Tải bản đầy đủ

Mộng trong hồng lâu mộng

Mộng trong “Hồng lâu mộng” của Tào Tuyết Cần và “Cửu
vân mộng” của Kim Vạn Trọng
Vũ Thị Thanh Tâm
Trong văn học phương Đông, từ huyền thoại cho dến khi có cánh bướm của Trang
Chu, rồi đến tận ngày nay, mộng luôn là một đề tài hấp dẫn làm nên nhiều bộ kỳ thư:
“Hồng lâu mộng” của Trung Hoa, “Cửu vân mộng” của Triều Triên, “Năm mươi lăm
chuyện kể về mộng” của Ấn Độ, “Mười đêm mộng” của Nhật Bản...
Trong những tác phẩm nổi tiếng về “mộng ảo” ấy chúng tôi chọn so sánh hai tác phẩm,
một là “Hồng lâu mộng”- tiểu thuyết cổ điển trong “tứ đại kỳ thư” của Trung Quốc, và hai
là “Cửu vân mộng”- tiểu thuyết cổ điển nổi tiếng của tác giả Kim-Man-Chung người
Triều Tiên. Hai tác phẩm này ra đời cách nhau khoảng một trăm năm (“Cửu vân mộng”
được viết vào thế kỷ XVII, “Hồng lâu mộng” viết vào thế kỷ XVIII), tuy cốt truyện khác
nhau, song có rất nhiều điểm gặp gỡ về kiểu nhân vật, nội dung tư tưởng và nghệ
thuật, đặc biệt là kết cấu giấc mộng.
Tìm hiểu mộng trong “Cửu vân mộng” và “Hồng lâu mộng” dưới cái nhìn so sánh, từ
những tương đồng, chúng ta có thể thấy rõ bản chất loại tiểu thuyết mộng ảo phương
Đông, và từ những khác biệt, chúng ta có thể thấy nét đặc sắc riêng của từng tác
phẩm, từ đó mở ra cánh đi vào thế giới tư tưởng riêng của mỗi nhà văn.
1. “GIẤC MỘNG LẦU HỒNG” VÀ “GIẤC MỘNG CHÍN TẦNG MÂY”- NHỮNG NÉT
TƯƠNG ĐỒNG
1.1. Câu chuyện giấc mơ và người trong mộng ảo

“Cửu vân mộng” là câu chuyện xoay quanh nhân vật chính Seong-Jin (Tính Chân) tu
luyện ở pháp viện trên đỉnh núi Liên Hoa của dãy Hoành Sơn, thông minh trí tuệ, vốn
được nhắm để truyền y bát. Một ngày, Tính Chân nhận lệnh của sư phụ, đi xuống long
cung thăm Long vương Động Đình hồ. Tính Chân bị ép uống rượu, dù giới luật nhà
chùa cấm, trên đường về núi lại gặp tám tiên nữ của Ngụy phu nhân vừa đến thăm hỏi
sư phụ của Tính Chân trở về, ngồi trên cầu cản đường, bèn bẻ hoa ném tặng để xin
đường. Tám nàng tiên ngoảnh nhìn mỉm cười, khiến Tính Chân ngây người, đêm về tự
nhủ không nhớ mà cứ nhớ. Lòng phàm nổi dậy, muốn làm người nhập thế.
Sư phụ biết tâm sự của Tính Chân, bèn hóa kiếp cho anh ta xuống sống ở cõi phàm
trần, đầu thai làm người con trai tên Dương Thiếu Du, cũng đày tám tiên nữ xuống trần
trải qua cõi đời mộng ảo.
Thiếu Du sinh ở đất Sở, đến mười bốn tuổi dung mạo tuấn tú, tài học xuất chúng, nhân
khoa thi bèn lên đường vào kinh ứng thí. Từ lúc lên đường đến khi vào kinh, chàng gặp
bao nhiêu mỹ nữ, đến khi đỗ trạng nguyên lấy tất cả hai vợ, sáu thiếp, gồm có: công


chúa Lan Dương, Trịnh tiểu thư con quan tư đồ (sau được phong là Vinh Dương công
chúa), Tần Thái Phượng- con gái Tần Ngự Sử, nàng hầu Giả Xuân Vân, hai nàng kỹ nữ
Quế Thiềm Nguyệt và Địch Kinh Hồng, nàng Thẩm Niễu Yên và nàng Lăng Ba. Tám
người con gái này vốn là tám tiên nữ hóa thân, đều là bậc giai nhân tuyệt sắc. Dương
Thiếu Du cùng tám mỹ nữ chung hưởng vinh hoa phú quý tột bực, chức cao, con quý.
Đến tuổi sáu mươi, Thiếu Du từ quan, chín người cùng về sống ở núi Chung Nam,
cảnh đẹp như ở chốn bồng lai thêm nhiều năm nữa. Một ngày, nhân lễ mừng thọ, họ
cùng ngoạn cảnh, gặp sư phụ khi xưa, Thiếu Du chợt giác ngộ về cuộc đời thật, bỗng
từ bốn phía thấy mây bao phủ, cảm thấy như say trong giấc mộng, khi định thần lại thấy
mình là nhà sư Tính Chân ở đạo tràng Liên Hoa. Tính Chân hồi tưởng lại, tất cả những
chuyện sớm tối hành lạc đều chỉ là một giấc mộng xuân mà thôi, phú quý phồn hoa,
tình dục nam nữ đều là hão huyền. Tính chân đến gặp sư phụ, lại thấy người báo tin
với sư phụ: “Tám tiên nữ dưới trướng Vệ phu nhân đến ngày hôm qua lại xin yết kiến
đại sư”. Tám nàng tiên đến tạ ơn giác ngộ, rồi cùng xuống tóc tu hành. Tính Chân và
tám tiên nữ đã tu thành chính quả.
Nội dung của “Cửu vân mộng” có nhiều khác biệt với “Hồng lâu mộng”, dung lượng
truyện nhỏ hơn (độ dài của “Cửu vân mộng” chỉ bằng khoảng 1/7 “Hồng lâu mộng”),
tình tiết cũng không phức tạp lắm, giấc mộng lại có phần êm đềm lý tưởng chứ không
nhiều hợp tan, vui buồn như giấc mộng lầu hồng, song về cơ bản đã gặp gỡ nhau ở cốt
truyện con người mê ngộ- đầu thai- giải thoát, ở kết cấu giấc mộng, kiểu nhân vật đa
tình, và một số điểm tương đồng về mặt tư tưởng.
Trước hết, về cốt truyện kẻ mê ngộ- đầu thai- giải thoát.
“Cửu vân mộng” là câu chuyện của Tính Chân và tám tiên nữ, vốn tu hành trên núi
thiêng, tâm trong sạch sáng suốt, vì gặp nhau bỗng động lòng phàm. Đây là quá trình đi


từ “vô tâm” đến “si”.
Khi đã “si”, Tính Chân nghĩ : “bậc nam nhi sinh ra ở đời, ra giúp đời thì làm tướng soái
ba quân, vào triều thì đứng đầu bách quan, khoác áo cẩm bào vào người, thắt đai tía
vào lưng,... mắt nhìn thấy vẻ đẹp kiều diễm, tai nghe thấy âm thanh diệu kỳ, vinh hoa
tột bậc, công danh truyền lại cho đời sau, đó mới là việc làm của bậc đại trượng
phu.”[1], rồi đâm chán cõi tịch mịch: “Đức của nhà Phật tuy cao dày, đạo tuy huyền diệu
nhưng quá ư tịch mịch, nhạt nhẽo khô khan”.[2]
Cũng như vậy, trong Hồng lâu mộng, viên đá Nữ Oa bỏ lại cũng là vật thiêng, một ngày
nghe nhà sư và đạo sĩ nói đến chuyện vinh hoa phú quý dưới hồng trần mà bất giác
động lòng phàm tục, trở thành “si”, xin hai vị sư phụ “mang đệ tử xuống cõi trần cho đệ
tử hưởng ít năm giàu sang êm ấm”[3].
Nhân vật “si” trong “Hồng lâu mộng” có phần phức tạp hơn “Cửu vân mộng”, bởi là
nhân vật “kép”: không chỉ là viên đá si, mà còn là vị Thần Anh “bị lửa trần rực cháy
trong lòng, nhân gặp trời đất thái bình thịnh vượng muốn xuống cõi trần để qua kiếp ảo
duyên”. Như vậy đá “si” lại gặp người “si”, cả hai cùng vì lòng phàm mà xuống cõi trần
bụi bặm.


Ở cả hai tiểu thuyết, qua hai nhân vật nam chính với “lòng phàm”của họ, có thể thấy rõ
cái “si” ở đây không phải chỉ là “tình si”, mà còn là lòng ham vinh hoa phú quý. Tính
Chân gặp tám nàng tiên chỉ là cái cớ để từ đó nghĩ về thế gian với những ham muốn
không chỉ dừng lại ở tình ái, mà còn là công danh, phú quý và bao thú vui khác, còn đá
thiêng cũng vì nghe chuyện trần gian vinh hoa phú quý mà sinh thèm muốn.
Nói như vậy để thấy cái “si” của nam giới trong hai tác phẩm đều không giống với cái
“si” của nhân vật nữ chính, bởi trong cả hai tác phẩm, nguyên cớ xuống trần của các
nhân vật nữ đều chỉ là để trả nợ gió trăng: tám tiên nữ trong “Cửu vân mộng” vì một
thoáng nói cười mà phải trải qua kiếp người để tắt đi lòng dục, nàng Giáng Châu trong
“Hồng lâu mộng” cũng vì ơn bón tưới mà phải đi theo Thần Anh, lấy hết nước mắt của
đời mình để trả nợ. Như vậy, nhân vật nữ đều trải qua cõi trần chỉ vì một mối “tình si”.
Qua biểu hiện của “lòng phàm” như vậy, đủ thấy cái nhìn tinh tế của cả hai tác giả khi
phân tích sự si mê ở nam và nữ. Nam giới để tâm thèm muốn nhiều thứ huyễn hoặc
hơn là nữ nhi- những người mà cuối cùng nguyên nhân mê muội cũng chỉ vì một chữ
“tình”.
Ứng với kết cấu truyện người cõi tiên, vật thiêng đầu thai xuống phàm trần rồi tỉnh ngộ
trở về tiên giới là kết cấu không gian thiêng- tục- thiêng.
Nếu như “Hồng lâu mộng” khởi đầu từ không gian huyền thoại trên đỉnh Vô Kê- núi Đại
Hoang với câu chuyện Nữ Oa luyện đá vá trời, thì “Cửu vân mộng” cũng bắt đầu từ bối
cảnh huyền thoại với dãy núi Hoành Sơn phía Nam Trung Quốc, nơi Tiên nữ Ngụy phu
nhân tu luyện cùng tiên đồng ngọc nữ, cũng là nơi các vị tăng từ đời nhà Đường bện cỏ
lập am, thuyết pháp Đại thừa giáo hóa chúng sinh. Kết thúc kiếp hồng trần, các nhân
vật cũng trở về với không gian thiêng ấy. Nếu đúng theo kết cấu này, kết thúc “Hồng lâu
mộng”, cảnh cuối phải là núi Đại Hoang, còn “Cửu vân mộng” phải khép lại ở núi Hoành
Sơn.
“Cửu vân mộng” quả thực đã tuân theo kết cấu vòng tròn về không gian ấy. Đoạn kết là:
“Từ đó về sau, Tính Chân dẫn lối cho đệ tử ở đạo tràng Liên Hoa... Tám ni cô đều tôn
Tính Chân làm sư phụ, tu hành đắc đạo của Bồ Tát và cuối cùng đều trở về thế giới
cực lạc”.
Chính vì tôn trọng hoàn toàn kết cấu này, “Cửu vân mộng” có dáng vẻ một câu chuyện
cổ tích mang âm hưởng thần tiên và Phật giáo.
Nhưng “Hồng lâu mộng” thì lại không khép lại ở không gian thần tiên, cũng không nói
tới nhân vật chính nữa. Cuối truyện là cảnh Giả Vũ Thôn nằm ngủ say trong lều cỏ ở
cửa sông Giác Mê nơi bến Cấp Lưu, rồi chẳng biết bao lâu sau Không Không đạo nhân
đi qua lại gặp để xác nhận chuyện “Thạch đầu ký”, rồi lại đến gặp Tào Tuyết Cần, nghe
Tào Tuyết Cần nói “Chuyện này toàn là câu chuyện thêu dệt”. Kết lại là “Té ra toàn là
chuyện bày đặt viển vông cả. Không những người làm không biết, mà cả người đọc
cũng không biết nữa. Chẳng qua chỉ là thứ văn chương du hý, để cho thích thú tính tình


mà thôi...”
Cái kết đó làm “Hồng lâu mộng” mang một màu sắc khác với truyện cổ tích, thần thoại.
Ý nghĩa giáo huấn đậm nhưng không lộ, yếu tố hoang đường được tô đậm, tưởng chỉ
như là câu chuyện “bịa” để mua vui chốn nhân gian, tiểu thuyết mang màu sắc hiện đại
hơn.
1.2. Kết cấu giấc mộng
1.2.1 Kết cấu thực- mộng- thực
Với kết cấu không gian thiêng- tục- thiêng vừa nêu, theo lẽ thường không gian “thiêng”
phải ứng với thế giới ảo, thế giới mộng, còn không gian tục là thế giới thực, vậy kết cấu
truyện phải là mộng- thực- mộng.
Nhưng trong “Cửu vân mộng”, thế giới thực của Dương Thiếu Du lại chỉ là giấc mộng
của Tính Chân. Tính Chân sau khi gặp tiên nữ, đêm về nhập định trong lòng không yên,
có những suy nghĩ trần thế, rồi bỗng thấy thành chàng Thiếu Du giữa cõi hồng trần, Khi
Thiếu Du tỉnh ngộ, lại thấy mình là Tính Chân, cả cõi đời chỉ diễn ra trong một đêm, thời
gian được đánh dấu bằng một lời thông báo: các tiên nữ mới đến hôm qua, hôm nay lại
xin gặp sư phụ. Vậy mấy mưoi năm vinh hoa phú quý ở nhân gian- khoảng thời gian
được mô tả trong phần lớn tác phẩm- với bao nhiêu sự kiện của đời thực- lại chỉ là một
giấc mộng xuân.
“Hồng lâu mộng” cũng có kết cấu hư- thực- hư, cuối cùng lại là thực- hư- thực như vậy.
Thế giới phủ Giả được mô tả tỉ mỉ với mấy trăm nhân vật sống động, cùng bao vinh hoa
phú quý lẫn với bi sầu, ly tán rút cuộc chỉ là thế giới mộng so với thế giới Thái hư ảo
cảnh và núi Đại Hoang. Thần Anh là đá lại trở về kiếp đá, Đại Ngọc là nàng Giáng Châu
lại trở về làm tiên, dứt hẳn mối si tình, các nàng tiên cũng lần lượt trở về xóa tên trong
sổ bạc mệnh.
Như vậy, “Hồng lâu mộng” và “Cửu vân mộng” cùng gặp nhau ở kết cấu giấc mộngmột kiểu kết cấu quen thuộc trong văn học Á Đông.
Giải thích cho kết cấu này, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Diệu Linh từng viết: đó là do
“ảnh hưởng của biến văn Phật giáo đời Đường đối với sự hình thành và phát triển của
tiểu thuyết Trung Quốc...Loại tiểu thuyết Phật giáo có ảnh hưởng lớn đến bố cục kết
cấu của truyền kỳ đời Đường, cho nên nhiều truyền kỳ có kết cấu như một giấc mơ.
Chúng ta có thể lấy ví dụ như: Câu chuyện trong chiếc gối của Thẩm Ký Tế, Anh đào
thanh y của Nhiệm Phan hay Liễu tham quân của Lý Triều Uy...[4]
Tương tự, ở Hàn Quốc, dưới ảnh hưởng của văn hóa và văn học Trung Hoa, cũng đã
hình thành cả một dòng tiểu thuyết về “mộng”. Tiểu thuyết mộng du xuất hiện từ đầu
thời Cho-son (1392-1910), cấu trúc thường là phần dẫn nhập trước khi có giấc mộng và
phần kết là phần sau khi đã thức tỉnh, ôm lấy phần trung tâm là mộng ảo. Có thể kể đến
tên các tiểu thuyết mộng ảo như “Ngọc lân mộng” của Yi-Chơng-Chak, “Ngọc lâu


mộng” của Nam-Yong-Rô... “Cửu vân mộng” của Kim-Man-Chung chính là một giấc
mộng trong dòng mộng ảo ấy.
Nói về kết cấu mộng ảo, hai tiểu thuyết này còn có một điểm gặp gỡ nữa, đó là sự đan
xem hai thế giới mộng- thực trong suốt phần thân truyện. Nhân vật có thể đi lại giữa hai
thế giới qua phương tiện là những giấc mơ.
Trong “Hồng lâu mộng”, chàng Giả Bảo Ngọc của cuộc đời trần tục hai lần đến Thái hư
ảo cảnh (một lần ở hồi thứ năm, một lần ở hồi 116), một lần đến cõi địa phủ (hồi chín
mươi tám). Trong “Cửu vân mộng”, Dương Thiếu Du cũng một lần trở về núi Nam nhạc
kiếp trước mình từng sống, thấy sư phụ giảng kinh, một lần đến long cung ở hồ Động
đình kiếp trước mình từng qua, gặp Long Vương khi xưa tiếp rượu.
Ngoài nhân vật chính của cõi đời trần tục, trong cả hai tác phẩm còn có những nhân vật
đạo sĩ, nhà sư đắc đạo có thể tự do đi lại giữa hai thế giới thực- mộng ấy, đó là đạo sĩ
chốc đầu và nhà sư khiểng chân trong “Hồng lâu mộng”, là đạo nhân núi Lam Điền
trong “Cửu vân mộng”.
1.2.3 Kết cấu “mộng trong mộng”
Hồng lâu mộng là một giấc mộng dài, trong đó lại ôm trùm rất nhiều mộng khác. Theo
thống kê, tổng số cả lớn cả nhỏ trong Hồng lâu mộng có tất cả ba mươi hai giấc mơ.
Trong tám mươi hồi đầu do Tào Tuyết Cần viết có hai mươi giấc mơ, trong bốn mươi
hồi do Cao Ngạc viết có mười hai giấc mơ.
Có thể kể ra những giấc mộng sau đây:
Hồi thứ nhất: Chân Sĩ Ẩn ngủ gục trong thư phòng, mơ màng thấy nhà sư và đạo sĩ
đem Thông linh bảo ngọc đến Thái hư ảo cảnh.
Hồi thứ năm: Bảo Ngọc mơ đến Thái hư ảo cảnh.
Hồi mười hai: Giả Thụy soi gương phong nguyệt, thấy mình ân ái với Phượng Thư.
Hồi mười ba: Phượng Thư mơ thấy Tần Khả Khanh đến từ biệt.
Hồi hai mươi bốn: Hồng Ngọc mơ thấy Giả Vân nhặt được khăn lụa và nắm tay cô ta.
Hồi ba mươi tư: Bảo Ngọc bị đánh đau, mơ thấy Tưởng Ngọc Hàm và Kim Xuyến đến
kể lể, khóc lóc.
Hồi ba mươi sáu: Bảo Ngọc nằm mơ thấy hòa thượng và đạo sĩ nói đến nhân duyên
vàng ngọc.
Hồi bốn mươi tám: Hương Lăng trong mộng ngẫm được tám câu thơ.


Hồi năm mươi sáu: Giả Bảo Ngọc và Chân Bảo Ngọc cùng nằm mộng gặp nhau.
Hồi sáu mươi sáu: Liễu Tương Liên mơ thấy Vưu Tam thư, tỉnh mộng giác ngộ.
Hồi sáu mươi chín: Vưu Nhị thư mơ thấy Vưu Tam thư cầm kiếm giục giết chết Phượng
Thư để báo thù.
Hồi bảy mươi hai: Phượng Thư kể chuyện mơ thấy thái giám đến đòi và cướp một trăm
tấm gấm.
Hồi bảy mươi bảy: Bảo Ngọc mơ thấy Tình Văn đến từ biệt.
Hồi tám mươi hai: Đại Ngọc mơ thấy người nhà đến đón mình về gả chồng, Bảo Ngọc
rạch bụng phơi bày tim gan. Bảo Ngọc cũng mơ thấy giấc mộng này.
Hồi tám mươi bảy: Diệu Ngọc đang nhập định bỗng mơ thấy có người đòi cưới mình,
lại thấy kẻ cướp đến bắt đi.
Hồi tám mươi chín: Đại Ngọc mơ thấy có người gọi “mợ hai Bảo”.
Hồi chín mươi ba: Người họ Chân kể chuyện Chân Bảo Ngọc mơ thấy các cô gái hóa
ra ma quỷ, xương người... mà tỉnh ngộ.
Hồi chín mươi tám: Bảo Ngọc mơ thấy mình xuống âm ty tìm em Lâm
Hồi một trăm linh một: Phượng Thư trong vườn Đại Quan mơ thấy Tần Khả Khanh đến
trách mình không lo việc lập cơ nghiệp muôn đời
Hồi một trăm mười một: Hồn phách Uyên Ương đi theo Tần Thị
Hồi một trăm mười hai: Dì Triệu mơ thấy quỷ sứ đến hỏi tội dì ta cùng Mã đạo bà bày
mưu hại Phượng Thư và Bảo Ngọc
Hồi một trăm mười bốn: Phượng Thư trong cơn mê sảng đòi thuyền để về Kim Lăng
nhập vào sổ Thập nhị Kim thoa.
Hồi một trăm mười sáu: Hồn Bảo Ngọc lìa khỏi xác đến cung Cảnh ảo ngộ duyên tiên.
Hồi một trăm mười bảy: Đạo bà am Thủy Nguyệt mộng thấy Diệu Ngọc bị giết chết.
Hồi một trăm hai mươi: Tập Nhân mơ thấy Bảo Ngọc và hòa thượng nói “Tôi không
nhận các chị đâu”.

Giống như “Hồng lâu mộng”, “Cửu vân mộng” cũng có kết cấu là một giấc mộng lớn ôm


lấy nhiều giấc mộng nhỏ, tiêu biểu nhất là hai giấc mộng sau đây:
Trong chương mười, Dương Thiếu Du đem quân đi đánh giặc Hồ, ngang qua Bàn Xà
Cốc là một địa điểm hiểm trở, nguồn nước lại nhơ bẩn, khiến binh sĩ uống vào đều lâm
bệnh, quan quân tiến thoái lưỡng nan. Đêm ấy Thiếu Du “tựa gối ngủ thiếp đi một lát”
thì mộng thấy gặp con gái út của Long vương Động Đình, cùng nàng lập kế đánh
những loài thủy tộc độc ác, làm nước trong sạch trở lại.
Trong chương mười hai, Thiếu Du thắng giặc trên đường trở về, lòng thương nhớ cố
nhân, đêm cũng gặp một giấc mộng lạ:
“Thượng thư ngủ thiếp đi. Bỗng mơ thấy bay lên trời cao, mây ngũ sắc bao phủ cung
khuyết thất bảo. Có hai thị nữ nói với Thượng thư:
- Trịnh tiểu thư có lời mời.
Thượng thư đi theo thị nữ bước vào một cái sân rộng thì thấy hoa tiên nở rộ, trên lầu
Bạch ngọc có ba tiên nữ đang sánh vai nhau, sắc phục lộng lẫy như Hậu phi, mày xanh
mắt sáng long lanh... Trông thấy Thượng thư liền đứng dậy vái chào, phân chỗ chủ
khách.
Tiên nữ ngồi trên hỏi rằng:
- Quân tử sau khi ly biệt vẫn bình thường chứ?
Thượng thư nhìn xem thì đúng là dung mạo tiểu thư lúc đánh đàn, cùng chàng tâm sự.
Thượng thư vừa vui vừa sợ không nói thành lời. Tiểu thư nói:
- Thiếp nay đã rời xa nhân gian, bay lên thiên cung. Nhớ lại chuyện thì chỉ thấy cách trở
như giòng Nhược Thủy mà thôi. Quân tử tuy gặp cha mẹ thiếp nhưng sẽ không biết
được tin tức của thiếp.
Rồi chỉ sang hai tiên bên cạnh, nói:
- Phía bên này là Tinh quân Chức Nữ, bên kia là Ngọc nữ dâng hương, đều có nhân
duyên với quân tử ở kiếp trước. Chàng đừng nhớ thiếp. Nếu nhân duyên với họ mà
thành thì thiếp cũng được phần gửi gắm.
Thượng thư ngắm nhìn hai tiên nữ thì thấy tiên nữ ngồi chỗ cuối có khuôn mặt quen
quen mà không thể nhớ ra được. Bỗng bất thình lình chàng tỉnh giấc bởi tiếng trống,
tiếng kèn nổi lên ngoài hiên.”[5]
1.2.3 Hiện tượng đồng mộng:
Trong “Hồng lâu mộng”, có những giấc mộng không chỉ đến với một nhân vật, mà cả
hai người cùng mơ thấy nhau, giấc mộng cùng một nội dung. Đó là giấc mộng của Giả


Bảo Ngọc và Chân Bảo Ngọc ở hồi năm mươi sáu, và mộng của Đại Ngọc- Bảo Ngọc ở
hồi tám mươi hai.
Hiện tượng đồng mộng này cũng có trong “Cửu vân mộng”. Ở chương thứ mười,
Dương Thiếu Du trong mộng thấy mình cần đầu binh sĩ đánh với các loài thủy tộc.
Mộng đến đoạn thắng trận, đang thắp hương lễ vái, lúc xuống điện thì lỡ chân ngã
xuống, kinh sợ rồi tỉnh giấc, thấy thân mình ở trong doanh trại, tựa vào ghế và trời đã
sáng.
Khi ấy, Thiếu Du nghi ngờ về giấc mộng, bèn hỏi binh sĩ của mình:
“Thượng thư hội các tướng sĩ lại hỏi:
- Các người đêm qua có mơ thấy gì không?
Chúng đáp:
- Mơ theo Nguyên soái giao chiến với quỷ thần binh sĩ, bắt sống được tướng soái của
chúng.”[6]
Hiện tượng “đồng mộng” trong cả hai tác phẩm đều có ý nghĩa là để xác thực mộng
không hoàn toàn là ảo. Giả bảo Ngọc và Chân Bảo Ngọc không phải chỉ mộng thấy
nhau, mà còn thoát hồn đến thăm nhau. Có những chuyện là thực, nhưng không phải
bao giờ cũng do chính thân xác con người hành động mà làm nên. Có thể đó là việc do
“hồn” làm chứ không phải là xác. Cũng như vậy, việc giao chiến của Dương Thiếu Du
và binh sĩ chống lại thủy quân là chuyện xảy ra thực, do hồn họ đã làm, cho nên mới có
xác cá chất đầy núi, máu chảy tràn đất sau một đêm ngủ say.
3. Ý nghĩa giấc mộng và tư tưởng của tác phẩm
Trong “Hồng lâu mộng” và “Cửu vân mộng”, những giấc mộng kiểu nhân vật nằm mê có
nhiều ý nghĩa: nó phản ánh tâm tư, khắc họa thế giới tình cảm với những nhớ nhung,
yêu thương, khao khát hay ám ảnh của nhân vật; hoặc báo trước những điềm lành, dữ;
cũng có thể là cuộc gặp gỡ lần cuối với những người đang trong cơn hấp hối. Ở đây,
chúng tôi không bàn về ý nghĩa của những giấc mộng trong mộng đó, chỉ nói đến ý
nghĩa của giấc mộng lớn bao trùm tác phẩm.
“Hồng lâu mộng” là giấc mộng về chốn lầu son gác tía nơi phủ Ninh- Vinh phồn hoa tột
bực, nó là tập hợp của muôn vàn những giấc mơ của con người trong xã hội phong
kiến đầy mâu thuẫn, rối ren và mục nát, mà trước hết là mộng giàu sang, vinh hoa phú
quý. Tại sao đạo sĩ và hòa thượng không đem Thông linh bảo ngọc cho nhập vào một
người ngoài chốn lầu son gác tía, sống đời thanh bần? Là bởi vì lòng phàm của đá
thiêng trước hết là nỗi ham mê vinh hoa, hưởng lạc nơi trần thế. Đó cũng chính là ham
muốn chung của con người trên thế gian. Chỉ khi trải qua hết vinh hoa tột bực, mới thấy
hết sự vô nghĩa của kiếp người, lòng mới không còn khao khát, thèm muốn, si mộng.
Mộng lầu hồng từ chỗ vinh hoa đến suy tàn chỉ trong chớp mắt, một nhà trâm anh thế


phiệt bỗng chốc tan hoang suy kiệt, mới thấy đời người có đó rồi không chỉ như bóng
câu qua cửa, có tụ ắt có tan, lúc có ắt có lúc không, cái có đó chỉ là mộng ảo.
Thần Anh vì si mộng, hóa kiếp làm chàng Bảo Ngọc đa tình, quanh mình có bao nhiêu
người phụ nữ tài sắc. Bảo Ngọc đã làm rơi lệ không biết bao nhiêu người con gái, tuy
không trực tiếp, song đã gián tiếp làm khổ từ Đại Ngọc, Kim Xuyến, Tình Văn, đến Tập
Nhân, cả Bảo Thoa, và cũng không trừ “người ngoài cửa” như Diệu Ngọc. Cũng chính
vì tình ái quá dồi dào mà Bảo Ngọc đã đi từ chữ “Sắc” đến ngộ hiểu chữ “Không” để rồi
kết cục trở thành người xuất gia, không vấn vương tình ái, vinh hoa.
“Cửu vân mộng” cũng là giấc mộng lý tưởng, vinh hoa bậc nhất. Chàng Dương Thiếu
Du tuy sinh ra trong gia đình không phải là vinh hoa tột bực, nhưng bước đường công
danh đã đem chàng đến đỉnh điểm giàu sang, phú quý chỉ trong vài năm ngắn ngủi từ
mười sáu đến tuổi đôi mươi. Lầu son gác tía, ơn vua lộc nước, vợ đẹp con quý cùng
những thú vui đàn ca hát xướng, không thiếu gì chưa trải qua.
Trong giấc mộng dài ấy, nhờ làm chàng trai đa tình, đào hoa tột bậc, chung hưởng tình
ái dồi dào với tám mỹ nữ tài sắc lừng lẫy nhất thiên hạ, mà kẻ mê ngộ sau cùng mới
sực tỉnh, hiểu rằng ái tình chỉ là hư huyễn, giàu sang chỉ là giấc mộng không thực, mà
đi từ “si” đến “ngộ” hoàn toàn.
Cả hai tác phẩm đều đi đến hồi kết là vinh hoa tan như bèo nước, tình ái như gió
thoảng bay, nhân vật chính về với cõi Phật, đã phản ánh sâu sắc triết lý sắc- không của
Phật giáo.
“Mộng” trong “Hồng lâu mộng” và “Cửu vân mộng”, bên cạnh triết lý sắc không, còn hòa
quyện tư tưởng tiêu dao thoát tục của Lão- Trang.
Bảo Ngọc vốn ghét sách vở thánh hiền, trong đời ngoài những thứ “văn chơi”, thì còn
lại chỉ thích đọc sách Thiền và sách của Lão- Trang. Sau khi tỉnh mộng, Bảo Ngọc đã
theo bước một tăng một đạo, vùn vụt đi chỉ để lại tiếng hát tiêu dao:
“Chỗ ta ở chừ, đỉnh núi thanh u
Chỗ ta chơi chừ, cõi không mịt mù
Ai đi cùng ta chừ, ta đi theo ai?
Mênh mông mịt mù chừ, về nơi Đại hoang.”
Tính Chân trong “Cửu vân mộng”, sau khi trải qua cuộc đời mộng ảo của Dương Thiếu
Du, đến cúi đầu trước sư phụ. Người dạy rằng: “Con cao hứng lên thì đi, hết hứng lại
về, ta có can dự gì vào chuyện đó? Hơn nữa, con nói: “Đệ tử mơ chuyện luân hồi ở
nhân gian”, đó là sự phân chia tách bạch làm hai giữa giấc mộng và thế giới nhân gian
của con. Giấc mộng của con vẫn chưa tỉnh... Bây giờ, con cho rằng Tính Chân là thân
con, giấc mộng là mộng của thân con thì nghĩ rằn thân con và giấc mộng không phải là


một. Tính Chân và Thiếu Du thì ai là giấc mộng, ai không phải là giấc mộng?”[7]
Những dòng đó trong “Hồng lâu mộng” và “Cửu vân mộng” không thể không khiến
người đọc liên tưởng đến mộng hóa hồ điệp của Trang Chu:
Có một lần kia
Trang Chu mộng thấy mình là bướm
Thế là phấp phới bay, bướm mà
Tự mình thích chí lắm!
Không còn biết gì Chu
Bỗng nhiên rồi thức giấc
Thì lạ lùng chưa, lại là Chu
Không biết giấc mơ Chu đã làm ra bướm
Hay giấc mơ bướm đã làm ra Chu?
Chu và bướm ắt phải khác phận
Đấy gọi là vật hóa[8]
2. NHỮNG NÉT KHÁC BIỆT GIỮA HAI TIỂU THUYẾT
Khác biệt cơ bản nhất giữa “Cửu vân mộng” và “Hồng lâu mộng” là ở chỗ trong hai giấc
mộng, một là mộng đẹp, còn giấc mộng kia là mộng lẫn buồn vui.
“Mộng chín tầng mây” có thể nói là một giấc mộng đẹp hoàn hảo. Chàng Dương Thiếu
Du sinh trong một gia đình bình thường, nề nếp. Đường học lập công danh của chàng
nhìn chung là suôn sẻ: mười bốn tuổi tài cao học rộng lên đường đi thi, dẫu phải lỡ một
khoa thi vì đất nước có loạn, song đó không phải khoảng thời gian đợi chờ vô nghĩa,
mà chàng được một đạo sĩ cưu mang, việc chỉ qua như trong một ngày, rồi lại vào kinh
ứng thí khoa sau, đậu ngay trạng nguyên. Sau khi thi đỗ, lại lập được công lớn, hết dẹp
giặc ngoại xâm đến trị yên nội loạn. Về đường tình duyên, chàng là người “đa tình”
nhưng không “đa đoan”. Tám người vợ lần lượt đến với chàng một cách tự nguyện, yêu
thương thuận hòa, những trắc trở đều được giải quyết êm thấm. Con người Dương
Thiếu Du đa tài, đa tình, nhưng hoàn toàn nằm trong khuôn khổ phong kiến, là một
“quân tử” lý tưởng theo chuẩn mực Nho gia. Trong chàng, tư tưởng Phật giáo và Lão
Trang kết hợp hài hòa với tư tưởng Nho giáo, cho nên vừa có công danh phú quý, vừa
an nhàn tự tại.
Ngược lại, mộng trong “Hồng lâu mộng” là giấc mộng trước êm ấm, sau tan vỡ bi
thương. Xuyên suốt giấc mộng ấy là nỗi băn khoăn, lo sợ, đau khổ, uất hận của nàng
Đại Ngọc đa tình, đa cảm, là nỗi niềm tiếc nuối của chàng Bảo Ngọc si tình, cùng với
nỗi lòng trăm mối của biết bao nhân vật đa đoan khác. Bảo Ngọc cũng không phải là
chàng trai lý tưởng theo tiêu chuẩn của xã hội phong kiến. Nhân vật ra đời như là sản
phẩm của cuộc giao tranh ý thức hệ khi xã hội Trung Hoa đang trong cuộc chuyển mình
lịch sử, tầng lớp quý tộc phong kiến đang đi trên bước đường suy tàn, tầng lớp thị dân
mới hình thành, mang trong mình những tư tưởng mới.
Hai nhân vật đa tình trong hai tác phẩm là đại diện của hai ý thức hệ khác nhau, một


cũ, một mới. Dẫu không kể đến khoảng cách không gian, bởi tiểu tuyết “Cửu vân mộng”
tuy của Triều Tiên, nhưng lấy bối cảnh Trung Quốc, sáng tác cũng bằng chữ Hán;
nhưng không thể không kể đến khoảng cách một trăm năm giữa “Cửu vân mộng” và
“Hồng lâu mộng”, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII. Một trăm năm ấy là thời kỳ chuyển
biến mạnh mẽ, xã hội phong kiến suy tàn nhanh chóng cũng như trong một giấc mộng.
“Cửu vân mộng” là sản phẩm phản ánh xã hội phong kiến thời thịnh trị, bình an, thì đến
“Hồng lâu mộng” đã là xã hội suy tàn, mục ruỗng.
Ngoài ra, sự khác biệt giữa tính chất êm đềm của “Cửu vân mộng” với nỗi ba đào, cuộn
sóng trong “Hồng lâu mộng” còn là do đối tượng độc giả mà người viết nhắm đến.
Tương truyền “Cửu vân mộng” là tác phẩm được sáng tác với mục đích đầu tiên là để
giải buồn cho mẹ của tác giả Kim Vạn Trọng, bên cạnh đó cũng có ý kiến cho rằng khi
Kim Vạn Trọng đi sứ Trung Quốc, mẫu thân dặn tác giả mua tặng bà một cuốn tiểu
thuyết cổ điển Trung Quốc nhưng vì lãng quên nên Kim Vạn Trọng vội sáng tác “Cửu
vân mộng” để dâng lên mẹ. Về loại hình, đây là một “tiểu thuyết khuê phòng”- tức là tiểu
thuyết viết cho phụ nữ tầng lớp trên thưởng thức, nên tất nhiên phải thỏa mãn thị hiếu
của lớp người thích sự bình yên, chuẩn mực và thích những kết cấu có hậu đó.
Trong khi đó, Tào Tuyết Cần sáng tác “Hồng lâu mộng” “chữ chữ đều bằng máu”, kể lại
những trải nghiệm thực của mình về cõi đời hợp- tan, mộng ảo đầy bi kịch. Đối tượng
độc giả của tác phẩm lại là dạng công chúng mới thuộc tầng lớp thị dân, không thích
những khuôn khổ sáo mòn và những câu chuyện lý tưởng không thực. Về vấn đề thời
đại và độc giả của Hồng lâu mộng, nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên từng viết: “Cái gì làm
người Trung Quốc say mê Hồng Lâu Mộng đến như vậy? Trước hết, đó là do tác phẩm
đáp ứng những nhu cầu sâu xa của thời đại. Trung Quốc dưới thời nhà Thanh trong
những năm các hoàng đế Ung Chính, Càn Long tại vị (1723-1795) là thời kinh tế phồn
vinh, chẳng những nông nghiệp, thủ công nghiệp, mà cả thương nghiệp, ngành khai
thác các mỏ… cũng phát triển mạnh. Những thành phố lớn như Nam Kinh, Dương
Châu, Võ Xương, Nhạc Châu trở thành những trung tâm buôn bán sầm uất. Thị trấn
Thanh Giang bên bờ sông Vận Hà thời đó đã có hơn nửa triệu dân cư. Nền kinh tế phát
triển sinh ra một lớp người thành thị có những nhu cầu thẩm mỹ mới. Một số tác phẩm
tiểu thuyết tình ra đời: Tây Sương Ký, Mẫu Đơn Đình, Liêu Trai… vv.. Đó là những văn
phẩm tả tình yêu nam nữ, những số phận người thường, những vui buồn riêng tư.”[9]
Những khác biệt trên đây, có thể tóm gọn trong một nhận định: “Cửu vân mộng” là
“mộng” nhiều hơn “Hồng lâu mộng”, người viết còn trong giấc mộng thịnh vượng của
thời phong kiến, người đọc hướng đến của tác phẩm cũng đang trong giấc mộng bình
yên, hoàn hảo. Những giấc mộng ấy đều đã tan hết trong “Hồng lâu mộng”, không còn
chút dấu vết. “Hồng lâu mộng” là truyện về mộng, nhưng lại phản ánh một sự “tỉnh
mộng” hoàn toàn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tào Tuyết Cần: Hồng lâu mộng, bản dịch của Vũ Bội Hoàng- Trần Quảng- Nguyễn
Doãn (5 tập), nxb Văn Nghệ TPHCM, 1999.


2. Kim Vạn Trọng: Cửu vân mộng, bản dịch của Lý Xuân Chung, nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, 2007.
3. Trần Xuân Đề: Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, Nxb Giáo gục, Hà Nội, 2001
4. Nguyễn Thị Diệu Linh: Thực- hư với kết cấu không- thời gian của Hồng lâu mộng, in
trong “Tào Tuyết Cần- tác gia tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà trường”, NXB
Đại học Sư Phạm, Hà Nội, 2006.
Cùng một số bài viết trên Blog Hồng Lâu Mộng- Yahoo 360 blog; Diễn đàn
ngauhung.org



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×