Tải bản đầy đủ

Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân tại huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

2

NỘI DUNG 3
1. Vai trò của kinh tế hộ và kinh tế nông hộ

3

2. Thực trạng tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Điện Biên
2.1. Thực trạng chung

3

3

2.2. Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân ở các xã điều tra
2.3. Nguồn lực của các hộ nông dân

5


8

a) Đất đai của các hộ nông dân 8
b) Phương tiện sản xuất và phương tiện sinh hoạt của các hộ nông dân
c) Nguồn vốn của các hộ nông dân

8

9

d) Lao động 9
3. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân trên địa bàn
huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
3.1 Nhóm giải pháp về đất đai
3.2. Giải pháp về vốn

10

11

12

3.3. Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực
3.4. Nhóm giải pháp về khoa học kỹ thuật

13

14

3.5. Nhóm giải pháp xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn
3.6. Nhóm giải pháp về chính sách
3.7. Giải pháp về thị trường

17

17

18


3.8. Nhóm giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân toàn diện và bền vững 19
KẾT LUẬN

19

TÀI LIỆU THAM KHẢO

22


MỞ ĐẦU
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu, giữ vị trí quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nông nghiệp càng trở nên quan trọng đối với một
quốc gia với gần 80% dân số sống ở nông thôn và gần 70% lao động làm việc trong
các ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp như đất nước Việt Nam ta.
Có thể khẳng định trong quá trình phát triển nông nghiệp nông xã, đặc biệt là
sau đổi mới, kinh tế hộ gia đình giữ một vai trò không thể thiếu, kinh tế hộ là đơn
vị kinh tế đặc thù và phù hợp với thực trạng của sản xuất nông nghiệp ở nước ta
hiện nay. Nó góp phần giải quyết việc làm và xây dựng cuộc sống mới ở nông xã,
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và phong phú về lương thực, thực phẩm.
Mặc dù trong những năm qua kinh tế hộ đã đạt được những thành tựu to lớn,
song chính bản thân nó vẫn đang tồn tại những mâu thuẫn cơ bản cần giải quyết.
Do vậy cần có những phương pháp tìm hiểu, phân tích phù hợp để làm sáng tỏ
những khó khăn của các hộ để có các chính sách kinh tế, xã hội phù hợp giúp nông
dân phát triển kinh tế, cải thiện và nâng cao đời sống trong tương lai, đây là vấn đề
có tính chiến lược và cấp thiết của một quốc gia nông nghiệp như Việt Nam nói
chung và của từng địa phương nói riêng.
Nghiên cứu thực trạng của kinh tế nông hộ để chỉ ra những khó khăn còn tồn
tại và đưa ra được nhưng giải pháp khắc phục những khó khăn đó là một vấn đề
quan trọng và cần thiết ở huyện Điện Biên. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn đề
tài “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân tại huyện Điện Biên
tỉnh Điện Biên” làm đề tài tiểu luận môn Kinh tế phát triển.

2


NỘI DUNG
1. Vai trò của kinh tế hộ và kinh tế nông hộ
Kinh tế hộ đã có từ lâu đời đến nay vẫn còn tồn tại và phát triển. Trải qua
mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì kinh tế hộ biểu hiện dưới nhiều hình thức khác
nhau, ngày càng khẳng định được tầm quan trọng và vai trò trong nền kinh tế quốc
dân. Kinh tế hộ là tế bào của xã hội, sự phát triển trước tiên giúp nâng cao đời sống
của người dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Kinh tế hộ đóng vai
trò quan trọng trong việc góp phần đổi mới công nghệ sản xuất. Hộ là nơi tích lũy
kinh nghiệm sản xuất truyền thống cũng là nơi áp dụng công nghệ mới vào sản
xuất. Khi chuyển sang sản xuất hàng hóa, xuất hiện cạnh tranh thị trường, hộ buộc
phải đổi mới công nghệ nhàm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt với giá rẻ hơn.
Việc đổi mới công nghệ trước hết phải nhằm khai thác tốt kinh nghiệm truyền
thống từ lâu đời.
Kinh tế nông hộ đã góp phần làm tăng nhanh sản lượng sản phẩm cho xã hội
như lương thực, thực phẩm, nông sản xuất khẩu. Đồng thời sử dụng đầy đủ và có
hiệu quả các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn và tư liệu sản xuất.
Phát triển kinh tế nông hộ không chỉ có vai trò to lớn về kinh tế mà còn có ý
nghĩa rất lớn về mặt xã hội việc gia tăng sản phẩm hàng hóa và hiệu quả kinh tế
trong nông nghiệp đã góp phần tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người
dân ở nông thôn, cải thiện và nâng cao đời sống, là cơ sở kinh tế vững chắc để giải
quyết các vấn đề xã hội.
2. Thực trạng tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Điện Biên
2.1. Thực trạng chung
Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện Điện Biên trong vài
năm gần đây kinh tế của huyện đã có những chuyển biến tích cực. Đẩy nhanh công
3


nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông xã theo hướng từng bước nhanh
chóng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị trường và
điều kiện của vùng. Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm
mới thu hút lao động nông xã. Áp dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ về
giống, chăm sóc... vào trong sản xuất nông lâm nghiệp nâng giá trị thu nhập trên
cùng đơn vị diện tích.
Giá trị sản xuất nông nghiệp của các huyện không ngừng tăng qua các năm:
Năm 2014 đạt 265.000 triệu đồng đến năm 2015 tăng 7,92% lên 286.000 triệu đồng
và năm 2016 tăng 9,09% so với năm 2015 và 17,73% so với năm 2014 đạt 312.000
triệu đồng. Trong đó, lĩnh vực trồng trọt năm 2014 đạt 162.975 triệu đồng, năm 2016
đạt mức 179.400 triệu đồng tăng 6,14% so với năm 2015 và 10,08% so với năm
2014; ngành chăn nuôi tăng ổn định qua các năm, năm 2014 đạt 94.075 triệu đồng,
năm 2015 tăng 14,00 % lên 107.250 triệu đồng, sang năm 2016 tăng lên 121,368
triệu đồng tăng 13,16% so với năm 2015 và 29,01% so với năm 2014; Ngành dịch
vụ chế biến có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất năm 2014 đạt 9.950 triệu đồng sang
năm 2015 tăng 22,31% đạt 9.724 triệu đồng, năm 2016 tăng lên 11.232 triệu đồng
tăng 15,51% so với năm 2015 và tăng 41,28% so với năm 2014 [2]. Như vậy, sự tăng
trưởng giữa các ngành như trên phù hợp định hướng phát triển của huyện, giá trị
trồng trọt tăng chậm chủ yếu là nhờ việc ứng dụng các khoa học kĩ thuật vào sản
xuất, luân canh tăng vụ nâng cao giá trị trên 1 đơn vị diện tích đất canh tác còn diện
tích đất trồng trọt ngày càng giảm do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa.... Cơ
cấu kinh tế nông nghiệp đang chuyển dịch theo hướng nâng cao tỷ trọng ngành chăn
nuôi thủy sản, dịch vụ chế biến giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt.
Theo giá cố định năm 1994 thu nhập bình quân trên 1 hộ nông nghiệp của
huyện năm 2014 là 12,92 triệu đồng, năm 2015 là 13,40 triệu đồng tăng 3,72% so
với 2014, năm 2016 đạt 13,77 triệu đồng tăng 2,70% so với năm 2015 và 6,53% so
với 2014. Thu nhập bình quân trên 1 lao động năm 2014 là 4,28 triệu đồng, năm
4


2015 là 4,57 triệu đồng và năm 2016 là 4,95 triệu đồng tăng 8,13% so với 2015 và
15,49% so với 2014. Thu nhập bình quân trên 1 nhân khẩu năm 2014 là 2,70 triệu
đồng đến năm 2016 tăng lên thành 3,14 triệu đồng tăng 8,41% so với 2015 và
16,25% so với 2014 [2]. Có được những kết trên là nhờ sự cố gắng to lớn của chính
quyền và nhân dân huyện Điện Biên và một phần đóng góp không nhỏ của công tác
phát triển nông xã và khuyến nông.
2.2. Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân ở các xã điều tra
Để thu thập được những chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế của các hộ gia
đình, có cái nhìn rõ nét và thực tế hơn nhằm đánh giá khách quan, đúng đắn thực
trạng phát triển kinh tế hộ nông dân những năm gần đây, từ đó xác định những lợi
thế so sánh, các hạn chế, thách thức, cơ hội phải đón bắt, khắc phục những mặt tồn
tại yếu kém, định hướng phát triển kinh tế cho các hộ nông dân. Dựa vào vị trí địa
lý và tình hình phát triển kinh tế tôi chọn ra 3 xã, trong 3 xã sử dụng phương pháp
chọn mẫu ngẫu nhiên đơn chọn ra 30 hộ dân trong một xã, tổng số hộ là 90 hộ để
phỏng vấn về tình hình kinh tế và một số tiêu chí xã hội khác của hộ nông dân.
Thông tin chung về chủ hộ
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ở mỗi hộ gia đình sản xuất
nông nghiệp, chủ hộ thường là người quan trọng nhất, quyết định và đầu tư sản
xuất loại cây gì, nuôi con gì, hướng sản xuất theo mô hình nào, đồng thời cũng là
người điều hành quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình hộ. Qua quá
trình điều tra, phỏng vấn tôi thu được một số thông tin sau:
Chủ hộ của các hộ điều tra phần lớn đều là nam giới: xã Sam Mứn và xã
Pom Lót mỗi xã đều có 28 chủ hộ là nam giới chiếm 93,33%, còn tỷ lệ nữ giới
làm chủ hộ ở hai xã này đều 6,67%. 4 hộ do nữ giới làm chủ hộ nguyên nhân chủ
yếu là do chồng đã mất hoặc đã ly dị chồng. Còn xã Thanh Chăn tỷ lệ nam giới
làm chủ hộ gia đình là 100%, không có hộ nào được điều tra có nữ giới làm chủ
hộ [6, 7, 8].
5


Về độ tuổi của chủ hộ các xã đều không có sự chênh lệch lớn, chủ của các hộ
được điều tra đều nằm trong độ tuổi từ 20 đến 60 tuổi, độ tuổi trung bình của chủ
hộ cao nhất là ở xã Sam Mứn là 43,9 tuổi, độ tuổi trung bình thấp nhất là xã Thanh
Yên là 41,3 tuổi, còn độ tuổi trung bình của chủ hộ ở xã Pom Lót là 41,7 tuổi [6, 7,
8].
Chủ hộ của các hộ được điều tra ở cả 3 xã đều là dân tộc kinh là chủ yếu, số
chủ hộ là dân tộc Kinh được điều tra ở 3 xã là 61 hộ chiếm 67,78%. Trong đó ở xã
Thanh Yên chủ hộ là dân tộc kinh là 18 người chiếm tỷ lệ là 60%, dân tộc Sán dìu
là 7 người chiếm 23,34%, số chủ hộ là dân tộc Tày là 5 người chiếm 16,66%, các
hộ được điều tra không có hộ nào là dân tộc Nùng và dân tộc Dao. Còn ở xã Pom
Lót số chủ hộ là dân tộc Kinh được điều tra là 22 người, chiếm 73,34%, số chủ hộ
là dân tộc Nùng là 5 hộ chiếm tỷ lệ là 16,67%, còn dân tộc tày Sán dìu, Dao mỗi
dân tộc điều tra 1 hộ chiếm 3,33% mỗi dân tộc. Xã Thanh Chăn số chủ hộ là dân
tộc Kinh là 21 hộ chiếm 70% số hộ được điều tra, số chủ hộ là dân tộc Tày là 6 hộ
chiếm 20% dân tộc Nùng là 3 hộ chiếm 10%. Nhìn chung những chủ hộ là người
dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Sán dìu đều là người bản địa sinh sống ở địa phương đã
từ lâu đời, chỉ có một số ít dân tộc là những người mới lên hoặc lên công tác tại địa
phương rồi mua đất sinh sống ở địa phương luôn [6, 7, 8].
Trình độ văn hóa của các chủ hộ được điều tra phần lớn đều là học cấp III, tỷ
lệ chủ hộ ở cả 3 xã chỉ có trình độ văn hóa là cấp I là 21,11%, tỷ lệ học đến cấp II là
37,78%, tỷ lệ học đến trình độ cấp III là 41,11%. Tỷ lệ chủ hộ có trình độ văn hóa
là cấp I cao nhất là ở xã Sam Mứn chiếm 30,01%, con số này ở xã Pom Lót là
20,01% và xã Thanh Chăn là khá thấp chỉ là 13,34%, do đặc điểm của vị trí địa lý
và trình độ phát triển kinh tế nên giáo dục ở xã Sam Mứn chưa được đầu tư nên số
chủ hộ đạt đến trình độ văn hóa là cấp I cao hơn, tuy nhiên tỷ lệ này nguyên nhân là
do các chủ hộ phần lớn đều có độ tuổi từ 40 đến 50 tuổi nên tại thời điểm đó giáo

6


dục vẫn chưa được hoàn toàn phổ cập như bây giờ nên việc theo học gặp nhiều khó
khăn [6, 7, 8].
Nhìn chung qua điều tra 90 hộ nông dân của xã thì đa số chủ hộ là nam giới,
các dân tộc Kinh, Tày chiếm đa số, sau đó đến dân tộc Nùng, Sán dìu và Dao, trình
độ văn hóa của chủ hộ thì tỷ lệ trình độ văn hóa đạt cấp III vẫn chiếm đa số, tuy
nhiên số chủ hộ mù chữ hoặc thất học là không có đây cũng là một điều kiện khá
thuận lợi cho tiếp thu khoa học công nghệ vào sản xuất của người dân.
Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ nông dân
Khi nghiên cứu yếu tố lao động phải đề cập đến hai khía cạnh của lao động
đó là số lượng và chất lượng lao động. Số lượng lao động của hộ bao gồm các
thành viên trong gia đình có khả năng lao động. Chất lượng lao động thể hiện trình
độ văn hoá, trình độ chuyên môn, nhận thức về chính trị, xã hội thông qua các kỹ
năng, kinh nghiệm sản xuất được tích lũy qua quá trình sản xuất của hộ nông dân.
Bình quân nhân khẩu trên hộ của 3 xã là 4,23 khẩu/hộ, bình quân lao động
trên hộ là 2,95 lao động/hộ, cụ thể như sau: Phần lớn các hộ nông dân được điều tra
ở 3 xã đều có số nhân khẩu từ 4 khẩu trở xuống, ở xã Sam Mứn là 18 hộ, xã Pom
Lót và xã Thanh Chăn có 19 hộ có từ 4 nhân khẩu trở xuống. Số hộ có số nhân
khẩu từ 5 đến 6 khẩu là khá thấp, xã Sam Mứn có 10 hộ còn xã Pom Lót và xã
Thanh Chăn có 11 hộ. Số hộ có trên 6 khẩu là rất thấp, chỉ có ở xã Sam Mứn có 2
hộ còn xã Pom Lót và xã Thanh Chăn không có hộ nào có trên 6 khẩu. Còn về lao
động của các hộ, phần lớn các hộ đều có 3 lao động trở xuống, ở xã Sam Mứn và
xã Pom Lót hộ có 3 lao động trở xuống là 22 hộ, còn ở xã Thanh Chăn là 20 hộ,
còn số hộ trên 3 nhân khẩu ở xã Pom Lót và xã Sam Mứn là 8 hộ còn ở xã Thanh
Chăn là 10 hộ [6, 7, 8].
Nhìn chung tình hình lao động và nhân khẩu của 3 xã không có sự chênh
lệch đáng kể xã có bình quân nhân khẩu trên hộ và bình quân lao động trên hộ cao
nhất là xã Thanh Chăn với bình quân nhân khẩu trên hộ là 4,27 khẩu/ hộ và bình
7


quân lao động trên hộ của xã Thanh Chăn là 2,95 lao động/hộ. Còn xã có bình quân
nhân khẩu trên hộ thấp nhất là xã Pom Lót với 4,2 khẩu/hộ, chỉ chênh với xã Thanh
Chăn 0,07 người/hộ điều này chứng tỏ số lượng dân số và lao động của các xã
không ảnh hưởng nhiều đến tình hình phát triển kinh tế của các xã [6, 7, 8].
2.3. Nguồn lực của các hộ nông dân
a) Đất đai của các hộ nông dân
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được trong sản xuất
nông, lâm nghiệp của hộ nông dân. Để phát triển kinh tế hộ nông dân trước hết phải
dựa vào nguồn tài nguyên đất, nhất là những nơi tiềm năng để mở rộng đất đai còn
nhiều. Vì vậy, khi phân tích cần dựa vào tiêu thức phân tổ theo loại đất sử dụng,
mức thu nhập và quy mô diện tích đất của vùng nghiên cứu.
Thực tế cho thấy, đất vườn của các hộ nông dân có điều kiện trồng những
cây có giá trị kinh tế cao như các loại cây ăn quả, đặc sản, mặt khác vườn ở gần
nhà có điều kiện thâm canh tốt hơn đã tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh tế
cao hơn. Về quy mô diện tích đất của hộ nông dân điều tra, các hộ có thu nhập từ
khá trở lên quy mô đất chủ yếu là từ 6000 m2 trở lên chiếm 57%, quy mô đất từ
3000-6000 chiếm 43%, các hộ có thu nhập trung bình quy mô đất đai chủ yếu từ
3000-6000 chiếm 65,4%,dưới 3000 chiếm 19,7%, các hộ nghèo và cận nghèo quy
mô diện tích đất chủ yếu dưới 3000 chiếm 40,0% và từ 3000-6000 chiếm 60%
Như vậy diện tích đất của những hộ có mức sống từ khá trở lên là cao nhất sau đó
giảm dần theo thu nhập [2].
b) Phương tiện sản xuất và phương tiện sinh hoạt của các hộ nông dân
Phương tiện sản xuất và phương tiện sinh hoạt là 2 loại phương tiện giúp
đánh giá được rõ nhất mức sống và mức đầu tư vào nông nghiệp của các hộ nông
dân ở 3 xã, dưới đây là mức độ đầu tư phương tiện sản xuất và phương tiện sinh
hoạt của các hộ nông dân.
8


Số lượng phương tiện phục vụ sản xuất các hộ nông dân là khá đầy đủ. Các
hộ dân đã có sự quan tâm tới các loại máy móc phù hợp vào trong hoạt động sản
xuất, điều này đóng góp quan trọng trong việc tăng năng suất cây trồng, vật nuôi
của hộ, giúp đạt hiệu quả cao trong sản xuất và đời sống.
Về các phương tiện sinh hoạt thì các hộ nông dân ở các xã đều có sự đầu tư
tương đối đầy đủ để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, đời sống tinh
thân của hộ nông dân.
c) Nguồn vốn của các hộ nông dân
Vốn là điều kiện rất quan trọng để tiến hành sản xuất đối với các hộ. Để phát
triển sản xuất, nhất là sản xuất ở quy mô lớn thì đòi hỏi hộ nông dân phải có vốn.
Tại thời điểm điều tra năm 2016 quy mô vốn của các hộ nông dân trong 3 xã cũng
có sự chênh lệch đáng kể. Mức vốn bình quân chung 3 xã là 17,3 triệu đồng, trong
đó cao nhất là xã Thanh Chăn 18 triệu đồng, thấp nhất là Sam Mứn 16,57 triệu
đồng. Về nguồn vốn của các hộ nông dân qua bảng cho thấy chủ yếu là vốn tự có
chiếm 76,4%, vốn vay chiếm tỷ trọng nhỏ khoảng 18,1% và vốn khác chiếm tỷ
trọng rất thấp 5,5% [2].
d) Lao động
Khi nghiên cứu yếu tố lao động phải đề cập đến hai khía cạnh của lao động
đó là số lượng và chất lượng lao động. Số lượng lao động của hộ bao gồm các
thành viên trong gia đình có khả năng lao động. Chất lượng lao động thể hiện trình
độ văn hoá, trình độ chuyên môn, nhận thức về chính trị, xã hội thông qua các kỹ
năng, kinh nghiệm sản xuất được tích lũy qua quá trình sản xuất của hộ nông dân.
Chỉ tiêu bình quân khẩu/hộ cao nhất ở nhóm hộ trung bình (3,92 người), thấp
nhất ở nhóm hộ nghèo (3 người). Bình quân lao động/hộ cao nhất là hộ có mức
sống trung bình (2,54 người) và thấp nhất ở nhóm hộ nghèo và cận nghèo (2,11
người) [2].
9


3. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân trên
địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Quy luật tất yếu của nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại
hóa theo xu thế hội nhập do đó tình trạng nhỏ lẻ, phân tán, manh mún, sản xuất thủ
công dựa nhiều trên kinh nghiệm phải được giải quyết. Đây chính là lý do làm cho
hàm lượng chất xám trong nông sản còn thấp và gây khó khăn rất lớn cho quá trình
hội nhập trong lĩnh vực nông nghiệp, làm giảm năng lực cạnh tranh của các sản
phẩm trên thị trường quốc tế. Trước mắt, khi hàm lượng chất xám trong nông sản
thấp thì chúng ta phải chấp nhận bán nông sản dưới dạng thô hoặc với giá rất rẻ
như vậy lợi nhuận là rất thấp. Nền sản xuất mang tính manh mún, tự phát, chi phí
sản xuất cao, rủi ro lớn. Đầu tiên là ngành trồng trọt, chúng ta không còn lạ gì với
hình ảnh mỗi hộ gia đình canh tác trên nhiều mảnh ruộng, lớn nhỏ khác nhau khó
có thể áp dụng hiệu quả thành tựu khoa học vào sản xuất và đầu tư để hình thành
các khu vực chuyên canh sản xuất tập trung được, cản trở quá trình công nghiệp
hóa - hiện đại hóa. Trong khi đó, ngành chăn nuôi lại rơi vào tình trạng thiếu tập
trung, phân tán gây khó khăn cho kiểm soát dịch bệnh, tiêu thụ hàng hóa và xây
dựng các vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Chi phí sản xuất chăn nuôi
như giống và thức ăn rất lớn. Nó đang là trở lực lớn nhất, vừa là một thực trạng
sớm muộn phải xóa bỏ. Để thực hiện được điều đó, cần khuyến khích và thúc đẩy
mạnh mẽ kinh tế trang trại, sản xuất ứng dụng công nghệ cao đi đôi với tổ chức các
hình thức liên kết, hợp tác (cả tín dụng, mua, bán và sản xuất) giữa các hộ nông dân
nhỏ lẻ với nhau trong cùng một phương hướng sản xuất (cùng kinh doanh cây, con
nào đó). Mặt khác, phải tổ chức việc chuyển đổi ngành nghề, tạo điều kiện kinh tế
cho quá trình tích tụ ruộng đất. Kết quả là sẽ giảm dần hộ sản xuất nông nghiệp thủ
công, nhỏ lẻ, đồng thời tăng quy mô sản xuất của mỗi hộ. Nếu chúng ta thực hiện
nó một cách chủ động và tự giác không chỉ đem lại sự phát triển cho kinh tế hộ
nông nghiệp mà còn tạo nên sự ổn định về mặt xã hội. Ngược lại, nếu ta để cho quá
10


trình đó diễn ra một cách tự phát, thiếu kiểm soát thì sự phát triển sẽ chậm trễ và
còn gây ra nhiều bất lợi cho xã hội.
Những quan điểm trên về phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công
nghệ cao nông chỉ được thực hiện trên cơ sở đề ra những giải pháp khoa học, sát
với điều kiện thực tế của các hộ nông dân có tính khả thi cao là một yêu cầu cấp
thiết đối với huyện như Điện Biên. Những giải pháp này tập trung vào một số vấn
đề nổi bật và cần phải làm ngay như sau:
Cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo nghề, chăm sóc, y tế, sức khỏe cho
dân cư nông thôn để giúp giảm được rủi ro đói nghèo và giúp họ hòa nhập được với
cộng đồng, nâng cao năng suất lao động.
Cải thiện lại cơ sở hạ tầng ở địa bàn để tăng mối liên kết giữa các vùng lân
cận, thu hút đầu tư của các doanh nghiệp ở trong và ngoài tỉnh vào địa phương.
Các giải pháp cụ thể đối với huyện Điện Biên để phát triển kinh tế trong thời
kỳ hội nhập như sau:
3.1 Nhóm giải pháp về đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt, việc sử dụng ruộng đất hiệu
quả có ý nghĩa to lớn đối với các hộ nông dân. Muốn áp dụng khoa học kỹ thuật
trong nông nghiệp thì đòi hỏi phải chấm dứt tình trạng manh mún phân tán ruộng
đất hiện nay, thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất.
Hướng đi hợp lý là đất đai sẽ tập trung trong tay các hộ nông dân được trang
bị vốn, khoa học kỹ thuật, thong tin thị trường và lien kết chặt chẽ với các hợp tác
xã, doanh nghiệp. Bộ phận dân cư không đất sản xuất sẽ trở thành công nhân nông
nghiệp hoặc tham gia khu vực phi nông nghiệp. Có như vậy các hộ mới yên tâm
sản xuất và tập trung đầu tư đất đai được sử dụng lâu dài của mình.

11


Trong chính sách giao đất cần phải đi liền với quy hoạch cụ thể, giúp người
dân thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, đất đai manh mún, mà tập trung tích tụ
ruộng đất trong hạn điền quy định.
Đối với các hộ sản xuất lâu đời có diện tích lớn cần tập trung đẩy mạnh thâm
canh, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Đảm bảo an ninh lương thực và tăng khối lượng nông sản hàng hóa trên cơ
sở hoàn thiện hệ thống thủy lợi và đưa các giống mới năng suất cao vào sản xuất
từng bước nâng cao hệ số sử dụng ruộng đất, đặc biệt đối với các hộ nghèo.
3.2. Giải pháp về vốn
Có nhiều trở ngại từ hệ thống ngân hàng đã cản trở quá trình ứng dụng công
nghệ cao trong nông nghiệp. Điển hình, vốn yêu cầu rất lớn nhưng khả năng đáp
ứng qua kênh ngân hàng kể cả dài hạn và ngắn hạn chỉ bảo đảm được 50%. Thủ tục
và điều kiện vay phức tạp, chủ yếu là vay ngắn hạn, không đáp ứng được chu kỳ
sản xuất, kinh doanh, thường phải trả trước khi thu hoạch…Chưa kể hệ thống vay ở
nông thôn chưa hợp lý. Hệ thống ngân hàng phục vụ nông thôn bị thu hẹp, trong
khi sự phối hợp, liên kết giữa ngân hàng và các tổ chức tín dụng, giữa các khâu
thiếu chặt chẽ chưa đồng bộ còn gây nhiều lãng phí.
Giải pháp về vốn cần tập trung vào các nội dung sau:
Nhà nước cần tập trung vốn cho các khu vực nông thôn thông qua các
chương trình, dự án cụ thể, ưu tiên tập trung cho chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật
nuôi và cơ cấu kinh tế nông nghiệp phát triển nông thôn. Tăng cường khuyến nông,
khuyến lâm phát triển kinh tế trang trại và khai thác các tài nguyên khác của vùng
một cách hợp lý.
Cần có một cơ chế cho các nông hộ vay vốn phù hợp với điều kiện thực tế
của vùng, cụ thể phải là:

12


+ Cho vay đúng đối tượng: Đó là những đối tượng phải có nhu cầu thực sự
để phát triển sản xuất, kiểm soát sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả, đặc
biệt ưu tiên cho các hộ nghèo đói, tập trung chủ yếu ở các xóm đồng bào dân tộc.
+ Áp dụng những hình thức thế chấp và lãi suất phù hợp: đối với những hộ
giàu, khá và trung bình cần có tài sản thế chấp hoặc vật tư đảm bảo một cách phù
hợp, đối với nhóm hộ nghèo cần thực hiện chế độ tín dụng tài trợ, sử dụng hình
thức cho vay thông qua các cơ sở quần chúng, như: hội Phụ nữ, hội Nông dân… và
cần có sự ưu đãi về lãi suất cho các hộ nông dân trong nhóm hộ này.
+ Tăng nguồn vốn cho vay: Phát triển mạnh mẽ hơn nữa quy trình cho vay
đối với các hộ nông dân của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn. Củng
cố và phát triển các hợp tác xã tín dụng tăng cường vốn vay dài hạn và trung hạn
thông qua các chương trình phát triển kinh tế.
+ Cần có sự hướng dẫn và giúp đỡ các nông hộ sử dụng vốn vay có hiệu quả,
với một mức vốn vay cụ thể đối với từng loại hộ mới mang lại hiệu quả tối ưu.
+ Phải ưu tiên vốn cho phát triển một cách có trọng điểm, căn cứ vào đặc
điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và kế hoạch dài hạn của địa phương và của vùng.
3.3. Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực
Các giải pháp dạy nghề nông, du nhập nghề mới tạo nguồn nhân lực ngày
càng có chất lượng phù hợp với yêu cầu phát triển một nền nông nghiệp chuyên
canh đi đôi với phát triển tổng hợp, thâm canh dựa trên nền tảng kỹ thuật và công
nghệ hiện đại phải được thực hiện từ chính quy hoạch đã xác định vơi cách làm
nhất quán và có hệ thống.
- Nâng cao trình độ dân trí, đào tạo chủ hộ. Những yếu kém trong nền giáo dục
dân tộc bản địa có những nguyên nhân khách quan là do sự chuyển đổi cơ chế quản lí
kinh tế - xã hội nhưng chủ yếu vẫn là do chủ quan, chưa chú ý đầu tư đúng mức, mặt
khác các cấp chưa quan tâm đến giáo dục, đồng bào còn có tính tự ti, bảo thủ.
13


- Trong lĩnh vực nông nghiệp việc bồi dưỡng nâng cao trình độ dân trí, khả
năng nhận thức và quản lý cho chủ hộ là việc cấp bách và phải coi như là cuộc
Cách mạng văn hóa trong nông thôn vùng cao, vùng sâu. Thực tế cho thấy có nhiều
người sản xuất giỏi nhưng trình độ văn hóa thấp đã làm hạn chế đến sản xuất, tiêu
thụ nông sản và nuôi dạy con cái. Trong nền kinh tế thị trường, việc bồi dưỡng cách
thức khối lượng giàu cho nông hộ là hết sức cần thiết, là nội dung chiến lược trong
công cuộc xóa đói giảm nghèo.
- Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm: về tổ chức mạng lưới
khuyến nông cơ sở, để tạo điều kiện cho người dân miền núi có thể tiếp cận tốt với
khuyến nông, việc lập mạng lưới khả năng là cần thiết, đặc biệt là từ huyện tới thôn
bản. Trạm khuyến nông cần thực hiện tốt 3 chức năng: xây dựng mạng lưới cơ sở,
phổ biến kỹ thuật và phục vụ hỗ trợ xây dựng mô hình thật tốt và chuyển giao cho
đội ngũ nông dân giỏi trước, làm theo khẩu hiệu, làm cho người giàu thì giàu hơn,
người nghèo thành khá, xóa dần hộ nghèo đói, hình thành vùng sản xuất hàng hóa,
tăng giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích và giá trị sản xuất, giải quyết việc làm. Tổ
chức khuyến nông cơ sở ở thôn, bản, nhân sự phải do chính người dân bầu ra là
những người nông dân giỏi trong hoạt động được bà con tín nhiệm bầu chọn. Đào
tạo đội ngũ khuyến nông phải tận tụy, bám sát thực tiễn, dám làm, đổi mới suy nghĩ
và có phương cách chỉ đạo tập trung, được người dân tín nhiệm. Nội dung hoạt
động của khuyến nông nên thu hẹp trong thực hiện chương trình sản xuất một số
cây con với các loại giống mới, có hiệu quả kinh tế cao.
- Kết hợp với các giải pháp khác để tạo việc làm và giảm nhẹ cường độ lao
động cho người nông dân, đây cũng là một vấn đề rất đang quan tâm để xóa đói
giảm nghèo và giảm áp lực cho các vùng thành thị.
3.4. Nhóm giải pháp về khoa học kỹ thuật

14


Trong điều kiện sản xuất phát triển theo hướng hàng hóa, ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật ngày càng có vai trò quan trọng và là động lực thúc đẩy sản xuất
hàng hóa phát triển. Khoa học kỹ thuật là chìa khóa phát triển nông nghiệp hiện đại.
Ngày nay ứng dụng khoa học kỹ thuật được thừa nhận là một trong những
biện pháp kinh tế nhất trong sản xuất nông nghiệp. Người nông dân tiến hành sản
xuất kinh doanh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật thì mới tăng nhanh được năng
suất, nâng cao được chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, từ đó nâng cao khả năng
cạnh tranh sản phẩm trên thị trường và đảm bảo có lợi.
Thay đổi chế độ canh tác còn lạc hậu, giống cây trồng, vật nuôi có năng suất
cao. Thay đổi giống đi đôi với cải tiến hệ thống canh tác, công nghệ sau thu hoạch.
Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất cho các hộ nông dân
nhất là đồng bào dân tộc thiểu số có một ý nghĩa to lớn trong phát triển kinh tế.
Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tiền đề, là yếu tố quyết định năng suất cây
trồng, vật nuôi và chất lượng sản phẩm. Cần cải tiến khâu chọn, tạo và làm giống.
Tăng cường đưa giống mới có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt phù hợp với
nhu cầu thị trường và thị hiếu người tiêu dùng. Đẩy mạnh hoạt động khuyến nông
trong vùng đặc biệt là áp dụng khuyến nông tự nguyện. Phổ biến khắp tới các hộ
nông dân hệ thống canh tác khoa học, phù hợp như hệ thống canh tác trên đất dốc,
hệ thống canh tác nông, lâm kết hợp. Trong chăn nuôi cần chú ý phổ biến tới các hộ
nông dân về kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh. Nâng cao kiến thức quản lý
kinh doanh trong hộ nông dân, giúp hộ nông dân nắm bắt được những nhu cầu của
thị trường một cách kịp thời nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ.
Cần có chính sách hỗ trợ ưu đãi tín dụng trong việc triển khai những quy
trình kỹ thuật mới đối với một số cây trồng vật nuôi ở vùng đồi núi. Để phát triển
kinh tế hộ nông dân trong thời hội nhập phải coi trọng các biện pháp sau:
- Tổ chức tốt các hoạt động khuyến nông, truyền bá tri thức, khoa học kỹ
thuật, kinh nghiệm ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp. Với địa vị tự chủ trong sản
15


xuất kinh doanh, các hộ tự lựa chọn và quyết định phương án sản xuất và tự chịu
trách nhiệm kết quả sản xuất của mình. Xây dựng mô hình trình diễn và làm điểm
cho từng vùng, từng thôn bản, để tiếp nhận chuyển giao khoa học kỹ thuật từ các
viện nghiên cứu, trại thực nghiệm, các tổ chức khuyến nông cấp trên đến các hộ
nông dân.
- Tổ chức các khóa bồi dưỡng ngắn hạn kiến thức tổ chức quản lý sản xuất
kinh doanh cho các chủ hộ sản xuất hàng hóa, đặc biệt là chủ trang trại. Các cơ
quan quản lý nhà nước cần tổ chức biên soạn các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật sản
xuất trồng trọt, chăn nuôi phù hợp với vùng đồi núi, các tài liệu hướng dẫn về tổ
chức quản lý sản xuất kinh doanh được phổ biến rộng rãi nhằm phát triển kinh tế hộ
nông dân sản xuất hàng hóa với quy mô ngày càng lớn hơn.
- Mở rộng hệ thống dịch vụ nhất là dịch vụ khoa học kỹ thuật để cung cấp
vật tư và hướng dẫn người dân sản xuất, qua đó tận mua, trao đổi sản phẩm cho
đồng bào, như hướng dẫn đồng bào dùng phân bón, cải tạo đất, bảo vệ thực vật,
trồng lúa nước, chăn nuôi trong chuồng, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc ít người
đang có tập quán sản xuất truyền thống.
- Thông qua các tổ chức đào tạo cán bộ, những nông hộ có năng lực, trình độ
làm công tác khuyến nông tại chỗ. Qua các tổ chức đoàn thể, chính quyền vận động
nông dân thực hiện các biện pháp “gom vốn” để hỗ trợ vật tư đắt tiền cho sản xuất
cũng như làm cầu nối trung gian thị trường.
- Củng cố, xây dựng, bổ sung cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống
nhất là giao thông, điện thắp sáng trong các xóm của xã.
- Hướng dẫn nông dân làm kinh tế vườn, hướng kinh tế vườn vào sản xuất
hàng hóa, tổng kết nhưng mô hình tốt ngay trên xóm, xã để nông dân rút kinh
nghiệm làm theo, từ đó nhân rộng cho các hộ khác. Đối với những hộ nông dân có
điều kiện nên hướng họ phát triển kinh tế trang trại.
16


- Cần có sự hỗ trợ của kỹ thuật chăn nuôi, dịch vụ thú ý trên địa bàn để sản
xuất ngành chăn nuôi của các nông hộ đem lại hiệu quả kinh tế cao.
3.5. Nhóm giải pháp xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn
Cơ sở hạ tầng là tiền đề để các nông hộ phát triển sản xuất hàng hóa, cơ sở
của công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Bao gồm điện, đường.
trường, trạm, giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Trong đó:
- Cần tập trung hoàn thiện hệ thống giao thông nông thôn với quan điểm Nhà
nước và nhân dân cùng làm, giao thông nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng từ việc
mở rộng thị trường và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật.
- Mở rộng các hệ thống thông tin liên lạc: kinh tế càng phát triển, yêu cầu
lượng thông tin càng nhiều, cần sớm trang bị thông tin điện thoại, đặc biệt là các xã
ở vùng đặc biệt khó khăn.
3.6. Nhóm giải pháp về chính sách
- Nhà nước và Chính quyền các cấp có chính sách trợ giá đầu vào cho sản
xuất. Cung cấp các giống mới, vật tư nông nghiệp với giá ưu tiên hoặc ủng hộ cho
các hộ nghèo, hình thức này cần được khuyến khích duy trì để thâm canh tăng năng
suất đến chừng mực nào đó thì thôi trợ cấp, người dân vẫn tiếp tục sử dụng để tăng
sản lượng. Đây là mặt tích cực của chính sách hỗ trợ đầu vào, đặc biệt đối với kinh
tế tiểu nông như hiện nay, tác động nhanh đến việc gia tăng sản lượng, giúp nông
dân chuyển sang sản xuất hàng hóa thích ứng với thị trường.
- Đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào
sản xuất, thông qua hình thức:
+ Liên doanh, liên kết với các công ty, nông, lâm trường ở địa bàn để hỗ trợ
nông dân trong khâu làm đất, cung cấp giống cây trồng, hướng dẫn kỹ thuật, ngược
lại người dân có thể giúp các công ty, nông, lâm trường khâu lao động (thu hái
chè…) trong lúc thời vụ căng thẳng.
17


+ Đầu tư vốn, kỹ thuật, vật tư, hỗ trợ lương thực cho tới khi thu hoạch thì
truy thu vào sản phẩm của các nông hộ.
- Công tác quy hoạch kế đó là chương trình và kế hoạch để từ quy hoạch trên
bản đồ, từng bước quy hoạch trong thực tế sản xuất kinh doanh.
- Rà soát lại hệ thống cơ chế, chính sách đã có đối với kinh tế nông nghiệp,
nông thôn, đối với nông dân để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện đáp ứng đòi hỏi của sự
phát triển kinh tế nông nghiệp và xây dựng xã hội mới ở nông thôn.
- Làm tốt vai trò thúc đẩy, tạo điều kiện cho các hình thức liên kết, liên hợp,
hợp tác giữa cán bộ và nông dân. Từ đó, mở đường và thúc đẩy kinh tế hợp tác phát
triển, thay thế dần tình trạng hộ phân tán, đơn lẻ hiện nay.
- Thực sự là “tư lệnh” của “4 nhà” trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp,
đóng vai trò là người mở đường và tổ chức thị trường cho các sản phẩm, hàng hóa
nông nghiệp.
- Có chính sách trợ giá đối với các sản phẩm do các nông hộ sản xuất ra như:
đảm bảo tiêu thụ sản phẩm với giá ổn định và đảm bảo có lợi cho họ, miễn thuế vài
năm đầu cho các dịch vụ thương nghiệp nhằm tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp do nhân dân địa phương làm ra.
- Cần giải quyết tốt các chế độ chính sách ở vùng sâu, vùng xa, cấp phát đủ
số lượng, đúng đối tượng trong các chương trình xóa đói giảm nghèo.
3.7. Giải pháp về thị trường
Chúng ta cần thay đổi tư duy từ sản xuất theo khả năng sang sản xuất theo
nhu cầu thị trường. Hiện nay nông nghiệp có khoảng cách lớn giữa sản xuất và tiêu
thụ, không năm nào là không xảy ra tình trạng được mùa mất giá và ngược lại. Tập
trung sản xuất thì không có điều kiện lo thị trường, do vậy điều hành sản xuất theo
khả năng của đất đai, lao động, đầu tư... Chúng ta xuất khẩu nhiều mặt hàng đứng
đầu thế giới song không ai biết nông sản của chúng ta đi đâu, và sau khi xuất khẩu
18


các mặt hàng đó không biết họ đã làm gì. Do vậy chúng ta cần phải tìm hiểu kỹ thị
trường, mở rộng thị trường. Bán những thứ thị trường cần chứ không bán những
thứ thị trường đã có. Chỉ có như vậy chúng ta mới đạt được hiệu quả kinh tế cao.
3.8. Nhóm giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân toàn diện và bền vững
Thực chất khủng hoảng môi trường hiện nay là khủng hoảng về mô hình phát
triển. Do đó phải thay đổi mô hình phát triển từ trước đến nay dựa trên cơ sở khai
thác tài nguyên thiên nhiên bằng kiểu phát triển bền vững, sao cho “sự phát triển
đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng của các thế hệ
tương lại, đáp ứng nhu cầu bản thân của họ”. Như vậy, quan điểm tổng quát của
phát triển bền vững phải làm sao xây dựng được mối quan hệ cộng sinh hài hòa lâu
dài giữa con người và tự nhiên, nghĩa là làm sao nâng cao chất lượng sống của mỗi
người thuộc các thế hệ trong khuyến nông chịu đựng của hệ sinh thái. Muốn vậy
cần phải thực hiện những vấn đề sau đây:
1. Cần giải quyết vấn đề suy thoái đất nông nghiệp và lâm nghiệp bằng việc
phát triển nhiều mô hình kinh tế nông lâm kết hợp.
2. Tăng cường bảo vệ môi trường sinh thái, mục tiêu phát triển của xã hội
loài người mà nhiều nước đang hướng tới đó là sự phồn vinh về kinh tế, sự công
bằng về xã hội và sự trong sạch của môi trường sinh thái. Điều này được ghi rõ
trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ VIII: “Tăng cường kinh tế gắn liền
với sự tiến bộ công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo
vệ môi trường sinh thái”.

KẾT LUẬN
Trên cơ sở nghiên cứu phát triển kinh tế nông hộ có thể khẳng định rằng,
kinh tế nông hộ là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp
với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá. Phát triển kinh tế nông hộ tại huyện
Phú Lương có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế, xã hội và môi trường.
19


Thực trạng kinh tế nông hộ tại huyện Điện Biên hiện nay còn mang tính chất
thuần nông (thu nhập chủ yếu vẫn là nông nghiệp). Huyện Điện Biên là một trong
những huyện có tỷ lệ các hộ dân tộc thiểu số cao. Thu nhập của các hộ này thường
thấp hơn so với thu nhập của các hộ dân tộc kinh, họ cũng đầu tư ít hơn vào sản
xuất, chủ yếu là các hộ thuần nông và sản xuất lâm nghiệp.
Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật của chủ hộ còn thấp. Chủ
hộ ít được tiếp cận với các kiến thức về khoa học kỹ thuật trong sản xuất. Chủ yếu
vẫn sản xuất bằng thủ công, cũng đã có một số nơi đưa máy móc vào sản xuất
nhưng không đáng kể.
Nguồn thu nhập từ nông, lâm nghiệp là chủ yếu chiếm tỷ trọng cao, ngành
dịch vụ vẫn còn rất thấp. Rừng cũng là thế mạnh nhưng chưa được chú ý khai thác,
đất trống đồi núi trọc vẫn còn nhiều, nguồn lợi thu nhập từ rừng chưa cao. Phát
triển kinh tế nông hộ là một nhiệm vụ trọng yếu để đưa nông nghiệp, nông thôn tại
huyện Điện Biên phát triển.
Các hộ nông dân đã bắt đầu chuyển hướng sản xuất từ hình thức tự cung tự
cấp sang sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Nguồn lao động dồi dào, đã có sự chuyển dịch lao động từ ngành nông
nghiệp sang phi nông nghiệp. Trình độ lao động và năng suất lao động dần được cải
thiện để đáp ứng nhu cầu xã hội nhưng chưa đồng đều giữa các vùng. Đã áp dụng
khoa học kỹ thuật nhưng vẫn còn nhiều hạn chế.
Để phát triển kinh tế nông hộ tại huyện Điện Biên hiện nay cần phải thực
hiện đồng bộ các giải pháp.
+ Giải pháp chung: Cần tăng cường đầu tư vốn cho hộ nông dân, đẩy mạnh
ứng dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp, hoàn thiện công tác quy hoạch sử dụng
đất, xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế chủ yếu trong nông thôn như: điện,
đường, trường, trạm, chợ và phát triển cụm điểm dân cư nông thôn, đẩy mạnh phát
20


triển hộ sản xuất theo mô hình kinh tế trang trại, hình thành các hình thức hợp tác
đa dạng giữa các hộ nông dân.
+ Giải pháp cụ thể: Đối với các nông hộ vùng đồi núi cao, vùng sinh thái
cần hoàn thiện công tác giao đất giao rừng và đẩy mạnh phát triển nghề rừng kết
hợp với chăn nuôi đại gia súc trong các hộ nông dân, vùng đồi núi cao trung bình
đẩy mạnh công tác khuyến nông, lâm, dịch vụ kỹ thuật, vùng đồi núi thấp cần đẩy
mạnh đầu tư thâm canh, giải quyết việc chuyển đổi ruộng đất, khắc phục ruộng
đất manh mún.
Đối với những hộ nông dân nghèo, cần tổ chức hướng dẫn việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của hộ theo hướng hàng hóa. Phổ biến kỹ thuật đầu tư thâm canh
giống mới, đẩy mạnh hoạt động khuyến nông xây dựng mô hình trình diễn, nâng
cao kiến thức quản lý và khả năng nắm bắt thị trường. Đối với hộ nông dân người
dân tộc thiểu số, cần có những giải pháp riêng, ưu tiên, đồng thời nâng cao năng lực
quản lý cộng đồng trong đồng bào dân tộc.

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Tuấn Anh, Trần Thị Vân Anh, (1997), Kinh tế hộ lịch sử và triển vọng
phát triển, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.
2. Chi cục thống kê huyện Điện Biên, Niên giám thống kê qua các năm
2014, 2015, 2016, 2017.
3. Cục Thống kê tỉnh Điện Biên, Niên giám thống kê năm 2016, 2017.
4. Nguyễn Văn Huân (1993), Kinh tế hộ, khái niệm vị trí, vai trò, chức năng,
Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế.
5. Đào Thế Tuấn (1997), Kinh tế hộ nông dân, Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
6. UBND xã Sam Mứn, Báo cáo Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội năm 2014, 2015, 2016.
7. UBND xã Thanh Chăn, Báo cáo Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội năm 2014,2015,2016.
8. UBND xã Pom Lót, Báo cáo Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội năm 2014, 2015, 2016.

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×