâu có ý phủ nhận "khói" để khẳng định nỗi
nhớ nhà của mình da diết và thường trực hơn Thôi Hiệu:
Quê
hương
Trên
sông
khói
(Thôi Hiệu – Hoàng Hạc lâu)

khuất
sóng

bóng
cho

hoàng
buồn
lòng

hôn
ai?

Ngược lại Huy Cận đã diễn tả nỗi nhớ quê hương da diết bằng cách cộng thêm nỗi buồn của
người
xưa.
Thâm Tâm phát hiện những nét đối lập mà thống nhất để tạo dựng hàng loạt mối quan hệ: bề
ngoài – bên trong; con người giả - con người thực; dửng dưng, lạnh lùng - buồn bã, dằn vặt… để
khắc hoạ tâm trạng, ý chí, khát vọng của li khách thông qua cảm nhận của người đưa tiễn.
Người ra đi (li khách) là con người khác thường, bề ngoài có vẻ dửng dưng với tất cả, vượt lên
mọi trở lực riêng tư để thực hiện chí lớn.
Đưa
người,
ta
Một giã gia đình, một dửng dưng…

chỉ

đưa

người

ấy,

Li
khách!
Li
khách!
Con
đường
nhỏ,
Chí
nhớn
chưa
về
bàn
tay
không,
Thì
không
bao
giờ
nói
trở
lại!
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong. Các từ ngữ "một", "giã", "không bao giờ", "đừng" cực tả cái
rắn rỏi dứt khoát tưởng chừng không ai có thể ngăn cản quyết tâm của người ra đi. Người ấy ra
đi có vẻ như là không hề vướng bận với một chút tình riêng:
Mẹ
thà
coi
Chi
thà
coi
Em thà coi như hơi rượu say.

như
như

chiếc



hạt

bay
bụi

Dáng vẻ cương quyết của li khách, chúng ta đã từng bắt gặp ở tráng sĩ Kinh Kha, ở "Chàng tuổi
trẻ vốn dòng hào kiệt" trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Nhưng đến khổ thơ thứ ba qua
sự hồi tưởng của người tiễn thì con người thật bị che đậy ở trên đã được bộc lộ.


Ta
biết
người
Ta biết người buồn sáng hôm nay:

buồn

chiều

hôm

trước:

"Ta biết" chứ không phải "ta thấy" tức là người ở lại hiểu được nỗi niềm sâu thẳm trong cõi lòng
người ra đi. Nếu như "nước mắt như mưa" giúp ta nhận biết về con người thật ẩn chứa sau dáng
vẻ bề ngoài oai nghiêm, hùng dũng của lính thú đời xưa thì ở bài thơ này ta nhận được con người
thật li khách qua sự đồng cảm của người ở lại. Đằng sau cốt cách rắn rỏi, dửng dưng của đấng
nam nhi ý thức được "Làm trai đứng ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông" là cả chiều
sâu nội tâm. Đó là những nỗi buồn day dứt, dằn vặt, xót xa của li khách trước tình cảm gia đình
thiêng liêng. Ngay sau giọng thơ có vẻ dứt khoát, rắn rỏi và sự lặp đi lặp lại ba chữ "thà coi như"
ở ba câu cuối bài thơ là sự xót xa, nghen ngào thầm lặng. Có một sự giằng xé nội tâm trong con
người này: một bên là tình cảm, một bên là ý chí, khát vọng. Thâm Tâm đã xây dựng hình tượng
nghệ thuật tương phản nhưng nhằm tô đậm sự thống nhất trong hành động, ý chí của li khách.
Tạo dựng nên các mối quan hệ, nhà thơ dần dần hé mở cho người đọc nhận ra cái có ẩn chứa
trong cái không, cái thực ẩn chứa trong cái hư và cuối cùng là hình ảnh một con người mang
dáng dấp trượng phu được nhiều người ngưỡng mộ.
Thủ pháp gợi - một thủ pháp quen thuộc trong Đường thi đã được nhà thơ vận dụng để thể hiện
khát vọng thực hiện chí lớn của li khách. Khi Thâm Tâm cực tả tình cảm tiếc thương, níu kéo của
người thân chính là để cực tả ý chí không gì lay chuyển nổi của người ra đi. Tác giả còn tạo ra
mối quan hệ tin – không tin để tô đậm thêm ý này. Người ở lại in đây là cuộc đưa tiễn thật nên
mới có "sóng ở trong lòng", "hooàng hôn trong mắt" thế mà khi li khách đi rồi vẫn không tin là
có thật: "Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!" . Câu thơ diễn tả sự bàng hoàng, ngỡ ngàng của người
tiễn vì anh ta cứ tưởng là tình cảm của người thân có thể níu kéo li khách ở lại được. Làm sao có
thể đành lòng trước cảnh mẹ già, cảnh chị gái "Khuyên nốt em trai dòng lệ sót" , cảnh em gái
"Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay" ?... Điều đó cũng chỉ nhằm khắc hoạ thêm quyết tâm thực
hiện một cuộc ra đi tự nguyện đầy lãng mạn với những khát vọng cao cả của li khách.
Kế thừa nhưng không lặp lại, Thâm Tâm đã tạo nên sức sống diệu kỳ cho Tống biệt hành. Đặc
biệt, sự kế thừa, sáng tạo trong cấu tứ thơ Đường giúp cho tác giả thể hiện sâu sắc một cái nhìn
đa chiều về "vẻ đẹp con người cao cả trong toàn bộ sự biểu hiện chân thật của nhân tính, đầy tinh
thần nhân đạo" (Trần Đình Sử)
Hồ Thuý Ngọc



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×