Tải bản đầy đủ

BỆNH VIÊM VÕNG mạc TRUNG tâm THANH DỊCH

BỆNH VIÊM VÕNG MẠC TRUNG TÂM THANH DỊCH
Bộ môn – khoa Y học cổ truyền
1. Đại cương
1.1. Y học hiện đại
1.1.1. Khái niệm
Bệnh viêm võng mạc trung tâm thanh dịch là một dạng bệnh thường gặp của bệnh lý đáy mắt,
phát sinh tại điểm vàng. Đặc trưng của bệnh là sự thoát ly thành dạng thể dịch của lớp thượng bì
thần kinh võng mạc.
Trước đây, người ta thường chẩn đoán bệnh viêm võng mạc trung tâm thanh dịch với các bệnh
danh như: viêm hắc võng mạc trung tâm tái phát, viêm võng mạc co thắt mạch trung tâm, viêm
thị võng mạc mạch lạc mạc trung tâm…
Bệnh này, thường gặp ở thanh niên, nam nhiều hơn nữ và thường phát bệnh ở một mắt. Đặc điểm
điển hình của bệnh là dễ tái phát và dễ tự hồi phục.
1.1.2. Nguyên nhân cơ chế bệnh sinh
1.1.2.1. Nguyên nhân
Các học thuyết về nguyên nhân gây bệnh viêm võng mạc trung tâm thanh dịch cho đến nay vẫn
chưa được thống nhất, có thể kể ra một vài học thuyết như: dị ứng do nhiễm trùng, co thắt mạch,
tắc nghẽn tuần hoàn cục bộ, tổn thương mạch lạc mạc và yếu tố tâm lý.
1.1.2.2. Cơ chế bệnh sinh
Các nghiên cứu gần đây cho rằng: bệnh viêm thị võng mạc trung tâm thanh dịch phát bệnh tại
mạc mạch. Dưới tác dụng của các loại nguyên nhân khác nhau, tầng mao mạch của mạc mạch bị

thay đổi cục bộ, làm chức năng bảo vệ của sắc tố võng mạc lớp thượng bì tại điểm vàng bị tổn
thương, tạo thành vết nứt có cấu trúc chặt chẽ. Dịch từ lớp mạch máu của mạc mạch thông qua
vết nứt thấm vào phía dưới của lớp thượng bì thần kinh võng mạc, làm thoát ly dịch của lớp
thượng bì thị thần kinh.
Thay đổi bệnh lý chủ yếu của bệnh là dịch bị tích tụ phía dưới võng mạc tại điểm vàng, đẩy võng
mạc về phía trước. Trong võng mạc và mạc mạch tìm thấy các tế bào bạch cầu đơn nhân, ngoài
ra không thấy các tổn thương bệnh lý khác.
1.1.3. Chẩn đoán
- Lâm sàng: biểu hiện chủ yếu của bệnh là mắt bị giảm thị lực, nhìn vật biến dạng, ám điểm
trước mắt và rối loạn sắc tố.
+ Mắt bị giảm thị lực: biểu hiện chủ yếu của triệu chứng này là giống như đang nhìn vật ở trong
sương mù. Song song với quá trình hồi phục của bệnh thì thị lực cũng được cải thiện dần dần. Đa
số thị lực đều được hồi phục hoàn toàn.
+ Nhìn vật biến dạng: đa số bệnh nhân đều có biểu hiện tự cảm giác vật đang nhìn bị biến dạng,
cong queo, đôi khi thấy vật nhỏ đi.


+ Ám điểm trước mắt và rối loạn sắc tố: bệnh nhân tự cảm giác có bóng mờ trước mắt, thành
hình tròn hoặc hình bầu dục, thường có màu nâu hoặc một màu khác.
- Cận lâm sàng: đo thị lực (thường ở mức 0.4 – 0.6), đo tầm nhìn, phương pháp kiểm tra Amsler,
kiểm tra đáy mắt, chụp dựng hình mạch máu đáy mắt…
1.2. Y học cổ truyền
1.2.1. Khái niệm
Y học cổ truyền mô tả triệu chứng điển hình của bệnh là mắt bị giảm thị lực, nhìn vật biến dạng
cong queo, nhìn vật biến nhỏ, ám điểm trước mắt và rối loạn sắc tố, có thể xếp vào các chứng: thị
chiêm hôn miễu, thị chiêm hữu sắc, thị trực như khúc, thị chính phản tà.
1.2.2. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh
- Lao thần, huyết hư, nguyên khí nhược, nguyên tinh hao hư:
Nhãn khoa y học cổ truyền cho rằng, mắt nhờ có tinh huyết mới nhìn được sự vật bên ngoài. Nếu
cơ thể suy nhược, suy nghĩ quá nhiều… làm cho tinh khí hao tổn, tinh huyết lưỡng hư, mắt
không được nuôi dưỡng mà gây ra bệnh này.
- Tỳ hư, đàm thấp:
Chức năng của tỳ là vận hóa.Tỳ hư sẽ làm rối loạn chức năng vận hóa, tân dịch bị đình trệ, kết
tụ, gây nên đàm ẩm. Đàm ẩm có thể ngưng tụ tại bất cứ đâu trong cơ thể. Nếu nó ngưng tụ tại vị
trí bên dưới thị võng mạc sẽ gây ra bệnh này.
- Can uất khí trệ, tình chí bất sơ:
Chức năng của can liên quan đến tình chí là cáu giận. Nếu can khí uất kết sẽ sinh ra cáu giận.
Khi cáu giận quá mức làm ảnh hưởng đến chức năng sơ tiết của can gây uất trệ khí cơ. Tinh khí
của lục phủ ngũ tạng sung túc thì giúp cho mắt nhìn được sự vật bên ngoài rõ ràng. Chức năng sơ
tiết của can điều đạt giúp cho tinh khí tăng cường nuôi dưỡng lên mắt. Nếu can khí uất kết, mạch


đạo bế trở, thủy thấp nội tụ gây ra bệnh này.
2. Biện chứng luận trị
2.1. Đặc điểm biện chứng
Triệu chứng điển hình của bệnh là mắt bị giảm thị lực, nhìn vật biến dạng, nhìn vật biến nhỏ, ám
điểm trước mắt và rối loạn sắc tố. Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do: lao thần, huyết hư, khí
hư, nguyên tinh hao hư, huyết ứ, khí trệ … Do vậy, trong biện chứng luận trị cần nắm vững các
triệu chứng bệnh của mắt và kết hợp với các triệu chứng toàn thân. Ngoài ra, cần phân biệt rõ các
thể bệnh thuộc hư chứng như: can thận âm hư, khí huyết lưỡng hư, tỳ dương hư… với các thể
bệnh thuộc thực chứng như : can khí uất kết, can tỳ bất hòa, khí trệ huyết ứ… Khi chẩn đoán cần
phân biệt với các chứng bệnh khác của mắt như: bạo manh …
2.2. Nguyên tắc điều trị
Tùy thuộc vào các chứng khác nhau của bệnh mà đưa ra các pháp điều trị khác nhau.
Nếu là chứng can thận âm hư thì pháp điều trị phải bổ ích can thận, tư âm giáng hỏa.
Nếu là chứng khí huyết lưỡng hư thì pháp điều trị phải bổ khí dưỡng huyết.


Nếu là chứng thấp trọc đình tụ thì pháp điều trị phải trừ thấp hóa trọc.
Nếu là chứng can khí uất kết thì pháp điều trị phải sơ can giải uất, hành khí hoạt huyết.
Nếu là chứng khí trệ huyết ứ thì pháp điều trị phải hoạt huyết hóa ứ.
3. Phân thể điều trị
3.1. Thể can thận âm hư
- Lâm sàng: mắt bị giảm thị lực, ám điểm trước mắt và rối loạn sắc tố, dễ cáu giận, hay ưu phiền,
kèm theo hoa mắt, chóng mặt, ù tai, khô họng, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác.
- Pháp điều trị: bổ ích can thận, tư âm giáng hỏa.
- Bài thuốc: Tri bá địa hoàng hoàn thêm xa tiền tử, bạch truật.
Thục địa
12g
Hoài sơn
12g
Trạch tả
12g
Đan bì
12g
Phục linh
10g
Sơn thù nhục
10g
Hoàng bá
10g
Tri mẫu
10g
Xa tiền tử
15g
Bạch truật
12g
Bài thuốc trên có thể sắc uống ngày 01 thang.
Trong bài thuốc trên thì thục địa có tác dụng tư âm bổ thận. Sơn thù nhục có tác dụng bổ dưỡng
can thận, cố tinh. Hoài sơn có tác dụng bổ tỳ âm, cố thận. Ba vị thuốc trên phối hợp với nhau có
tác dụng bổ dưỡng can, tỳ, thận âm. Trạch tả có tác dụng lợi thấp hóa trọc. Phục linh có tác dụng
thẩm thấp. Đan bì có tác dụng thanh tả hư nhiệt.Tri mẫu, hoàng bá có tác dụng thanh nhiệt giáng
hỏa, táo thấp. Xa tiền tử có tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy, thông lâm. Bạch truật có tác dụng kiện
tỳ trừ thấp.
3.2. Thể khí huyết lưỡng hư
- Lâm sàng: mắt bị giảm thị lực, rối loạn sắc tố, người mệt mỏi, chán ăn, sắc mặt nhợt, chất lưỡi
nhợt, mạch tế.
- Pháp điều trị: bổ khí dưỡng huyết.
- Bài thuốc: Bát trân thang gia giảm.
Thục địa
12g
Cam thảo
10g
Bạch thược
15g
Nhân sâm
06g
Bạch truật
15g
Bạc linh
10g
Xuyên khung
15g
Đương quy
12g
Xa tiền tử
15g
Ý dĩ nhân
12g
Thông thảo
10g
Bài thuốc trên gia sinh khương 2 – 3 lát, đại táo 5 quả sắc uống.
Trong bài thuốc trên thì nhân sâm phối hợp với thục địa có tác dụng bổ khí dưỡng huyết. Bạch
linh phối hợp với bạch truật có tác dụng kiện tỳ trừ thấp. Đương quy phối hợp với bạch thược có
tác dụng tư dưỡng tâm can. Xuyên khung có tác dụng hành khí hoạt huyết. Cam thảo có tác dụng
điều hòa bài thuốc. Xa tiền tử, ý dĩ nhân, thông thảo có tác dụng lợi thấp, thông lâm.
3.3. Thể thấp trọc đình tụ
- Lâm sàng: mắt bị giảm thị lực, nhìn vật biến dạng cong queo, ám điểm trước mắt và rối loạn
sắc tố, chán ăn, chướng bụng, tức ngực, rêu lưỡi dầy, mạch hoạt.


Kiểm tra đáy mắt thấy có dịch bên dưới thị võng mạc.
- Pháp điều trị: trừ thấp hóa trọc.
- Bài thuốc: Tam nhân thang gia giảm.
Hạnh nhân
10g
Hoạt thạch
20g
Thông thảo
06g
Bạch đậu khấu
06g
Trúc diệp
12g
Hậu phác
12g
Ý dĩ nhân
12g
Bán hạ
10g
Bài thuốc trên sắc uống ngày 1 thang.
Trong bài thuốc trên thì hạnh nhân có tác dụng tuyên thông phế khí. Bạch đậu khấu tính phương
hương hóa thấp, điều hòa tỳ vị. Ý dĩ nhân có tác dụng kiện tỳ thẩm thấp. Bạn hạ có tác dụng tiêu
đàm trừ thấp. Hậu phác, thông thảo, hoạt thạch, trúc diệp có tác dụng thanh lợi thấp nhiệt.
Nếu bệnh nhân có biểu hiện của chứng khí hư thì gia hoàng kỳ 20g, đảng sâm 12g.
3.4. Thể can khí uất kết
- Lâm sàng: mắt bị giảm thị lực, nhìn vật bị biến dạng, ám điểm trước mắt và rối loạn sắc tố, dễ
cáu giận, suy nghĩ nhiều, đau tức hạ sườn, đắng miệng, chất lưỡi đỏ, mạch huyền.
Kiểm tra đáy mắt thấy có dịch bên dưới thị võng mạc.
- Pháp điều trị: sơ can giải uất, hành khí hoạt huyết.
- Bài thuốc: Sài hồ sơ can tán gia giảm.
Sài hồ
15g
Trần bì
15g
Xuyên khung
12g
Hương phụ
12g
Chỉ xác
12g
Bạch thược
15g
Cam thảo
06g
Bạch linh
10g
Bạch truật
12g
Xa tiền tử
10g
Bài thuốc trên sắc uống ngày 01 thang.
Trong bài thuốc trên thì sài hồ, chỉ xác, hương phụ có tác dụng sơ can kinh uất kết. Xuyên khung
có tác dụng hoạt huyết ứ tại can kinh. Bạch thược, cam thảo có tác dụng điều hòa can khí. Bạch
truật, phục linh phối hợp với nhau có tác dụng kiện tỳ lợi thấp. Xa tiền tử có tác dụng lợi thủy
thấp, nhằm làm tan nhanh dịch bị tích tụ bên dưới thị võng mạc.
3.5. Thể khí trệ huyết ứ
- Lâm sàng: mắt bị giảm thị lực, nhìn mờ, nhìn vật bị biến dạng, ám điểm trước mắt và rối loạn
sắc tố, chất lưỡi tím tối, có ứ điểm.
Kiểm tra đáy mắt thấy các tiểu mô bệnh học màu vàng nhạt, điểm vàng màu sẫm tối.
Thể bệnh này thường gặp ở những bệnh nhân bị bệnh lâu ngày.
- Pháp điều trị: hoạt huyết hóa ứ.
- Bài thuốc: Huyết phủ trục ứ thang gia giảm.
Đào nhân
12g
Hồng hoa
10g
Sinh địa
12g
Xuyên khung
12g
Ngưu tất
12g
Chỉ xác
10g
Sài hồ
12g
Xích thược
10g
Cát cánh
10g
Cam thảo
10g
Hoàng kỳ
15g


Bài thuốc trªn sắc uống ngày 01 thang.
Trong bài thuốc trên thì đào nhân có tác dụng phá huyết. Hồng hoa có tác dụng hoạt huyết chỉ
thống. Xích thược, xuyên khung phối hợp với đào nhân và hồng hoa làm cho tác dụng hoạt huyết
của bài thuốc tăng lên. Ngưu tất có tác dụng hoạt huyết thông kinh, chỉ thống. Sinh địa, đương
quy có tác dụng dưỡng huyết, bổ âm. Cát cánh, chỉ xác có tác dụng hành khí. Sài hổ có tác dụng
sơ can giải uất. Hoàng kỳ có tác dụng bổ khí. Cam thảo có tác dụng điều hòa bài thuốc.
4. Các biện pháp khác
- Hào châm các huyệt: phong trì, khúc trì, nội quan, thái dương, tình minh, thừa khấp… Mỗi lần
chọn 3- 4 huyệt, ngày một lần, thời gian lưu kim từ 15- 30 phút. Liệu trình châm 7- 10 ngày.
- Nhĩ châm các huyệt: giao cảm, thần môn, thận, tuyến thượng thận…
Mỗi lần chọn 3- 4 huyệt, ngày một lần, thời gian lưu kim từ 15- 30 phút. Liệu trình châm 7- 10
ngày.
5. Kết luận
Y học cổ truyền mô tả triệu chứng điển hình của bệnh là mắt bị giảm thị lực, nhìn vật biến dạng
cong queo, nhìn vật biến nhỏ, ám điểm trước mắt và rối loạn sắc tố, có thể xếp vào các chứng: thị
chiêm hôn miễu, thị chiêm hữu sắc, thị trực như khúc, thị chính phản tà.
Nguyên nhân của bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch theo y học cổ truyền thường là do:
Lao thần, huyết hư, nguyên khí nhược, nguyên tinh hao hư; Tỳ hư, đàm thấp; Can uất khí trệ,
tình chí bất sơ.
Nguyên tắc điều trị: Nếu là chứng can thận âm hư thì pháp điều trị phải bổ ích can thận, tư âm
giáng hỏa. Nếu là chứng khí huyết lưỡng hư thì pháp điều trị phải bổ khí dưỡng huyết. Nếu là
chứng thấp trọc đình tụ thì pháp điều trị phải trừ thấp hóa trọc. Nếu là chứng can khí uất kết thì
pháp điều trị phải sơ can giải uất, hành khí hoạt huyết.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×