Tải bản đầy đủ

THƠ sơn THỦY VƯƠNG DUY

THƠ SƠN THỦY VƯƠNG DUY

Lượt xem: 1006
Trần Trung Hỷ

(Tiểu luận/Nhận định)
1.Vương Duy (701 – 761), tự Ma Cật, đỗ Tiến sĩ đời Đường Minh Hoàng Khai Nguyên năm thứ
chín (721), từng giữ chức Giám sát ngự sử dưới thời Trương Cửu Linh làm Thừa tướng. Sau khi
Trương Cửu Linh bị bãi chức (736), Vương Duy thất chí, trở thành một người “bán quan bán
ẩn”. Trong cuộc binh biến An – Sử (755 – 763), do bị ép làm quan với chính quyền An Lộc Sơn
nên khi vương triều Lý Đường khôi phục, Vương Duy bị giáng chức nhưng không lâu sau được
thăng làm Thượng thư Hữu thừa.
Lịch sử phê bình, giám thưởng thơ Trung Quốc đánh giá sáng tác, đặc biệt là thơ sơn thủy của
Vương Duy rất cao, xin đơn cử một số ý kiến của các nhà phê bình tiêu biểu. Tô Thức cho rằng:
“Vị Ma Cật chi thi, thi trung hữu họa; quan Ma Cật chi họa, họa trung hữu thi.” (Thưởng thức
thơ Ma Cật, trong thơ có họa; Xem Ma Cật họa, trong họa có thơ – Thư Ma Cật Lam Điền yên
vũ đồ); “Ma Cật dĩ thuần cổ đạm bạc chi âm tả sơn lâm nhàn thích chi thú, như Võng Xuyên chư
thi, chân nhất phiến thủy mặc bất trước sắc họa. Cập kỳ phô trương quốc gia chi thịnh như ‘Vân
lý đế thành song phượng khuyết, Vũ trung xuân thụ vạn nhân gia’ hựu hà kỳ vĩ lệ dã”. (Ma Cật
lấy âm điệu chất phác, cổ kính, đạm bạc để tả cái thú nhàn thích ở chốn sơn lâm, đích thực là
một bức họa thủy mặc không cần màu sắc. Còn phô trương sự thịnh đạt của quốc gia, như

‘Thành quách cung điện đế vương ở trong mây, Vạn ngôi nhà và cây xuân ẩn hiện trong mưa sao
lại kỳ vĩ diễm lệ đến vậy! – Hồ Chấn Hanh – Đường âm quý tiêm); “Thế vị Vương Tả Thừa tuyết
trung ba tiêu, kỳ thi diệc nhiên” (Người đời thường nói, (con người) Vương Duy như chuối
hương trong tuyết lạnh, thơ của ông cũng như thế – Vương Sĩ Trinh – Trì Bắc ngẫu đàm)…(1).
Cùng với Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy được xem là nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hướng thơ
điền viên – sơn thủy dưới thời Thịnh Đường. Đây là khuynh hướng thơ nối tiếp truyền thống thơ
điền viên của Đào Uyên Minh đời Tấn và thơ sơn thủy của Tạ Linh Vận đời Nam Triều. Theo
các nhà nghiên cứu thì giữa hai dòng thơ này thực ra không hoàn toàn thống nhất về đối tượng
cũng như giá trị thẩm mỹ. Đối tượng chủ yếu của thơ điền viên là cảnh nông thôn mang tính
nhân tạo, thể hiện ý thức quy ẩn theo mô hình xã hội nông nghiệp cổ truyền, bình lặng và ổn
định. Còn thơ sơn thủy chủ yếu là miêu tả tự nhiên phong quang, cảnh vật chất chứa tâm trạng
lưu lạc, “tiếu ngạo giang hồ” (2). Theo tiêu chí trên của thơ điền viên thì trong hơn 400 bài thơ
của Vương Duy chỉ có khoảng trên dưới mười bài (như Tân tình vãn vọng, Chung Nam biệt
nghiệp, Sơn cư thu minh, Sơn cư tức sự, Võng Xuyên nhàn cư tặng Bùi Tú tài Địch, Tặng Bùi
Thập Địch, Vị Xuyên điền gia…) đích thực là thơ điền viên. Chẳng hạn:
“Tà quang chiếu khư lạc,
Cùng hạng ngưu dương quy.


Dã lão niệm mục đồng,
Ỷ trượng hầu khinh phì.”
(Nắng chiều chiếu trên gò núi, Cuối đường trâu dê về chuồng, Lão nông gọi mục đồng, Chống
gậy chờ dưới cửa sài – Vị Xuyên điền gia). Hoặc:
“Mục đồng vọng thôn khứ,
Liệp khuyển tùy nhân hoàn.”
(Mục đồng trở về thôn, Chó săn theo người về – Kỳ thượng tức sự điền viên)
Còn lại tuyệt đại bộ phận là thơ thuộc các đề tài như biên tái, thơ thuyết lý về thiền, thơ tống biệt,
thơ sơn thủy… Riêng thơ sơn thủy Vương Duy thời kỳ đầu chủ yếu miêu tả cảnh vật tự nhiên,
âm hưởng vô cùng hùng tráng, mang bóng dáng của “khí chất Thịnh Đường” nhập thế đầy chất
lãng mạn, còn những sáng tác trong thời kỳ “bán quan bán ẩn” phần nhiều vừa là cảnh tự nhiên
nhưng giá trị thẩm mỹ căn bản vẫn là ý thức quy ẩn, tự tại, an nhàn:
“Không sơn bất kiến nhân,
Đản văn nhân ngữ hưởng.
Phản ánh nhập thâm lâm,
Phục chiếu thanh đài thượng.”
(Núi vắng không thấy người, Chỉ nghe tiếng người nói. Nắng chiếu đến rừng sâu, Trên rêu xanh
lại sáng – Lộc trại). Hoàn toàn không có cảnh ruộng vườn, ao hồ, ngư tiều, liệp khuyển… song
lại rất quen thuộc và rất tĩnh vốn là đặc trưng của nơi ẩn cư, thể hiện tâm thế của một con người
muốn rời xa chốn quan trường, rất gần gũi với đặc trưng của thể thơ điền viên.
2. Vương triều Lý Đường thời Khai Nguyên (712-743) đạt được những thành tựu rực rỡ trên


nhiều phương diện đã kích thích sự hưng phấn trong tâm lý kẻ sĩ đương thời. Giống như bao
người khác, tâm tình Vương Duy cũng bị cuốn theo cái gọi là “Thịnh Đường khí tượng”, “Thịnh
Đường khí chất”, tích cực tham dự vào đời sống chính trị. Khí chất hùng hồn, tráng lệ là âm điệu
cơ bản của thơ Vương Duy thời kỳ đầu. Trong những dòng thơ biên tái, thơ tống biệt như Sứ chí
tái thượng, Hán giang lâm phiếm, Chung Nam sơn… , cảnh sơn thủy với những “núi cao chót
vót đến tận mây”, “sông lớn nước trôi cuồn cuộn sóng đến tận trời”… luôn mang một cảm xúc
lãng mạn và đầy khí thế. Sứ chí tái thượng là một trong những tác phẩm biên tái có thể sánh với
thơ Cao Thích, Sầm Tham về âm điệu hùng hồn với cảnh biên ải thật hùng tráng:
“Chinh bồng xuất Hán tái,
Quy nhạn nhập Hồ thiên.


Đại mạc cô yên trực,
Trường hà lạc nhật viên.”
(Chinh nhân rời khỏi ải Hán, Nhạn bay vào trời Hồ. Sa mạc mênh mông làn khói trơ trọi thẳng
đứng, Sông dài mặt trời lặn tròn đầy.)
Hình ảnh sa mạc mênh mông và làn khói nhỏ nhoi; mặt trời tròn và dòng sông dài đặt cạnh nhau
tạo nên một thế đối sánh lớn – nhỏ, tạo nên một bức họa phong cảnh thật hùng vĩ, khoáng đãng.
Hay như trong một bài thơ tống biệt, cảm hứng hào hùng cũng được biểu hiện bằng những cảnh
thiên nhiên thật tráng lệ: “Nhật lạc giang hồ bạch, Triều lai thiên địa thanh.” (Mặt trời lặn sông
hồ trắng xóa, Nước triều lên cả trời đất đều xanh – Tống Hình Quế Châu). Ánh nắng tà chiếu
trên mặt hồ biến nó thành tấm gương phẳng cho nên mới nói “giang hồ bạch”. Nước triều lên,
sóng thét sóng gào làm cho cả đất trời đầy nước cho nên nói “thiên địa thanh”. Đó là cái “thần”
của vạn vật được cảm thụ như thực như hư theo nguyên tắc “tả cảnh nhập thần”.
Có thể nói, thơ sơn thủy thời kỳ đầu của Vương Duy là bước tiếp nối của thơ Tạ Linh Vận, lấy
cảnh tự nhiên làm đối tượng để ca tụng và ngâm vịnh. Song từ Tạ đến Vương, thơ sơn thủy là
một quá trình phát triển được xem là tích cực. Thơ Tạ Linh Vận chủ yếu miêu tả “chân diện
mục” của sơn thủy để từ đó “ngộ” ra những triết lý về nhân sinh, cảnh giới tinh thần và cảnh vật
tự nhiên với chủ thể thẩm mỹ chưa đạt đến độ dung hòa. Hay nói cách khác, giữa “vật” với
“ngã” vẫn còn đang phân biệt mà chưa “lưỡng vong” theo mô hình “ký du – tả cảnh – hứng tình
– ngộ lý” (3). “Lý” ở đây chính là những thuyết lý về tự nhiên và con người của Đạo và Phật gia
vốn là vấn đề vô cùng sôi nổi trên diễn đàn tư tưởng thời Nam Bắc triều. Thơ Vương Duy không
theo đuổi “hình tự” như thơ Tạ Linh Vận mặc dù nó cũng thấm đẩm ý vị thiền, mà thi tình, thiền
ý và họa ý kết hợp cực nhuyễn. Hán giang lâm phiếm là một trong những bài thơ sơn thủy tiêu
biểu của Vương Duy giai đoạn này:
“Giang lưu thiên địa ngoại,
Sơn sắc hữu vô trung.
Quận ấp phù tiền phố,
Ba lan động viễn không.”
(Sông như chảy ngoài trời đất, Sắc núi như giữa có và không. Thành trấn như nổi trên bến nước,
Sóng lớn như làm dao động cả thiên không). Tất cả những sông, núi, thành, sóng… được cảm
thụ bởi sự liên tưởng và rất chủ động theo nguyên tắc kết hợp viễn – cận vốn là đặc trưng của
nghệ thuật hội họa để tạo nên một không gian hùng tráng mà diễm lệ. Cho nên Vương Thế Trinh
mới bình bài thơ này rằng: “… thị thi gia tuấn ngữ, khước nhập họa tam muội” (…là lời thanh tú
đẹp đẽ của thi nhân, cũng là nhập vào bí quyết của hội họa) (4).
3. Thơ Vương Duy giai đoạn sau – giai đoạn “bán quan bán ẩn” có miêu tả cảnh nông thôn, vừa
có miêu tả cảnh sơn thủy tự nhiên nhưng đều thể hiện chung tâm lý quy ẩn điền viên. Khác về
căn bản với loại thơ ẩn dật thuần túy kiểu Đào Uyên Minh, Mạnh Hạo Nhiên…, thơ điền viên


Vương Duy không bày tỏ quá nhiều tâm lý thất ý, trốn tránh cuộc đời. Có lẽ với tâm thế của một
thiền gia, Vương Duy tâm niệm cầu giải thoát không nhất thiết phải từ chối thế gian cũng như
những tục lụy đời thường, bởi tông chỉ của Thiền tông đời Đường là “bất hân thiên đường úy địa
ngục, phọc thoát vô ngại, tức thân tâm cập nhất thiết xứ giai danh giải thoát.” (Không ham mê
thiên đường mà sợ địa ngục, vượt khỏi những ràng buộc và chướng ngại, tức đem thân tâm mà
tiếp cận đến với hết thảy mọi vật mọi nơi đều gọi là giải thoát – Ngũ đăng hội nguyên) (5). Thơ
Vương Duy không phải “tá cảnh trữ tình” mà thuận tùng nhận thức thẩm mỹ “do vật cập tâm”
(từ vật dẫn đến tâm). Nói cách khác, cái đẹp mà thơ sơn thủy Vương Duy đem đến là sự giao hòa
nhuần nhuyễn giữa ngoại giới (vật) và tâm giới (tình), vật hóa thành tâm, tâm hóa thành vật, con
người và thiên nhiên tạo vật tồn tại trong không gian và thời gian một cách bình đẳng, không
“ai” chiếm lĩnh, phụ thuộc “ai”:
“Nhân nhàn quế hoa lạc,
Dạ tĩnh xuân sơn không.
Nguyệt xuất kinh sơn điểu,
Thời minh xuân giản trung.”
(Người nhàn hoa quế rụng, Đêm yên tĩnh trên núi xuân. Trăng lên chim núi giật mình, Một tiếng
kêu trong khe núi xuân – Điểu minh giản). Ở đây có năm “vật”: người nhàn – hoa quế – núi vắng
– trăng lên – chim kêu, tất cả đều bình đẳng. Con người dẫu có xuất hiện nhưng cũng chỉ chiếm
một vị trí nhỏ bé và khiêm tốn trong không gian. Cho nên có thể nói, thơ sơn thủy Vương Duy
không hề nhân hóa tự nhiên mà ngược lại, đã tự nhiên hóa con người. Trong thơ sơn thủy đời
Đường nói chung không có nhiều những cảnh thiên nhiên thể hiện cái tâm an nhàn tự tại đạt đến
cảnh giới của Vương Duy như trong Trúc lý quán:
“Độc tọa u hoàng lý,
Đàn cầm phục trường khiếu.
Thâm lâm nhân bất tri,
Minh nguyệt lai tương chiếu.”
(Ngồi một mình trong rừng tre, Đánh đàn rồi lại huýt sáo. Rừng sâu chẳng ai hay, Trăng sáng đến
soi nhau). Khi đã đạt đến trạng thái hòa đồng, tri kỷ với tự nhiên, giữa chủ và khách thể không
còn phân biệt nữa cũng có nghĩa là con người đã đạt đến tự do giải thoát trong tâm hồn, đã có thể
“tùy tâm sở dục”, vượt ra khỏi thị phi, được mất đời thường.
Cảm hứng chủ đạo của thơ sơn thủy Vương Duy thời kỳ “bán quan bán ẩn” này không còn cái
khí thế hào mại phóng khoáng ban đầu nữa mà thay vào đó là những cảnh thiên nhiên bình lặng,
thân thuộc, đậm chất triết lý, suy tư về lẽ tồn tại. Những bài thơ miêu tả cảnh vật nông thôn với
những mục đồng, lão nông, ngưu dương, cửa sài… cũng biểu đạt một tâm lý an nhiên tự tại của
một con người đã đạt đến cảnh giới diệu ngộ:


“Tà quang chiếu khư lạc,
Cùng hạng ngưu dương quy.”
(Nắng chiều chiếu trên gò, Cuối đường trâu dê về chuồng – Vị Xuyên điền gia). Hoặc:
“Ỷ trượng sài môn ngoại,
Lâm phong thính mộ thiền,
Độ đầu dư lạc nhật,
Khư lý thướng cô yên.”
(Chống gậy dưới cửa sài, Trong gió thổi nghe tiếng ve chiều. Chút nắng tàn ngoài bến, Làn khói
mỏng mảnh trên gò – Võng Xuyên nhàn cư tặng Bùi Tú tài Địch). Cảnh nông thôn ở đây không
chỉ là đối tượng thẩm mỹ mà còn có giá trị thực dụng về mặt sinh tồn theo mô hình gia viên một hình thái kinh tế vốn rất phổ biến từ thời Nam Bắc triều cho đến Đường. Không còn những
hiểm ác gập ghềnh của chốn quan trường mà con người có thể an tâm thụ hưởng tất cả những gì
mà cái “kho trời chung” ban tặng trong tâm thế cân bằng tuyệt đối. Đó là trạng thái “tề vật” mà
Trang Chu muốn cổ xúy, cũng chính là cảnh giới lý tưởng của Thiền tông.
4. Thiền tông đề cao trạng thái trầm tư mặc tưởng, tập trung tinh thần để đạt đến cảnh giới thiền
định. Bộ Kinh tập (Suttanipata), bộ kết tập về những lời giáo huấn của Phật đã từng nêu: “Những
người hiền người giỏi, nhất tâm nhất ý truy cầu sự an định về tinh thần thường thong dong ở
chốn sơn lâm, trầm tư mặc tưởng dưới bóng cây mà cảm thấy đầy đủ và thỏa mãn”; “Ông là
người tu hành ư? Hãy chạy nhanh nhất đến chỗ nào nhàn tĩnh để gửi thân”(6). Sau khi thất ý trên
phương diện chính trị, Vương Duy chọn cho mình một phương thức ứng xử tương đối đặc biệt
“Triêu thừa mệnh nhi mộ túc thanh ải” (Buổi sáng nhận mệnh lệnh (của vua), chiều về nằm nơi
mây xanh – Vương Tả Thừa tập tiễn chú).
Thời kỳ này, thơ sơn thủy Vương Duy thấm đẫm triết lý thiền tông. Chẳng hạn: “Bạc mộ không
đàm khúc, An thiền chế độc long” (Chiều tối lòng thanh tịnh, Vui với thiền chế ngự con rồng dữ
– Quá Hương Tích tự). Hồ Ứng Lân đời Minh bình thơ Lý Bạch và Vương Duy rằng: “Thái
Bạch ngũ ngôn tuyệt tự thị thiên tiên khẩu ngữ, Tả Thừa khước nhập Thiền tông” (Thơ ngũ ngôn
tuyệt của Lý Bạch là lời nói của đấng thiên tiên, còn của Vương Duy nhập vào (ngôn ngữ)
Thiền). Vương Ngư Dương đời Thanh cũng tán dương: “Tha như ‘Vũ trung sơn quả lạc, Đăng
hạ tảo trùng minh’, ‘Minh nguyệt tùng gian chiếu, Thanh tuyền thạch thượng lưu’… diệu đế vi
ngôn, dữ Thế Tôn niêm hoa, Ca Diếp vi tiếu đẳng vô sai biệt” (Những câu như ‘Trong mưa quả
dại rụng, Dưới đèn côn trùng kêu’, ‘Trăng sáng chiếu rừng tùng, suối trong chảy trên đá’…là lời
tinh diệu tế vi, với chuyện Thế Tôn nhặt hoa, Ca Diếp cười nụ, đều không có gì sai biệt) (7).
Những ý kiến này đều khẳng định ảnh hưởng sâu sắc của Thiền Tông đối với thơ sơn thủy
Vương Duy.
Không hiếm những tác phẩm của Vương như là những bài kệ nhằm thuyết minh cho các triết
thuyết của Phật giáo với những phạm trù quen thuộc như hữu – vô, sắc – không hoặc những Phật


điển như “tứ đại nhân”, “đại đạo sư”… Nói chung, những tác phẩm kiểu này thường khô khan,
nặng về triết lý mà thiếu tính trữ tình, do vậy hình tượng sơn thủy cũng không có nhiều “cơ hội”
để thể hiện vai trò của mình. Có thể xem Hồ Cư sĩ ngọa bệnh khiển mễ nhân tặng, Yết Duệ
thượng nhân… là những tác phẩm tiêu biểu cho cảm hứng “thuyết lý” này của Vương Duy. Một
bộ phận khác miêu tả cảnh sinh hoạt của thiền gia, thiền sư , như: “Lão tăng tứ ngũ nhân, Tiêu
dao âm tùng bách. Triêu phạn lâm vị thự, Dạ thiền sơn cánh tịch” (Bốn năm vị lão tăng, Tiêu dao
dưới bóng tùng. Bữa sớm lúc trời chưa sáng, Đêm tọa thiền núi càng thêm vắng ) cũng đã có
“thiền cảnh”, có “thiền ngữ” song chưa có “thiền vị”. “Thiền vị” trong thơ Vương Duy phần
nhiều biểu hiện qua những hình tượng sơn thủy:
“Hành đáo thủy cùng xứ,
Tọa khan vân khởi thì.”
(Đi đến tận cùng con nước, Ngồi xem lúc mây nổi – Chung Nam biệt nghiệp).
Thiền tông cho rằng, thế gian sinh diệt vô thường theo “tứ tướng”: sinh, trụ, dịch, diệt. Bỏ ngoài
tất cả những được mất, thị phi, thiền sư – thi nhân đến với sơn thủy nhưng không chỉ để chiêm
ngưỡng cái đẹp vật chất của nó mà còn chiêm nghiệm cái lẽ cùng thông, sinh diệt của vạn vật.
Vạn pháp vốn bình đẳng, con người phải dùng cái tâm thanh tĩnh để đối đãi ngoại giới, dung
nhập cái “ngã” vào trong cái lẽ bình thường dung dị của vũ trụ. Cho nên, triết lý Thiền không chỉ
biểu hiện ở lớp ngôn ngữ khô khan mà từ hiện thực sinh động. Một áng mây trôi, một dãy núi xa,
một nhành cỏ xuân… gần gũi, chân thực và sinh động lại là nơi thi nhân gửi gắm những triết lý
uyên áo của Thiền:
“Mộc mạt phù dung hoa,
Sơn trung phát hồng ngạc.
Giản hộ tịch vô nhân,
Phân phân khai thả lạc.”
(Đầu cành hoa phù dung, Giữa núi nở đài hồng. Nhà trong khe tịch mịch không người, Rộn ràng
nở rồi tự rụng – Tân Di ổ). Cảnh có người hay không đều không quan trọng, bởi con người đã
“thanh tĩnh vô vi”, không lấy cái “sở dục” can thiệp vào tự nhiên. Cho nên phù dung tự nở rồi tự
rụng nào cần đến sự can thiệp của con người. Cuộc sống vẫn vận động theo quy luật của tự
nhiên, sắc núi vẫn hồng cho dù có con người cảm thụ hay không. Đây chính là cảnh giới tinh
thần tuyệt đối tự do tự tại “vô động vô tĩnh, vô sinh vô diệt, vô khứ vô lai, vô thị vô phi, vô trú
vô vãng” (Đàn kinh) mà thiền Nam Tông vẫn cổ xúy.
Cảnh sơn thủy trong thơ Vương Duy thường được gắn liền với những trạng thái “tĩnh”, “không”,
“nhàn”, “tịch”. Đây chính là không gian lý tưởng để thi nhân “tọa thiền”, “an thiền” nhằm dứt bỏ
những vọng tưởng và tạp niệm. Vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của dòng thiền Nam tông “đốn
ngộ”, song với những câu thơ như “An thiền chế độc long” (Quá Hương Tích tự), “Dục tri thiền
tọa cữu” (Quá Phúc Thiền sư Lan Nhược), “Thiền tịch nhật dĩ cố” (Ngẫu nhiên tác - kỳ nhất)…,


chúng tôi cho rằng Vương Duy ít nhiều tiếp cận với Thiền Bắc tông “tiệm ngộ”. “Tịch”, “tĩnh”…
còn là sự cách ly đối với thế nhân, không để thế nhân biết đến sự tồn tại của chính mình, cũng
không hề biết đến sự biến thiên của thế nhân. Nhiều khi Vương Duy còn phải nhờ đến một hành
vi rất vật chất để đạt đến trạng thái tinh thần ấy – Đóng cửa. Rất nhiều động tác “bế quan”, yểm
sài”…trong Sơn cư tức sự, Đông vân đối tuyết ức Hồ Cư sĩ gia, Xuân nhật dữ Bùi Địch quá Tân
Xương, Tế Châu quá Triệu tẩu gia yến, Tặng Tổ tam vịnh… Chẳng hạn:
“Điều đệ Tung cao hạ,
Quy lai thả bế quan.”
(Xa xôi hướng đến Tung Sơn, Trở về tạm đóng cửa – Quy Tung Sơn tác)
Hoặc: “Bất uổng cố nhân giá,
Bình sinh đa yểm phi.”
(Không thiệt với ngựa xe bạn cũ, Bình sinh thường đóng cửa sài – Hỷ Tổ Tam Chí lưu trú). Hành
vi “đóng cửa” đã được tâm linh hóa, là một kiểu “đóng cửa lòng” xa lánh tục lụy để mở lòng với
vũ trụ tự nhiên. Trong không gian tĩnh, con người sẽ tạm quên hình hài, sẽ vượt ra ngoài thời
gian để đạt đến trạng thái hòa đồng “vật ngã vi nhất”, một cảnh giới lý tưởng trong ý thức vũ trụ
của con người trung đại phương Đông.
**
*
Vương Duy chịu ảnh hưởng sâu nặng của Thiền học, do vậy thơ sơn thủy của ông có thiền
cảnh, có thiền lý, có thiền ý, có thiền ngữ… song không vì thế mà trở thành một loại thơ thuyết
lý khô khan, ngược lại cái đẹp sơn thủy vẫn sống, một đời sống uyển chuyển, phong phú, chân
như. Có thể nói, điểm đặc sắc của thơ sơn thủy Vương Duy chính là ở chỗ, ông đã rất thành công
trong việc hợp nhất con người Thiền sư – Thi sĩ và người đời sau tôn vinh Vương Duy là Thi
Phật, đứng ngang hàng với Thi Tiên Lý Bạch, Thi Thánh Đỗ Phủ… là một sự thừa nhận những
giá trị chân chính của thơ và thơ sơn thủy của ông.

Chú thích:

(1). Trần Bá Hải (1993), Đường thi luận bình loại biên, Sơn Đông Giáo dục Xuất bản xã,
tr.1012-1016.
(2). Chu Đức Phát (1994), Trung Quốc sơn thủy thi luận cảo, Sơn Đông Hữu nghị Xuất bản xã,
tr. 384.


(3). Trương Bá Vĩ (1996), Thiền dữ thi học, Triết Giang Nhân dân Xuất bản xã, tr. 185.
(4). Liêu Trọng An (1993), Sơn thủy điền viên thi phái tuyển tập, Bắc Kinh Sư phạm học viện
Xuất bản xã, tr. 67.
(5). Dẫn theo Chu Đức Phát (1994), Sđd, tr. 109.
(6). Dẫn theo Trương Bá Vĩ (1996), Sđd, tr. 164.
(7). Dẫn theo Viên Hành Bái (1996), Trung Quốc thi ca nghệ thuật nghiên cứu, Bắc Kinh Đại
học Xuất bản xã, tr. 168-169.
Nguồn từ http://vanthotre.sfi.vn/?p=1053



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×