Tải bản đầy đủ

Bài thơ trang giang

Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận
Lê Khánh Mai
14
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Mùa thu năm 1939, nhà thơ Huy Cận, chàng trai 20 tuổi, nhân lúc đi đến bến Chèm,
đứng bên bờ nam nhìn cảnh sông Hồng mênh mông trời nước bao la đã hình thành bài

thơ “Tràng giang”. Đây không chỉ là bài thơ tiêu biểu, gắn liền với tên tuổi của nhà thơ
Huy Cận mà còn là bài thơ đặc sắc trong trào lưu thơ lãng mạn giai đoạn 1930 –1945.
“Tràng Giang” mang không khí đường thi, cổ kính và thấm đẫm màu sắc Phương Đông.
Nó có phần khác lạ so với rất nhiều thi phẩm của các thi sĩ cùng thời đang háo hức đón
nhận luồng gió Tây phương, nhiệt tình vận dụng thể thơ sonet của Pháp đổi mới thơ
Việt Nam. Tuy vậy “Tràng giang” tuyệt nhiên không bị coi là “cũ”. Ngay cả đối với hôm
nay, nó đã từng vượt qua ba phần tư thế kỷ, từng song hành với rất nhiều bài thơ hay
của nhiều xu hướng, trào lưu nghệ thuật khác nhau, song giá trị của Tràng giang vẫn
không hề bị suy giảm. Có thể xem đây là một ví dụ điển hình chứng minh rằng sự
trường tồn của một bài thơ không phụ thuộc vào việc nó được viết bằng thể thơ gì, hình
thức nào? Sức sống của nó chính là ở hồn vía nhà thơ, một cá thể mà soi vào đó người
ta thấy được tâm thế của thời đại.
Tràng giang có nghĩa sông dài, cụ thể ở đây là sông Hồng, nhưng tác giả không đặt tên
bài thơ là sông dài, mà là “Tràng giang” vì sức biểu đạt của “Tràng giang” sâu sắc hơn,
không chỉ về âm hưởng trang trọng cổ kính mà còn tái hiện một không gian khoáng đạt
vô cùng vô tận của thiên nhiên vũ trụ.


Tràng giang trước hết là một bài thơ thiên nhiên, nhưng cái đích của nó là mượn thiên
nhiên, thông qua thiên nhiên để bày tỏ niềm hoài nhớ quê hương và tâm trạng của
người trí thức trước thời cuộc.
Thiên nhiên vừa là tác nhân khơi nguồn cảm xúc vừa là phương tiện biểu đạt. Thiên
nhiên trải dài, xuyên suốt và được sắp xếp theo hệ thống đối lập. Một bên là những
hình ảnh cao lớn, rộng dài, bao la kỳ vĩ mang chiều kích vũ trụ: “sông dài”, “trời rộng”,
“mây cao”, “núi bạc”, “bờ xanh”, “bãi vàng”. Một bên là những hình ảnh, sự vật nhỏ bé,
đơn sơ, trơ trọi, trôi nổi, vật vờ: “con thuyền”, “củi một cành khô”, “cồn nhỏ gió đìu hiu”,
“bèo dạt”, “chim nghiêng cánh nhỏ”…Hệ thống hình ảnh đối lập này tạo nên sự liên
tưởng về thân phận con người nhỏ bé,bơ vơ, bất lực, buông xuôi, không định hướng,
như bèo dạt hàng nối hàng không biết về đâu, như củi một cành khô lạc mấy dòng. Đây
là tâm trạng chung của nhiều thanh niên trí thức thời bấy giờ, khi dân tộc chìm trong
bóng đêm nô lệ, mà họ chưa tìm thấy con đường đi. Tâm trạng này in đậm trong thơ
giai đoạn trước cách mạng tháng tám. Lưu Trọng Lư cảm nhận thân phận như “con nai
vàng ngơ ngác”. Xuân Diệu cũng rơi vào trạng thái của “con cò trên ruộng cánh phân
vân”. Còn Tố Hữu thì thốt lên:
“Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước
Chọn một dòng hay để nước trôi”.
Và đó là lý do của nỗi buồn, cô đơn mà người ta gọi là tâm bệnh của thời đại. Nỗi buồn
ấy thấm sâu vào cảm quan nghệ thuật trở thành lý tưởng thẩm mỹ, chi phối hoạt động
sáng tạo của các nhà thơ lãng mạn. Trong bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận nỗi buồn
là âm hưởng chủ đạo, bao trùm. Nỗi buồn dường như nằm trong bản thân tạo vật:


Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
…..Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả,
…Sông dài trời rộng bến cô liêu
Nỗi buồn ấy choán hết cả không gian, thời gian biến không gian thành một vũ trụ hoang
vắng và tĩnh lặng và thời gian ngưng đọng.
“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”
Bầu trời như thể bị đẩy lên cao, sâu thẳm không thể nhìn thấy đáy. Bầu trời hoang vu
như hồn người, còn mặt đất thì
“Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật”
Giữa sông nước mênh mông không có con đò, không có chiếc cầu để gợi lên chút hy
vọng về một bến bờ khác, vượt thoát khỏi thực tại. Không gian tuyệt đối tĩnh lặng.
Không có một âm thanh nào phát ra thành tiếng. Sóng gợn nhẹ, gió đìu hiu, bờ bãi lặng


lẽ, chỉ có thứ âm thanh từ ký ức xa xăm dội về tâm tưởng thành niềm khát khao, thành
câu hỏi: “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”.
Hiếm có bài thơ nào cùng một lúc sử dụng hàng loạt từ láy như Tràng giang: “điệp
điệp”, “song song”, “lơ thơ”, “đìu hiu” “chót vót”, “lớp lớp”, “dợn dợn” là những từ có ưu
thế diễn tả “cá tính” của sự vật, tạo nên nhịp điệu, âm hưởng của lời thơ và do đó bộc
lộ sắc thái tình cảm của nhà thơ. Và cũng hiếm có bài thơ nào đưa cả một hệ thống
thiên nhiên với nhiều hình ảnh, sự vật như “Tràng giang”. Lạ ở chỗ các yếu tố thiên
nhiên sự vật hầu như không liên kết với nhau. Nó tồn tại, vận động một cách độc lập,
cô lẻ, rời rạc như cũng tự mình ẩn vào nỗi niềm riêng , do đó càng làm gia tăng ở con
người cảm giác cô đơn, bơ vơ, không được nương tựa, che đỡ. Trong hoàn cảnh ấy
con người thường tìm nơi bám víu, tìm chỗ dựa tinh thần, một nguồn an ủi. Nơi ấy là
quê hương
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
Bóng chiều, hoàng hôn đã trở thành thời gian tâm lý trong thơ kim cổ. Đó là khoảng
thời gian cuối ngày đang dần chuyển sang đêm; những tâm tư lắng đọng cho nỗi nhớ
trào lên, nhất là nỗi nhớ quê hương luôn thường trực đau đáu trong tâm hồn thi nhân.
Nhà thơ Thôi Hiệu từng viết:
“Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”
Trước con sông dài mênh mông, nhà thơ Huy Cận như đồng cảm với nỗi lòng nhớ quê
của Thôi Hiệu ông “thú nhận” với mình: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.
Vậy là nỗi buồn của nhà thơ được cắt nghĩa đầy đủ hơn. Đó không phải nỗi buồn vu
vơ, vô cớ, mà là nỗi buồn trong sạch thanh cao. Nỗi buồn ấy không làm cho con người
trở nên yếu đuối, bi lụy, mà nuôi dưỡng trong ta những tình cảm đẹp, những khát vọng
lớn lao và tình yêu quê hương đất nước./.
Nguồn: http://www.vanchuongviet.org/



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×