Tải bản đầy đủ

MỤC lục cong nghe thong tin

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, thị trường tiền tệ Việt Nam đã được hình thành và từng bước hoàn
thiện theo xu hướng năng động, tích cực, phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế.
Mặc dù đến nay quy mô của thị trường này còn rất khiêm tốn nhưng nó đã đóng vai trò
nhất định trong việc kết nối cung cầu về vốn ngắn hạn cho các ngân hàng, các doanh
nghiệp… Đặc biệt, thị trường tiền tệ Việt Nam đã góp phần tháo gỡ khó khăn cho các
ngân hàng trong việc đảm bảo khả năng thanh toán, an toàn hệ thống, cũng như mở rộng
nguồn vốn cho vay. Trong những kết quả đó, không thể không kể đến vai trò của ngân
hàng nhà nước Việt Nam.
Để kiểm soát và điều tiết thị trường tiền tệ, ngân hàng trung ương các nước thường sử
dụng hệ thống các công cụ như dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở. Đối
với Việt Nam, hệ thống các công cụ kiểm soát và điều tiết thị trường tiền tệ đã được hình
thành và phát triển cùng với quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng. Xuất phát từ thực tiễn
Việt Nam, ngân hàng nhà nước đã thực hiện việc kiểm soát, điều tiết thị trường tiền tệ
thông qua việc sử dụng các công cụ trực tiếp như: hạn mức tín dụng, lãi suất, tỷ giá, đồng
thời thiết lập và bước đầu sử dụng các công cụ gián tiếp như dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn,
ngiệp vụ thị trường mở.
Dựa vào thực tế có thể thấy rằng hoạt động ngân hàng và chính sách tiền tệ nước ta chưa
đạt được độ hoàn thiện và tương xứng với những yêu cầu mà nền kinh tế đặt ra, thị
trường tiền tệ nước ta vẫn phát triển ở mức độ thấp. Các thành viên tham gia thị trường

tiền tệ còn có nhiều hạn chế, bản thân một số tổ chức chưa quản lý vốn một cách linh
hoạt và hiệu quả, chưa chủ động tham gia thị trường tiền tệ để sinh lời nguồn vốn tạm
thời nhàn rỗi của mình. Ngân hàng chưa phát huy tốt vai trò hướng dẫn thị trường,
khuyến khích các thành viên tham gia các giao dịch ngân hàng và sử dụng nguồn vốn.
Chế độ lãi suất chưa hoàn toàn linh hoạt nhằm thu hút lượng vốn nhàn rỗi trong dân cũng
như thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Từ những vấn đề trên, nhóm 3 xin chọn đề tài: “Phân
tích các công cụ mà ngân hàng nhà nước Việt Nam đã sử dụng để điều tiết thị trường tiền
tệ”. Việc hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam phụ thuộc nhiều vào
khả năng tiếp cận và vận dụng hệ thống các công cụ thực thi chính sách tiền tệ của ngân
hàng Nhà nước Việt Nam. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường chính sách
tiền tệ ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong việc điều tiết nền kinh tế nhằm đạt mục
tiêu ổn định hệ thống tiền tệ kiềm chế lạm phát, tạo môi trường kinh tế ổn định và phát
triển bền vững, lành mạnh.
Kết cấu bài thảo luận gồm 3 chương:
Chương 1: Chính sách tiền tệ trong nền kinh tế thị trường
Chương 2: Thực trạng việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2011-2015
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt
Nam
Do hiểu biết của nhóm 3 về thực tế thị trường tiền tệ Việt Nam còn hạn hẹp, khả năng
đánh giá chưa sâu sắc, với kiến thức được trang bị và sự giúp đỡ của thầy nhóm 3 đã
hoàn thành đề tài thảo luận. Tuy nhiện, không thể tránh khỏi những yếu kém và sai sót
nên nhóm 3 rất mong nhận được sự đánh giá và góp ý của thầy và các bạn để báo cáo
được hoàn thiện hơn.
Nhóm 3 xin chân thành cảm ơn !
CHƯƠNG I:
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ
1.1.1. Khái niệm
Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do NHTW khởi thảo và thực thi, thông
qua các công cụ, biện pháp của mình để đạt được các mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền,
tạo công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế… (Theo Điều 2 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt


Nam quy định ngày 12/12/1997)
1.1.2. Vị trí của chính sách tiền tệ
Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính sách tiền tệ là một
trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông
tiền tệ. Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác: chính
sách tài khóa, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại. Đối với NHTW, việc


hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất, mọi hoạt động của nó
đều làm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn.
1.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Chính sách kinh tế vĩ mô là một tổng hòa của các phương thức mà NHTW thông qua các
hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông nhằm phục vụ cho việc
thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của một đất nước trong một thời kỳ nhất định.
1.2.1. Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất trong các mục tiêu của
chính sách tiền tệ. Do chính sách tiền tệ có thể ảnh hưởng tới của cải và chi tiêu của xã
hội nên có thể sử dụng nó làm đòn bẩy kích thích tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh
tế phải được hiểu cả về khối lượng và chất lượng. Chính sách tiền tệ phải đảm bảo sự
tăng lên của GDP thực tế, tức là tỷ lệ tăng trưởng có được sau khi trừ đi tỷ lệ tăng giá
cùng thời kỳ. Chất lượng tăng trưởng được biểu hiện ở một cơ cấu kinh tế cân đối và khả
năng cạnh tranh quốc tế của hàng hóa trong nước tăng lên.
Muốn tăng trưởng kinh tế thì phải gia tăng đầu tư thực hiện tái sản xuất mở rộng. Để gia
tăng đầu tư, bên cạnh việc sử dụng công cụ tài trợ của ngân sách Nhà nước, người ta phải
chủ yếu trông vào sự gia tăng đầu tư tín dụng của hệ thống ngân hàng dưới tác động của
NHTW. Như vậy với tư cách là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh toán trong nền kinh tế
quốc dân, NHTW đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu này.
1.2.2. Ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát
Kiểm soát lạm là một mục tiêu quan trọng của chính sách tiền tệ trong điều kiện kinh tế
thị trường hiện đại thường xuyên xảy ra lạm phát. Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc
biệt để định hướng phát triển kinh tế của quốc gia vì nó làm tăng khả năng dự đoán
những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô. Mức lạm phát thấp và ổn định tạo nên
môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu tư và đảm bảo sự phân bổ nguồn lực xã
hội một cách hiệu quả.
1.2.3. Tạo việc làm, giảm thất nghiệp
Tạo công ăn việc làm là mục tiêu của tất cả các chính sách vĩ mô. Tạo việc làm luôn là
một đòi hỏi bức xúc và thường trực của xã hội. Việc làm nhiều hay ít, tăng hay giảm chủ
yếu tùy thuộc vào tình hình tăng trưởng kinh tế. Khi đầu tư tăng và các hoạt động kinh tế
được mở rông thì người lao động càng có them cơ hội tìm kiếm việc làm. Tuy nhiên, khi
tăng trưởng kinh tế đạt được do kết quả cải tiến kỹ thuật thì việc làm có thể không tăng
mà có thể giảm, dẫn đến thất nghiệp tăng.
Sự phối hợp giữa 3 mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ là rất quan trọng. Bởi vì,
không phải cùng một lúc cả 3 mục tiêu đều có thể thực hiện được mà không có sự mâu
thuẫn. Do vậy, khi xác định các mục tiêu này, phải tùy thời điểm mà sắp xếp thứ tự ưu
tiên. Điều quan trọng là phải luôn nắm bắt được thực tế diễn biến của quá trình thực hiện
các mục tiêu để kịp thời điều chỉnh chúng khi cần thiết với những giải pháp thích hợp. Để
đạt được các mục tiêu đề ra thì NHTW được coi là có nhiều khả năng thực hiện việc này
vì NHTW nắm trong tay các công cụ điều chỉnh tiền cung ứng. Như vậy, mục tiêu và
nhiệm vụ của chính sách tiền tệ chính là xuất phát điểm để đưa ra các công cụ điều hành.
1.3. Các công cụ của chính sách tiền tệ
Để thực thi chính sách tiền tệ thực hiện chức năng và vai trò của mình, NHTW đã sử
dụng hàng loạt các công cụ như: dự trữ bắt buộc, chính sách tái chiết khấu, nghiệp vụ thị
trường mở, hạn mức tín dụng, lãi suất, tỷ giá hối đoái…Mỗi loại công cụ có chơ chế vận
hành riêng và ưu điểm, nhược điểm khác nhau. Do đó tùy thuộc vào tình hình nền kinh tế
để sử dụng các công cụ một cách linh hoạt, hiệu quả.


1.3.1. Dự trữ bắt buộc
a, Khái niệm: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ phần trăm giữa số lượng phương tiện thanh
toán bị vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi huy động, tức là NHTM phải gửi tại NHTW một
phần của tổng số tiền gửi mà NHTW nhận được từ dân cư và các thành phần khác trong
nền kinh tế theo một tỷ lệ nhất định.
b, Cơ chế tác động
NHTW sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc nhằm tăng, giảm quy mô tín dụng của các
NHTM bằng cách làm giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến số nhân tiền tệ trong cơ chế
tạo tiền của các NHTM.
Nếu tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì sẽ làm khả năng cho vay của các NHTM giảm, từ đó
làm cho lượng cung ứng tiền giảm. Và ngược lại, nếu giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm
khả năng cho vay của các NHTM tăng, từ đó làm cho lượng cung ứng tiền tăng.
c, Ưu điểm, nhược điểm
* Ưu điểm:
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc có tác động như nhau và tác động một cách đầy quyền lực đến các
ngân hàng.
- Giúp NHTW chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng.
* Nhược điểm:
- Rất khó khăn để thực hiện những thay đổi nhỏ trong cung ứng tiền tệ.
- Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ ảnh hưởng tới khả năng thu doanh lợi của các
NHTM. Hơn nữa, nếu thường xuyên thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng sẽ gây ra tình
trạng không ổn định cho các NHTM và làm cho việc quản lý khả năng thanh toán của các
ngân hàng này khó khăn hơn. Do đó, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cần được nghiên cứu kỹ lưỡng
để đưa ra các mức phù hợp.
- Tính linh hoạt không cao vì việc tổ chức thực hiện nó rất chậm, phức tạp, tốn kém và nó
có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của các NHTM.
1.3.2. Chính sách tái chiết khấu
a, Khái niệm
Chính sách tái chiết khấu là hoạt động mà NHTW thực hiện cho vay ngắn hạn đối với các
NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu
(đối với thương phiếu) và hạn mức cho vay chiết khấu (cửa sổ chiết khấu).
b, Cơ chế tác động
Khi NHTW tăng (giảm) lãi suất tái chiết khấu sẽ hạn chế (khuyến khích) việc các NHTM
vay tiền tại NHTW làm cho khả năng cho vay của các NHTM giảm (tăng) từ đó làm cho
mức cung tiền trong nền kinh tế giảm (tăng). Mặt khác khi NHTW muốn hạn chế NHTM
vay chiết khấu của mình thì thực hiện việc khép cửu sổ chiết khấu lại.
c, Ưu điểm, nhược điểm
* Ưu điểm:
- Chính sách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng đối
với các NHTM khi các NHTM gặp khó khăn trong thanh toán, và có thể kiểm soát được
hoạt động tín dụng của các NHTM.
- Đồng thời có thể tác động tới việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế thông
qua ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ thể.
* Nhược điểm:
- Hiệu quả của công cụ này còn phụ thộc vào hoạt động cho vay của các NHTM.
- Mặt khác, lãi suất tái chiết khấu có thể làm méo mó, sai lệch thông tin về cung cầu vốn
trên thị trường.
- Là công cụ thụ động của NHTW vì yếu tố chủ động vay và không vay nằm ở NHTM
tức là NHTW phải chờ NHTM đang cần vốn đưa thương phiếu, kỳ phiếu đến để xin tái
cấp vốn.
- Nếu NHTW tăng lãi suất chiết khấu quá cao thì các NHTM có thể tìm đến các nguồn
vay khác với lãi suất thấp hơn như tại các ngân hàng khác của nước ngoài.


1.3.3. Nghiệp vụ thị trường mở
a, Khái niệm
Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thực hiện trên thị trường mở nhằm
tác động tới cơ số tiền tệ qua đó điều tiết lượng tiền cung ứng.
Là công cụ linh hoạt nhất, quan trọng nhất.
b, Chủ thể tham gia
Chủ thể tham gia nghiệp vụ thị trường mở rất đa dạng và phong phú. Tuy vậy, cũng tùy
thuộc vào quy định riêng của mỗi quốc gia mà các thành viên tham gia vào nghiệp vụ thị
trường mở là khác nhau. Thông thường chủ thể tham gia bao gồm NHTW, các tổ chức tín
dụng, các tổ chức phi tín dụng, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân… nhưng không phải
tất cả các chủ thể đều có thể tham gia mà phải có những điều kiện cần thiết. Có 3 điều
kiện để xem xét phạm vi thành viên, đó là:
- Thứ nhất: NHTW muốn can thiệp trực tiếp vào lượng tiền cung ứng bao gồm cả tiền
mặt và tiền gửi, về mặt lý thuyết thành viên tham gia mua bán trong trường hợp này được
mở rộng không chỉ gồm các tổ chức tín dụng mà còn gồm các tổ chức khác, thậm chí có
thể cả các cá nhân nếu họ có tiền mặt và tiền gửi.
- Thứ hai: Nếu cơ sở pháp lý cho phép các tổ chức tín dụng hoạt động theo hướng đa
năng như hệ thống tổ chức tín dụng của Việt Nam hiện nay thì phạm vi thành vieentham
gia mở rộng đến tổ chức tín dụng là đủ.
- Thứ ba: Khả năng chuyển tải của hệ thống thanh toán. Nếu cá nhân không có sec hoặc
tiền trên tài khoản gửi tại NHTW thì không thể tham gia mua bán được trên thị trường
mở, nếu tổ chức tín dụng không có mạng kết nối với NHTW trong điều kiện giao dịch
trên mạng thì cũng không thể trở thành thành viên.
c, Cơ chế hoạt động
- Việc mua bán chứng khoán của NHTW ảnh hưởng tới dự trữ của NHTM thông qua tác
động đến tiền gửi của NHTM tại NHTW và tiền gửi của khách hàng tại NHTM.
- Việc mua bán chứng khoán của NHTW còn tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường.
Ví dụ:
+ Khi NHTW thay mặt chính phủ đưa chứng khoán ra thị trường sơ cấp để phát hành,
nhân dân và các tổ chức đem tiền mặt đến mua chứng khoán. Đó là nghiệp vụ bán trên thị
trường mở của NHTW. Như vậy với nghiệp vụ này NHTW đã hút bớt một lượng tiền ra
khỏi lưu thông hoặc làm cho dự trữ của các TCTD giảm làm giảm khối lượng cho vay tín
dụng của các TCTD; qua đó ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ, số nhân tiền tệ làm lượng tiền
cung ứng MS giảm và lãi suất trên thị trường tăng.
+ Ngược lại với nghiệp vụ bán là nghiệp vụ mua, nếu NHTW muốn phát hành tiền vào
lưu thông qua thị trường mở, nó đơn giản dùng tiền mặt mua chứng khoán trên thị trường
thứ cấp hoặc của các tổ chức tín dụng. Khi cá nhân hay tổ chức bán chứng khoán cho
NHTW, chứng khoán về tay NHTW ngược lại tiền mặt trong nền kinh tế tăng. Như vậy
khi mua chứng khoán trên thị trường mở, NHTW đã thêm một lượng tiền vào lưu thông
làm tăng lượng tiền cung ứng và làm lãi suất thị trường giảm.
d) Ưu điểm, nhược điểm
* Ưu điểm:
- Nghiệp vụ thị trường mở phát sinh theo ý tưởng chủ đạo của NHTW, trong đó NHTW
hoàn toàn kiểm soát được khối lượng giao dịch. Tuy nhiên việc kiểm soát này là gián tiếp
không nhận thấy được. Ví dụ trong nghiệp vụ chiết khấu NHTW có thể khuyến khích
hoặc không khuyến khích các NHTM, chỉ thông báo lãi suất chiết khấu , mà không kiểm
soát trực tiếp khối lượng cho vay chiết khâú.
- Nghiệp vụ thị trường mở tương đối linh hoạt và chính xác, có thể sử dụng ở bất kỳ mức
độ nào. Khi muốn thay đổi về dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ của các ngân hàng trung gian ở
biên độ nhỏ, NVTTM có thể đạt được bằng cách mua hoặc bán một lượng nhỏ chứng
khoán. Ngược lại, nếu có yêu cầu thay đổi dự trữ của các ngân hàng trung gian ở biên độ
nhỏ, NHTW cũng có đủ khả năng thực hiện thông qua việc mua hoặc bán một khối lượng
lớn tương ứng các chứng khoán.


- Nghiệp vụ thị trường mở dễ dàng đảo chiều: nếu NHTW có mắc sai sót nào trong quá
trình thực hiện nghiệp vụ thị trường mở, thì có thể ngay tức khắc sửa sai sót đó bằng các
nghiệp vụ bán (nếu như trước đó mua vào quá nhiều) hay mua (nếu như lúc đó bán ra quá
nhiều ).
- Nghiệp vụ thị trường mở có tính an toàn cao: giao dịch trên thị trường mở hầu như
không gặp rủi ro, xét trên cả góc độ của NHTW hay NHTM; vì cơ sở bảo đảm cho các
giao dịch trên thị trường mở đều là những giấy tờ có giá, có tính thanh khoản cao, không
rủi ro tài chính.
- Nghiệp vụ thị trường mở có thể thực hiện một cách nhanh chóng không vấp phải sự
chậm trễ của các thủ tục hành chính: khi NHTW muốn thay đổi lượng tiền cung ứng thì
chỉ cần đưa ra yêu cầu cho các nhà giao dịch chứng khoán và sau đó việc mua bán sẽ
được thực hiện ngay.
* Nhược điểm:
- Các NHTW không nhất thiết phải tăng hoặc giảm lượng cung ứng tín dụng và đầu tư
khi dự trữ tăng lên hay giảm đi do các tác động của nghiệp vụ thị trường mở. Vì có một
số yếu tố ngăn cản các NHTM sử dụng tối đa dự trữ thừa cho việc MR tín dụng : nhu cầu
trả nợ NHTM, nhu cầu sử dụng tiền mặt tăng...
- Khi lãi suất tiền tệ giảm, không nhất thiết khối lượng tín dụng tăng lên tương ứng. Điều
này còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, mức RR...
- Vì được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào các chủ thể
khác tham gia trên thị trường.
- Để sử dụng công cụ này có hiệu quả thì cần phải có sự phát triển đồng bộ của thị trường
tiền tệ, vốn.
1.3.4. Hạn mức tín dụng
a) Khái niệm
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời gian nhất định mà
ngân hàng và khách hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
b) Chủ thể tham gia
Áp dụng cho khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên và được ngân hàng tín nhiệm.
Thường khi cho vay loại này ngân hàng yêu cầu đảm bảo tín dụng.
c) Cơ chế tác động
Đây là một công cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với lượng tiền cung ứng, việc quy
định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nên kinh tế có quan hệ thuận chiều với
quy mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM.
d) Ưu điểm, nhược điểm
* Ưu điểm:
- Thủ tục đơn giản, khách hàng chủ động được nguồn vốn vay, lãi vay trả cho ngân hàng
thấp.
- Giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi các công cụ khác kém
hiệu quả. Đặc biệt có tác dụng nhất thời cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ
lệ làm pháp quá cao của nền kinh tế.
* Nhược điểm:
Ngân hàng dễ bị ứ đọng vốn kinh doanh, thu nhập từ lãi cho vay thấp. Làm giảm hiệu quả
phân bổ vốn trong nền kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoài sự kiểm soát
của NHTW.
1.3.5. Lãi suất
a) Khái niệm:
- Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn, việc thay đổi lãi suất sẽ kéo theo sự biến đổi
của chi phí tín dụng, từ đó tác động đến việc thu hẹp hay mở rộng khối lượng tín dụng
trong nền kinh tế. Do đó, lãi suất là một trong các công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ.
- Là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam trong
ngắn hạn.
Theo luật Ngân hàng nhà nước, lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho đồng Việt Nam do ngân


hàng nhà nước công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh.
b) Cơ chế tác động:
- Việc điều chỉnh lãi suất tăng hay giảm sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô huy động và
cho vay của các NHTM làm cho lượng tiền cung ứng thay đổi theo.
c) Ưu điểm, nhược điểm
* Ưu điểm: Giúp NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của từng
thời kỳ.
* Nhược điểm: Dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì thực chất
lãi suất là giá cả của vốn, do vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu về
vốn trong nền kinh tế. Mặt khác, việc thay đổi quy định điều chỉnh lãi suất làm cho các
NHTM bị động, tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình.
1.3.6. Tỷ giá hối đoái
Là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và ngoại tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của đồng
nội tệ, vừa biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại hối.
Tỷ giá hối đoái là công cụ là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất
nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước.
Chính sách tỷ giá hối đoái tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập
khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu
tư, dự trữ của đất nước.
Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay
đổi lượng tiền lưu thông. Tuy nhiên ở nhiều nước đặc biệt là các nước có nền kinh tế
đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ.
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2015
2.1. Thực trạng sử dụng các công cụ CSTT ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015
Bước sang năm 2011, kinh tế toàn cầu bắt đầu le lói phục hồi nhưng còn nhiều khó
khăn, tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế trong nước. Trong 6 tháng đầu năm, lạm
phát tăng 13,29% so với đầu năm và tăng 20% so cùng kỳ năm trước, gây khó khăn cho
nỗ lực kiềm chế lạm phát dưới 15% theo mục tiêu đề ra, thị trường bất động sản và
chứng khoán sụt giảm mạnh.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng để
kiểm soát lạm phát và hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an toàn hệ thống, thực hiện
mạnh mẽ các biện pháp điều hành nhằm kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng dưới
20% và điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho sản xuất, giảm tỉ trọng
dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất xuống 22% đến 30/6/2011 và xuống 16% đến
31/12/2011.
Nhờ đó, đến cuối năm 2011, tổng phương tiện thanh toán và tín dụng lần lượt tăng
khoảng 10% và 12%, các mức lãi suất trên thị trường đã được điều chỉnh phù hợp với
diễn biến kinh tế vĩ mô và chỉ đạo của Chính phủ. Việc tăng cường thanh tra, giám sát
và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm trần lãi suất huy động đã tạo điều kiện cho
việc giảm dần mặt bằng lãi suất huy động và cho vay trong những tháng cuối năm.
Trong đó, lãi suất cho vay nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu giảm 0,5-1%/năm và
dao động ở mức 14,5-17%/năm, thậm chí chỉ còn 13,5%/năm.
Tình hình kinh tế những tháng cuối năm đã có dấu hiệu cải thiện, GDP năm 2011 tăng
5,89%, lạm phát so cùng kỳ năm trước bắt đầu có dấu hiệu chững lại và giảm dần từ
mức 22% trong tháng 10/2011 xuống 20% trong tháng 11 và 18,13% trong tháng 12.
Để định hướng thị trường, ngay từ đầu năm 2012, NHNN đã đưa ra mục tiêu giảm lãi
suất huy động xuống còn 9-10%/năm vào cuối năm 2012, đồng thời đưa ra lộ trình giảm
trung bình mỗi quý 1%/năm. Từ tháng 5/2012, NHNN đã qui định trần lãi suất cho vay
ngắn hạn VND đối với lĩnh vực ưu tiên là nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công


nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao; trần lãi
suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên được điều chỉnh giảm từ
mức 15%/năm xuống 12%/năm, phù hợp với xu hướng giảm của trần lãi suất tiền gửi
VND.
Đến cuối năm 2012, lãi suất huy động VND giảm mạnh từ 3-6%/năm, lãi suất cho vay
giảm từ 5- 9%/năm so với cuối năm 2011 và trở về mức lãi suất của năm 2007. Lãi suất
cho vay ưu tiên giảm về mức 12%/năm, cho vay sản xuất kinh doanh khác và cho vay
tiêu dùng ở mức 12-15%/năm, riêng lãi suất cho vay đối với các khách hàng tốt chỉ còn
9-11%/năm. Tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng lần lượt khoảng 20% và 9%,
phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức thấp (6,8%), góp phần ổn định kinh tế vĩ
mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Trên cơ sở kết quả điều hành chính sách tiền tệ đã đạt được, và các mục tiêu do Quốc
hội và Chính phủ đề ra trong năm 2013 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản
xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt và đồng bộ các
công cụ chính sách tiền tệ, chủ động điều chỉnh lượng tiền trong lưu thông nhằm đảm
bảo ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và kiểm soát tiền tệ.
Đến cuối tháng 8/2013, tổng phương tiện thanh toán tăng 9,16% so với cuối năm 2012,
phù hợp với định hướng tăng 14-16% trong năm 2013, thanh khoản của hệ thống ngân
hàng được đảm bảo. Các mức lãi suất chủ chốt được điều hành theo hướng giảm dần,
góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Mặt bằng lãi suất VND
trong 8 tháng đầu năm đã giảm khoảng 2- 5%/năm so với đầu năm, trong đó lãi suất huy
động giảm 2-3%/năm, lãi suất cho vay giảm 3- 5%/năm và đã trở về mức lãi suất của
thời kỳ 2005-2006, các TCTD cũng chủ động giảm lãi suất đối với những khoản cho
vay còn tồn đọng.
Đến nay, trần lãi suất huy động đã giảm về mức 7%/năm và chỉ áp dụng đối với kỳ hạn
dưới 6 tháng, trần lãi suất cho vay đối với 5 lĩnh vực ưu tiên là 9%/năm, tỉ trọng những
khoản cho vay có lãi suất đến 13%/năm chiếm khoảng 74,97%.
Sau nhiều tháng tăng chậm, tín dụng bắt đầu có dấu hiệu khởi sắc, nhu cầu của doanh
nghiệp về vốn cho sản xuất kinh doanh đã tăng mạnh do nhu cầu tiêu thụ hàng hóa đã
cải thiện mạnh. Tính đến cuối tháng 8/2013, tín dụng cho nền kinh tế đã tăng 6,45% so
với đầu năm, khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 12% trong năm 2013 đang trở
thành hiện thực.
Đến cuối tháng 6/2014, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán khoảng
11,4%, giảm so với mức khoảng 12,4% vào cuối năm 2012-2013. Tỷ giá và thị trường
ngoại tệ và tỷ giá về cơ bản ổn định nhờ các giải pháp điều hành nhất quán, kết hợp
đồng bộ giữa chính sách tỷ giá, lãi suất và các công cụ chính sách tiền tệ, quản lý ngoại
hối và công tác truyền thông. Sau điều chỉnh tỷ giá của NHNN, tỷ giá giao dịch trên thị
trường liên ngân hàng đã dần ổn định trên mặt bằng giá mới nhưng mặt bằng này vẫn
thấp hơn so với mức trần quy định, thanh khoản thị trường vẫn được duy trì như trong
những tháng đầu năm. Nhờ tỷ giá ổn định, NHNN tiếp tục mua được ngoại tệ để nâng
dự trữ ngoại hối Nhà nước lên mức kỷ lục, khoảng 35 tỷ USD. Tín dụng tăng 3,52% so
với cuối năm 2013, trong đó có sự đóng góp từ việc tăng trưởng tín dụng ngoại tệ cao
(tín dụng ngoại tệ tăng 12,03%, tín dụng bằng VND tăng 2,17%).
Lãi suất của các khoản vay cũ tiếp tục được các tổ chức tín dụng giảm mạnh. Đến tháng
12/2014, dư nợ cho vay có lãi suất trên 15% chiếm 3,9% tổng dư nợ cho vay, giảm so
với tỷ trọng 6,3% cuối năm 2013, dư nợ có lãi suất trên 13%/năm chiếm 11,7% tổng dư
nợ cho vay, giảm so với tỷ trọng 19,72% cuối năm 2013.
Năm 2014 lạm phát giảm so với năm 2013 và là mức thấp nhất trong hơn một thập kỷ.
Tốc độ tăng giá tiêu dùng (tính theo năm) đã trượt về ngưỡng 2%, tính đến cuối năm
2014 CPI tăng khoảng 1,84%.
Năm 2015, tính đến ngày 21/12/2015, tổng phương tiện thanh toán tăng 13,55% so với
cuối năm trước, phù hợp với kinh tế vĩ mô, tiền tệ và các giải pháp điều hành của NHNN.
Mặt bằng lãi suất giảm nhưng huy động vốn vẫn tăng (đến ngày 21/12/2015, huy động


vốn tăng 13,59% so với cuối năm trước) tạo điều kiện cho các TCTD cung ứng vốn tín
dụng cho nền kinh tế. Mặt bằng lãi suất cho vay giảm khoảng 0,3-0,5%/năm so với cuối
năm trước (lãi suất ngắn hạn giảm khoảng 0,3%/năm, lãi suất trung và dài hạn giảm
khoảng 0,3-0,5%/năm), đưa mặt bằng lãi suất giảm khoảng 50% so với thời điểm cuối
năm 2011; Lãi suất huy động giảm khoảng 0,2-0,5%/năm và hiện ở mức tương đối thấp
nhưng lòng tin vào đồng Việt Nam tiếp tục được củng cố. Tỷ giá và thị trường ngoại tệ
tiếp tục được giữ ổn định, niềm tin vào đồng tiền Việt Nam được củng cố, tình trạng đôla
hoá trong nền kinh tế tiếp tục giảm, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của tổ chức, cá nhân
đều được đáp ứng đầy đủ, kịp thời. Tín dụng tăng 17,17% so với đầu năm, cao hơn mức
tăng của cùng kỳ các năm 2011-2014; với diễn biến này, ước cả năm tín dụng có thể đạt
khoảng 18%.
Kết quả tích cực của thị trường ngoại hối trong năm qua phản ánh sự điều hành chủ động
các giải pháp điều hành CSTT, linh hoạt điều chỉnh tăng 3% tỷ giá bình quân liên ngân
hàng và nới biên độ tỷ giá từ +1% lên + 3% nhằm ứng phó kịp thời với các tác động bất
lợi từ thị trường tài chính quốc tế; kết hợp với điều chỉnh lãi suất tiền đồng trên thị trường
liên ngân hàng hợp lý, mua bán ngoại tệ can thiệp thị trường, ban hành các quy định
nhằm ngăn chặn tình trạng găm giữ, đầu cơ ngoại tệ. Các động thái điều hành của NHNN
được Chính phủ và các tổ chức quốc tế ủng hộ và đánh giá cao.
2.2. Thành tựu điều tiết thị trường tiền tệ của NHNN Việt Nam giai đoạn 2011-2015
Điều hành lãi suất linh hoạt, bám sát mục tiêu bao trùm của CSTT, đảm bảo là công cụ
để kỳ vọng lạm phát, ổn định tỷ giá và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
Một số thay đổi trong điều hành lãi suất những năm qua luôn tuân thủ nguyên tắc không
gây ra những cú sốc thị trường, đảm bảo tính ổn định và thực hiện các mục tiêu kiểm soát
lạm phát, tăng trưởng kinh tế. NHNN đã có những đánh giá, nhận diện khá chính xác tình
hình để có được hướng điều hành hợp lý nhất. Khi mặt bằng lãi suất cho vay ở mức rất
cao, có thời điểm đã vượt 20%/năm, NHNN đã quyết định phải ổn định lại mặt bằng lãi
suất thông qua áp dụng cơ chế kiểm soát lãi suất trực tiếp (quy định trần lãi suất huy động
và trần lãi suất cho vay). Việc áp dụng trần lãi suất huy động đã giúp giảm động cơ cạnh
tranh không lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng, hỗ trợ siết chặt kỷ luật thị trường.
Trong khi đó, việc quy định trần lãi suất cho vay, đặc biệt đối với lĩnh vực ưu tiên, góp
phần gia tăng cơ hội tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp.
Bên cạnh những ứng biến linh hoạt trong việc sử dụng công cụ trần lãi suất, các mức lãi
suất chính sách cũng có những bước chuyển biến căn bản theo hướng chủ động, dẫn dắt
thị trường và được điều chỉnh linh hoạt trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô và tiền
tệ trong từng thời kỳ. Điều này đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công
nhiệm vụ giảm mặt bằng lãi suất để tháo gỡ khó khăn về chi phí vay vốn cho doanh
nghiệp, nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát được lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ.
Điều hành tỷ giá ổn định, hỗ trợ tích cực cho công tác kiểm soát, kiềm chế lạm phát
Hàng năm, NHNN đã chủ động công bố định hướng điều hành tỷ giá giao động trong
khoảng 1%-3% mỗi năm (mức điều chỉnh không quá 1% trong các tháng cuối năm 2011,
không quá 2%-3% trong năm 2012 và 2013; không quá 1%-2% trong năm 2014, không
quá 2% trong năm 2015) nhằm tăng cường tính minh bạch, định hướng thị trường, đồng
thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh
doanh. Tần suất điều chỉnh tỷ giá cũng giảm dần so với giai đoạn trước. chỉnh quân liên
ngân hàng 9,3%/năm vào giữa tháng 2/2011 (trong bối cảnh thị trường ngoại tệ căng
thẳng kéo dài do tác động của giá vàng thế giới và lạm phát tăng cao), mỗi năm tiếp theo
tỷ giá được điều chỉnh tăng nhẹ qua các năm (1%-2%/năm), ngoại trừ năm 2015 sau sự
kiện phá giá đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc và kỳ vọng điều chỉnh tăng lãi suất điều
hành của Fed.
Trong quá trình điều hành, bên cạnh các biện pháp trực tiếp như công bố tỷ giá giao dịch
bình quân liên ngân hàng, các kỹ thuật can thiệp thị trường, NHNN đã chủ động phối hợp


đồng bộ với các công cụ điều tiết tiền tệ để hạn chế tối đa các áp lực tác động đến ổn định
của tỷ giá. Theo đó, NHNN đã chú trọng điều hành công cụ lãi suất, gồm cả lãi suất nội tệ
và lãi suất ngoại tệ phù hợp với diễn biến của kinh tế vĩ mô, đảm bảo lợi ích nắm giữ
đồng nội tệ, khuyến khích công chúng chuyển từ nắm giữ USD sang VND.
Ngoài ra, NHNN cũng tích cực sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở (OMO) trong
việc điều tiết mức cung tiền một cách nhịp nhàng để hỗ trợ và đảm bảo thanh khoản hợp
lý, nhằm hạn chế sự dịch chuyển của dòng tiền, đặc biệt vào thời điểm tỷ giá có biến
động và thanh khoản hệ thống dư thừa.
Tăng cường vai trò quản lý nhà nước trong hoạt động kinh doanh và đầu tư vàng, tạo
điều kiện cho thị trường hoạt động thông suốt
NHNN đã nỗ lực trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý điều tiết hoạt động kinh doanh
và đầu tư vàng, trong đó ghi dấu ấn quan trọng nhất là việc tham mưu cho Chính phủ ban
hành khuôn khổ pháp lý mới về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định
24/2012/NĐ-CP, ngày 03/04/2012 để thay thế Nghị định 174 về quản lý thị trường vàng).
Nghị định 24 đã tạo lập khuôn khổ pháp lý mới nhằm tổ chức, sắp xếp lại thị trường
vàng, giao cho NHNN cấp phép đối với hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng; tổ
chức sản xuất vàng miếng; tổ chức xuất khẩu vàng nguyên liệu, nhập khẩu vàng nguyên
liệu để sản xuất vàng miếng và tổ chức huy động và mua, bán vàng miếng.
Những thay đổi về mặt pháp lý như trên đã đáp ứng sự thay đổi của thực tiễn, tăng cường
hiệu quả quản lý nhà nước, hạn chế tác động bất lợi của hoạt động kinh doanh vàng đến
CSTT, tỷ giá, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và đó cũng chính là bước
tiến quan trọng trong lộ trình chống vàng hóa trong nền kinh tế.
Trên cơ sở pháp lý mới ban hành, NHNN cũng đẩy nhanh việc chuyển quan hệ huy độngcho vay
vàng sang quan hệ mua, bán vàng trên thị trường, đấu thầu vàng thông qua việc
chỉ đạo đẩy nhanh việc tất toán số dư huy động vàng và giảm số dư cho vay vốn bằng
vàng; giám sát chặt chẽ việc tổ chức tín dụng thực hiện lộ trình tất toán số dư cho vay
vốn bằng vàng. Nhờ vậy, thị trường vàng ngày càng đi vào ổn định, tự điều tiết theo quy
luật cung cầu; không còn các “cơn sốt” vàng gây bất ổn kinh tế ngay cả khi giá vàng thế
giới có biến động, tình trạng “vàng hóa” từng bước được ngăn chặn, qua đó góp phần ổn
định thị trường ngoại hối và kinh tế vĩ mô.
Đến tháng 4/2015, các tổ chức tín dụng đã giảm dần số dư cho vay bằng vàng, dư nợ cho
vay vàng của toàn hệ thống (giảm 90% so với ngày 30/4/2012). Điều đó đã loại bỏ toàn
bộ rủi ro liên quan đến sự biến động giá vàng và chấm dứt tình trạng vàng hóa trong hệ
thống tổ chức tín dụng.
Chính sách tín dụng theo hướng tháo gỡ khó khăn cho khu vực sản xuất, kinh doanh, hỗ
trợ đắc lực chuyển dịch cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Trong vòng 2 năm 2010, 2011, trước hai thách thức lớn của nền kinh tế là lạm phát cao
và khu vực sản xuất gặp nhiều khó khăn, NHNN đã mạnh dạn áp dụng cơ chế điều hành
mới là xây dựng và công bố chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hàng năm thay cho việc các tổ
chức tín dụng sẽ tự quyết trong giai đoạn trước. Cơ chế quản lý này đã góp phần kiểm
soát mức tăng trưởng tín dụng phù hợp với quản lý kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tích cực cho mục
tiêu kiềm chế và kiểm soát lạm phát. Đồng thời, chính sách này cũng phù hợp với năng
lực của từng tổ chức tín dụng để vừa có thể đảm bảo an toàn của hệ thống các tổ chức tín
dụng, vừa từng bước tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Để có thể tập trung vốn cho những khu vực quan trọng, hạn chế vốn chảy vào các khu
vực “bong bóng”, NHNN đã thay đổi và có cách tiếp cận mới đối với thị trường tín dụng.
Cụ thể, NHNN đã quy định rõ những lĩnh vực không khuyến khích và các lĩnh vực ưu
tiên để các tổ chức tín dụng chủ động kế hoạch cung ứng vốn cho phù hợp. Đó là việc
đưa lĩnh vực bất động sản và cho vay tiêu dùng ra khỏi danh mục của nhóm lĩnh vực
không khuyến khích. Điều này tạo cơ sở quan trọng để phục hồi thị trường bất động sản,
là “phao cứu trợ” cho các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất liên quan
đến bất động sản và làm hồi sinh trở lại dòng vốn của ngân hàng vào khu vực này.
Ngoài ra, NHNN cũng định hướng các tổ chức tín dụng xây dựng chính sách phải hướng


tới khách hàng của mình nhiều hơn, phải có các chính sách tín dụng mang tính tổng thể,
phù hợp với từng lĩnh vực ngành nghề sản xuất. Chính vì thế, giai đoạn vừa qua đã chứng
kiến sự ra đời của nhiều chính sách tín dụng mang tính đặc thù, như “gói” tín dụng cho
vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ; chính sách tín dụng đặc thù
đối với các ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ lực của nền kinh tế hoặc có liên quan đến đời
sống của người dân (chương trình cho vay tạm trữ lúa gạo, chương trình cho vay theo vụ
mùa, chương trình tín dụng dành cho cá tra, tôm, cho vay tái canh cây cà phê giai đoạn
2014–2020; cho vay đóng mới và nâng cấp tàu khai thác hải sản xa bờ,…); triển khai
chương trình thí điểm cho vay đối với mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao trong
nông nghiệp...
Ngoài ra, để tháo gỡ khó khăn cho khu vực sản xuất kinh doanh, NHNN đã chỉ đạo các tổ
chức tín dụng xem xét cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi suất cho khách hàng, tiếp tục cho vay
mới để có vốn tiếp tục sản xuất, vượt qua khó khăn. Đây là những hỗ trợ hết sức cần thiết
và kịp thời để giúp doanh nghiệp giảm áp lực trả nợ và có nguồn lực tài chính cho chu kỳ
sản xuất mới.
Và những tác động đến nền kinh tế
Với các giải pháp điều hành tiền tệ thận trọng, linh hoạt và có nhiều đổi mới sáng tạo,
chính sách của NHNN đã truyền dẫn hiệu quả đến nền kinh tế. Kết quả đó được thể hiện
rõ nét qua từng năm với những dấu ấn đáng ghi nhận, cụ thể:
Tỷ lệ lạm phát được kiềm chế, giảm đều và hiện đang ở mức thấp
Tỷ lệ lạm phát sau khi tăng cao trong nửa đầu năm 2011 đã giảm xuống và diễn biến ổn
định cho tới nay. Cụ thể, từ mức đỉnh 18,13% năm 2011 xuống còn 6,81% năm 2012,
6,04% năm 2013 và dưới 2% giai đoạn 2014-2015. Ngoài ra, tăng trưởng cung tiền và tín
dụng kể từ năm 2012 đến nay không tạo áp lực tăng lạm phát như những thời kỳ trước đó
do đã được tập trung hướng vào các lĩnh vực sản xuất trọng tâm của nền kinh tế.
Lãi suất nhanh chóng hạ nhiệt, hỗ trợ hợp lý cho khu vực sản xuất
Tính cho đến thời điểm hiện tại, mặt bằng lãi suất cho vay trung và dài hạn bằng khoảng
47% so với cuối năm 2011 và tương đương mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006 (giai
đoạn kinh tế phát triển ổn định), góp phần hỗ trợ giảm chi phí vốn vay của doanh nghiệp
và hộ dân. Với những nỗ lực trong công tác điều hành lãi suất, chỉ trong thời gian ngắn,
lãi suất cho vay đã giảm hơn một nửa, từ 20%/năm (thậm chí 24%/năm) xuống chỉ còn
9%-11% và còn khoảng 6,5%/năm đối với các lĩnh vực ưu tiên.
Bên cạnh các khoản vay mới với lãi suất thấp, NHNN cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng
đưa lãi suất của các khoản vay cũ về mức 15%/năm và sau đó là 13%/năm, góp phần tháo
gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và tạo điều kiện giải phóng kênh tín dụng.
Bên cạnh đó, lãi suất cho vay USD cũng được điều hành giảm ổn định theo hướng không
để tồn tại khoảng cách chênh lệch đáng kể với lãi suất cho vay VND, hiện lãi suất cho
vay USD ngắn hạn ở mức 3%-5,5% và dài hạn từ 5,5%-6,7%.
Có thể nói, với mặt bằng lãi suất hiện nay đã góp phần làm giảm giá thành sản phẩm,
tăng thêm khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường và bước
đầu đã tháo gỡ hàng tồn kho để chuẩn bị chu kỳ sản xuất mới.
Tăng trưởng tín dụng hợp lý, đạt được mục tiêu điều hành, phù hợp với tốc độ tăng
trưởng kinh tế hàng năm.
Nếu như trong năm 2011, NHNN phải nhanh chóng áp dụng các chính sách chặt chẽ để
kiềm chế tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức cao trên 30% xuống còn trên 14% để hỗ trợ
công tác kiểm soát lạm phát, thì ngay trong năm 2012 khi tăng trưởng tín dụng có dấu
hiệu "ngưng trệ" ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế, NHNN đã nhanh chóng thay đổi mục
tiêu điều hành theo hướng tăng trưởng tín dụng nhưng thận trọng. Điều này nhằm đáp
ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, song phải theo nguyên tắc đảm bảo chất lượng tín dụng,
hạn chế phân bổ vốn vào khu vực không khuyến khích có nguy cơ gây ra lạm phát cao và
tăng trưởng thiếu bền vững trong tương lai. Nhờ đó, tăng trưởng tín dụng đã có sự phục
hồi qua các năm, cụ thể: năm 2012 là 8,85%; năm 2013 là 12,51%; năm 2014 là 14,16%;
6 tháng đầu năm 2015 tăng 7,83%. Trong giai đoạn này, tín dụng tăng bình quân khoảng


13%/năm, thấp hơn so với mức tăng bình quân 33,3%/năm giai đoạn 2006-2010, nhưng
tăng trưởng kinh tế vẫn đạt mức hợp lý.
Ngoài ra, cơ cấu tín dụng có sự chuyển hướng tích cực sang các lĩnh vực ưu tiên theo
đúng chỉ đạo của Chính phủ, tốc độ tăng trưởng tín dụng trong các lĩnh vực ưu tiên trong
giai đoạn 2012–2015 nhìn chung cao hơn so với tốc độ tăng trưởng chung của toàn
ngành, như: nông nghiệp nông thôn có tốc độ tăng trưởng bình quân tín dụng giai đoạn
2011–2014 đạt 15%/năm; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tăng trên 20%/năm;
Công nghiệp ưu tiên phát triển tốc độ, tăng xấp xỉ 12%. Sự chuyển hướng tích cực của cơ
cấu tín dụng như vậy đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu đổi mới mô
hình tăng trưởng kinh tế.
Tỷ giá và thị trường ngoại hối ổn định góp phần cải thiện cán cân thanh toán tổng thể,
tăng dự trữ ngoại hối nhà nước, nâng cao vị thế đồng tiền Việt Nam, hỗ trợ tích cực cho
lộ trình chống đô la hóa
Nhu cầu ngoại tệ hợp lý, hợp pháp của doanh nghiệp và cá nhân được các tổ chức tín
dụng đáp ứng đầy đủ do các nguồn ngoại tệ được tập trung vào hệ thống các tổ chức tín
dụng. Nếu như trước đây tỷ giá thường xuyên biến động, ảnh hưởng không tốt đến tâm lý
của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, thì từ cuối năm 2011 đến nay, điều hành tỷ giá đã
luôn nằm trong định hướng chỉ đạo của NHNN. Chênh lệch tỷ giá của thị chính thức và
thị trường tự do thu hẹp đáng kể. Trong diễn biến của thị trường, những xáo trộn xuất
hiện chủ yếu do yếu tố tâm lý và đã nhanh chóng ổn định sau các biện pháp đồng bộ của
NHNN, vị thế và lòng tin vào đồng Việt Nam ngày càng được củng cố.
Đáng kể là tình trạng đô la hóa đã giảm mạnh, tỷ lệ giữa tiền gửi ngoại tệ/tổng phương
tiện thanh toán giảm từ trên 30% trong những năm 1990 xuống 15,8% cuối năm 2011,
đến nay còn khoảng 12%; Cán cân thanh toán tổng thể, đặc biệt là các cân thương mại đã
thặng dư trở lại sau nhiều năm nhập siêu; Lượng kiều hối gia tăng mạnh trở lại từ cuối
năm 2011; Dự trữ ngoại hối nhà nước gia tăng; NHNN đã mua được một lượng lớn ngoại
tệ để tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, góp phần tăng tiềm lực tài chính và uy tín của quốc
gia trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, diễn biến lạm phát có xu hướng giảm tốc đã giúp ổn
định tâm lý thị trường, kỳ vọng về sự giảm giá VND được hạn chế, khắc phục phần nào
hiện tượng găm giữ đầu cơ ngoại tệ trong giai đoạn trước.
Những thành tựu đạt được cho thấy giai đoạn 2011-2015 là giai đoạn thành công trong
việc điều hành CSTT của NHNN Việt Nam. Từ đó, CSTT đã có đóng góp quan trọng
trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát cả năm ở mức thấp khoảng 1- 2%, đánh
dấu thời kỳ ổn định lạm phát dài nhất trong một thập kỷ qua, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng
kinh tế đạt trên 6,5% là mức cao nhất trong 5 năm gần đây.
Thị trường tiền tệ, hoạt động ngân hàng ổn định trở lại
Có thể nói, trong 5 năm qua, nhờ triển khai quyết liệt nhiều biện pháp nhằm ổn định thị
trường tiền tệ và ngân hàng, các yếu tố chính trên thị trường này như mặt bằng lãi suất và
tín dụng đã thay đổi tích cực. Đến nay, mặt bằng lãi suất huy động VND phổ biến ở mức
0,8-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,5-5,4%/năm đối
với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,4-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ
hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,4-7,2%/năm. Lãi suất
cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 6-9%/năm, lãi suất cho vay trung và dài hạn ở mức 911%/năm.
Lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên tiếp tục ổn định ở mức thấp (67%/năm đối với kỳ hạn
ngắn), các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục áp dụng lãi
suất cho vay trung và dài hạn phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 9-10%/năm.
Lãi suất cho vay đối với một số chương trình kinh tế trọng điểm giảm khoảng 0,50,6%/năm xuống
khoảng 6,5-6,6%/năm, nhằm hỗ trợ tốt hơn cho một số ngành lĩnh vực
đặc thù và các đối tượng chính sách. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 3-6,7%/năm;
trong đó lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 3-5,5%/năm, lãi suất cho vay trung,
dài hạn ở mức 5,5-6,7%/năm. Dòng vốn tín dụng tiếp tục được phân bổ hợp lý, tập trung
vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ, mang lại
hiệu quả thiết thực cho nền kinh tế.


Trong 5 năm 2011-2015, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, NHNN đã
thể hiện tính chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ trên cơ sở chỉ đạo của
Chính phủ, phù hợp với những thay đổi lớn của tình hình thực tế. Những kết quả đạt được
cho thấy, chính sách tiền tệ đã đóng góp quan trọng trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ
mô, lạm phát giảm dần, đánh dấu thời kỳ ổn định lạm phát dài nhất trong một thập kỷ
qua; GDP năm 2015 tăng 6,68%, mức cao nhất trong 8 năm qua. Hệ thống ngân hàng
được bảo đảm an toàn và phát triển bền vững, thanh khoản của TCTD được bảo đảm,
nguy cơ đổ vỡ hệ thống ngân hàng được đẩy lùi. Việc điều hành chính sách tiền tệ của
NHNN đã gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu
quả của nền kinh tế. Năm 2015 đánh dấu năm thứ 4 liên tiếp ngành ngân hàng hoàn thành
tốt các chỉ tiêu do Đảng, Nhà nước và Chính phủ đề ra, góp phần thực hiện thành công kế
hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2015 của đất nước.
Trong thời gian tới, NHNN tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối
hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và những chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm
soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng
trưởng kinh tế ở mức hợp lý. Điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ
mô, lạm phát, thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế, góp phần mở rộng tín dụng đối với
nền kinh tế. Thường xuyên theo dõi và đánh giá tình hình kinh tế thế giới, đặc biệt là tác
động của đà suy giảm tăng trưởng kinh tế tại nhiều nền kinh tế mới nổi trên thế giới, tác
động của giá dầu và các loại hàng hóa trên thị trường quốc tế.
CHƯƠNG III:
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
3.1. Định hướng
Mặc dù đã đạt được kết quả tích cực trên nhiều mặt, song trong bối cảnh kinh tế thế
giới diễn biến phức tạp và khó lường; kinh tế trong nước ngày càng hội nhập sâu rộng
vào nền kinh tế thế giới nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, do đó, công tác điều hành
CSTT năm 2015 vẫn tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn, thách thức cần phải
được xử lý trong thời gian tới.
Trước tiên là những thách thức đến từ diễn biến phức tạp của nền kinh tế thế giới.
Trong giai đoạn, mặc dù kinh tế thế giới dự báo đã có nhiều dấu hiệu khởi sắc, đặc biệt
là sự hồi phục của các nền kinh tế đầu tàu. Tuy nhiên, những thách thức lớn của kinh tế
toàn cầu sau khủng hoảng chưa được giải quyết một cách bền vững, cụ thể như tỷ lệ thất
nghiệp vẫn còn cao, chính sách nợ công tại một số quốc gia vẫn chưa được thống nhất,
các gói nới lỏng định lượng vẫn tiếp tục được duy trì, rủi ro vẫn còn tiềm ẩn trên phần
lớn các thị trường, bất ổn chính trị - xã hội và tình hình thiên tai diễn biến phức tạp...
Điều đó có thể tác động bất lợi đến hoạt động thương mại trong nước, đến sự dịch
chuyển của các dòng vốn đầu tư... nên vẫn có thể tạo ra những áp lực đối với công tác
quản lý ngoại hối, đặc biệt khi các nền kinh tế mới nổi tập trung phát triển với cơ chế tỷ
giá linh hoạt hơn.
Bên cạnh đó, Việt Nam đang tiếp tục hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế
thế giới thông qua việc ký kết các hiệp định hợp tác quốc tế song phương và đa phương
mà trước mắt là Hiệp định đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), có
thể dẫn đến những thay đổi cần thiết trong quan điểm, nguyên tắc điều hành các chính
sách quản lý kinh tế.
Tiếp đến là những thách thức đến từ diễn biến kinh tế trong nước: Kinh tế vĩ mô có
những dấu hiệu tích cực, song chuyển biến còn chậm, chưa ổn định, vững chắc. Tăng
trưởng tiềm năng của Việt Nam đang có xu hướng giảm dần, tăng trưởng kinh tế trong
hai năm trở lại đây chủ yếu dựa vào xuất khẩu trong khi nhu cầu trong nước phục hồi
chậm, sức mua còn yếu, lạm phát tuy đã được kiểm soát nhưng còn tiềm ẩn nguy cơ
tăng cao trở lại…
Bên cạnh đó, dòng vốn tín dụng còn chưa thông suốt, nợ xấu còn ở mức cao, khó khăn
của thị trường bất động sản chưa thể giải quyết và đặc biệt là áp lực bội chi ngân sách


ngày càng lớn,… đã trở thành những thách thức lớn cho công tác điều hành CSTT trong
năm 2015 nói chung và đặc biệt là sẽ tạo ra áp lực trong công tác quản lý tín dụng của
NHNN. Những thách thức này sẽ buộc NHNN phải theo đuổi cùng một lúc nhiều mục
tiêu trong quá trình điều hành chính sách, đặc biệt là việc phải tập trung theo đuổi các
mục tiêu ngắn hạn như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong khi khả năng hỗ trợ của
chính sách tài khóa ngày càng yếu đã tạo ra nhiều khó khăn cho NHNN trong việc theo
đuổi mục tiêu quan trọng nhất của CSTT là ổn định giá cả, thể hiện ở mức lạm phát thấp
và ổn định trong trung và dài hạn.
Cuối cùng là những thách thức của quá trình tái cấu trúc: Trong hai năm vừa qua, mặc
dù đã đạt được những kết quả bước đầu trong việc thực hiện chương trình tái cấu trúc
các TCTD giai đoạn 2011 - 2015, song đó mới chỉ là việc giải quyết những khó khăn
trước mắt. Còn những vấn đề cốt lõi của chương trình tái cấu trúc như giải quyết triệt để
nợ xấu, tăng cường năng lực quản trị điều hành sau tái cơ cấu, thay đổi cấu trúc sở hữu,
đặc biệt là khắc phục vấn đề sở hữu chéo vẫn đang trong thời gian khởi động… chưa
thật sự dẫn đến những thay đổi về chất.
Bên cạnh đó, khuôn khổ pháp lý cho việc tái cơ cấu các tổ chức tín dụng chưa được
hoàn thiện, đặc biệt là cơ chế mua bán nợ xấu, quy chế điều tiết thống nhất các hoạt
động mua bán, sáp nhập (M&A),.. nguồn lực tài chính công còn hạn chế, nguồn lực tài
chính bên ngoài chưa có cơ chế phù hợp để thu hút; quá trình tái cơ cấu trong lĩnh vực
đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước chưa có nhi ều khởi sắc,… sẽ tiếp tục ảnh hưởng
đến tiến độ và tính hiệu quả của chương trình tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng
giai đoạn 2011 - 2015.
Những thách thức chính yếu trên đòi hỏi NHNN tiếp tục phải kiên định với mục tiêu
điều hành, phải tăng cường phối hợp chặt chẽ và đồng bộ hơn nữa với các Bộ, ngành,
phải có những chiến lược mạnh mẽ và nỗ lực cao hơn để giải quyết thành công những
thách thức. Trên cơ sở đó, bám sát mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 đã
được Quốc hội phê duyệt, với chỉ tiêu tăng trưởng đạt mức khoảng 5,8%; lạm phát (chỉ
số giá tiêu dùng - CPI) ở mức khoảng 7%. Do vậy, mục tiêu CSTT cần đạt được trong
năm 2016 là: tiếp tục theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát không vượt quá mục tiêu
Quốc hội phê chuẩn, ổn định tiền tệ và hệ thống các tổ chức tín dụng, góp phần ổn định
kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế.
Trong năm 2016, NHNN tiếp tục kiên định với mục tiêu kiểm soát lạm phát (dưới 5%),
ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý (khoảng 6,7%), đảm bảo an toàn
hệ thống, đây là điểm vô cùng quan trọng đã mang lại thành công trong điều hành chính
sách tiền tệ những năm vừa qua. Định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng
16-18%, dư nợ tín dụng tăng khoảng 18-20%; đồng thời căn cứ vào diễn biến, tình hình
thực tế để điều chỉnh phù hợp.
Theo đại diện Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN, các giải pháp điều hành sẽ được tập trung
vào các trọng tâm: Thứ nhất, theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ, tăng
cường công tác phân tích, thống kê, dự báo để kịp thời tham mưu, chủ động đề xuất các
giải pháp điều hành phù hợp; Thứ hai, chủ động điều hành linh hoạt, phối hợp đồng bộ
các công cụ chính sách tiền tệ theo phương châm nâng cao vị thế đồng Việt Nam; thực
hiện các giải pháp quản lý thị trường ngoại tệ, thị trường vàng để tiếp tục giảm tình trạng
đô la hóa, vàng hóa trong nền kinh tế. Thứ ba, thực hiện các giải pháp về tín dụng nhằm
kiểm soát quy mô tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng, tiếp tục theo phương châm
mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn, hiệu quả, đảm bảo an toàn hệ thống và thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế hợp lý. Tiếp tục tập trung nguồn vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất
kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Thứ tư, tăng
cường phối hợp với các chính sách vĩ mô khác, đặc biệt là chính sách tài khóa để chủ
động, kịp thời trong điều hành chính sách tiền tệ. Thứ năm, triển khai thực hiện tốt công
tác thông tin, truyền thông về các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và thực trạng
hoạt động ngân hàng.
Cụ thể hơn, NHNN sẽ điều hành lãi suất hài hòa với diễn biến lạm phát, tình hình kinh tế


vĩ mô, diễn biến thị trường tiền tệ, ngoại hối và cân đối lợi ích giữa ngân hàng- người gửi
tiền – người vay. Với khả năng lạm phát năm 2016 có thể cao hơn năm 2015, mặt bằng
lãi suất đến nay là tương đối phù hợp với định hướng lâu dài để ổn định lạm phát ở mức
dưới 5%. Do đó, thời gian tới, NHNN sẽ điều hành lãi suất chủ động, linh hoạt để điều
tiết lãi suất thị trường ở mức hợp lý, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hoạt động
ngân hàng. Về cơ bản năm 2016, NHNN sẽ điều hành lãi suất ổn định như hiện nay để hỗ
trợ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Về tỷ giá, NHNN đã thực hiện cơ chế điều hành tỷ giá mới, phù hợp với điều kiện kinh tế
thế giới có những biến động, tác động tới tâm lý trên thị trường tiền tệ, ngoại hối trong
nước. NHNN sẽ công bố tỷ giá trung tâm hàng ngày với biến động theo cả hai chiều lên
xuống để phản ánh sát hơn diễn biến của thị trường trong và ngoài nước nhằm hạn chế
những cú sốc từ bên ngoài cũng như loại bỏ dần tâm lý găm giữ, đầu cơ trên thị trường
ngoại tệ.
Tiếp tục thực hiện các giải pháp theo lộ trình tái cơ cấu các TCTD và xử lý nợ xấu theo
đề án đã được Chính phủ thông qua. Tăng cường công tác thanh tra, giám sát ngân hàng,
tiếp tục triển khai các biện pháp xử lý nợ xấu và kiểm soát nâng cao chất lượng tín dụng
theo Đề án đã được phê duyệt tại Quyết định 843 ngày 31/5/2013 của Thủ tướng Chính
Phủ trong đó đẩy mạnh việc xử lý nợ xấu theo cơ chế thị trường, nghiên cứu, hoàn thiện
mô hình VAMC,…
3.2. Giải pháp
Những kết quả từ điều hành của NHNN trong 5 năm qua là rất tích cực. Song trong giai
đoạn tới, diễn biến của kinh tế quốc tế và trong nước còn chưa ổn định, được dự báo sẽ
phức tạp hơn và rất khó lường. Để có thể bảo vệ được các thành quả đã tạo dựng, thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững phù hợp các mục tiêu vĩ mô đề ra trong giai đoạn 20162020,
NHNN Việt Nam nên tập trung vào một số giải pháp sau:
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện điều hành CSTT. Cần linh hoạt và kết hợp đồng
bộ các công cụ CSTT, sử dụng có hiệu quả các công cụ điều hành gián tiếp, phù hợp với
sự phát triển của thị trường; hoàn thiện chính sách lãi suất, điều hành hiệu quả lãi suất thị
trường hướng tới thực hiện mục tiêu của CSTT. Tăng cường phối hợp chặt chẽ CSTT với
chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, điều phối có hiệu quả các dòng luân
chuyển tiền tệ phục vụ đắc lực cho mọi hoạt động trong nền kinh tế.
Thứ hai, điều hành linh hoạt tỷ giá, ổn định thị trường ngoại hối, thị trường vàng. Tỷ giá
cần tiếp tục duy trì điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với
chính sách lãi suất, theo sát tín hiệu thị trường, phù hợp với cung-cầu ngoại tệ và diễn
biến kinh tế vĩ mô nhằm nâng cao vị thế đồng Việt Nam, tăng dự trữ ngoại hối, cải thiện
cán cân thanh toán. Thu hẹp phạm vi sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam và giảm
dần tình trạng đô la hóa, tiến tới thực hiện nguyên tắc trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng
đồng Việt Nam. Tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh vàng, tiếp tục triển khai các
giải pháp thực hiện lộ trình chống vàng hóa trong nền kinh tế, tiến tới huy động nguồn
lực vàng trong dân để phục vụ cho phát triển kinh tế.
Thứ ba, duy trì mức tăng trưởng tín dụng hợp lý để góp phần thực hiện mục tiêu kiểm
soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng, nâng cao chất lượng tín dụng và giảm nợ xấu. Tiếp tục
triển khai các giải pháp tín dụng theo hướng tháo gỡ khó khăn, đảm bảo cung ứng vốn
cho những ngành quan trọng. Khuyến khích phát triển đa dạng các hình thức huy động
vốn và các sản phẩm tín dụng, tạo môi trường thuận lợi để các tổ chức tín dụng phát triển
các dịch vụ mới, các công cụ phòng ngừa rủi ro, hỗ trợ các doanh nghiệp mở rộng hoạt
động.
Thứ tư, hoàn thiện thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, đảm bảo cho NHNN thực
hiện hiệu quả các mục tiêu đề ra. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tiền tệ, hoạt động
ngân hàng để hỗ trợ tái cơ cấu, xử lý nợ xấu và tạo cơ sở cho tổ chức tín dụng hoạt động
lành mạnh; hoàn thiện quy định pháp lý đối với hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng;
hoàn thiện khung pháp lý về an toàn của các tổ chức tín dụng...
Thứ năm, nâng cao chất lượng của hệ thống thông tin thống kê và dự báo. Đây là giải


pháp quan trọng phục vụ đắc lực hơn cho công tác điều hành chính sách tiền tệ, hoạt
động ngân hàng của NHNN và công tác quản lý của các NHTM, dần bắt kịp với sự tiến
bộ của hệ thống ngân hàng của các nước trong khu vực châu Á.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×