Tải bản đầy đủ

Ch i lich su PT thuy dien

MỤC LỤC
NỘI DUNG

Trang

Chương I. Thuỷ điện ở Việt Nam

1

I. Lịch sử phát triển Thuỷ điện

1

II. Phát điện Thuỷ điện ở Việt Nam

5

Chương II. Hệ thống phát điện Thuỷ điện

12


I. Thuỷ lực học

12

I.1 Trọng lượng, tỷ số nén và hệ số nhớt của nước

12

I.2 Áp lực nước

13

I.3 Nguyên lý liên tục

14

I.4 Cột áp lưu tốc

15

I.5 Định luật Becnuli

15

I.6 Tổn thất cột nước

16

II.Tính toán công suất của Nhà máy Thuỷ điện

18

III. Hệ thống phát điện Thuỷ điện

22

Chương III. Các thiết bị động lực trong NMTĐ

26


I. Tua bin nước

26

1. Các kiểu Tua bin nước

26

2. Phân loại Tua bin nước

26

3. Tên gọi các thành phần ký hiệu của Tua bin

29

II. Máy phát điện trong Nhà máy Thuỷ điện

31

II.1 Nguyên lý làm việc của MFĐ Thuỷ điện

31

II.2 Cấu tạo của MFĐ Thuỷ điện

37

II.3 Hệ thống kích thích

89

III. Máy điều tốc trong Nhà máy Thuỷ điện

112

1. Chức năng và nguyên lý làm việc của máy điều tốc

112

2 Phân loại máy điều tốc

114

IV. Một số các hệ thống thiết bị phụ khác

122

1. Van nước vào

122

2. Thiết bị cung cấp dầu áp lực

125

3. Hệ thống thoát nước

130

4. Hệ thống cấp khí nén

151


CHƯƠNG I: THUỶ ĐIỆN Ở VIỆT NAM
I. Lịch sử phát triển Thuỷ điện:
I.1 Lịch sử phát triển của Tua bin thuỷ lực:
Việc sử dụng năng lượng của nước được thực hiện từ xa xưa, tuy nhiên, các Tua
bin thuỷ lực là các mẫu xuất hiện đầu tiên được phát minh sau những năm 1800. Tua bin
Francis sử dụng cho hầu hết các cột áp trung bình được phát minh bởi “James Bicheno
Francis(1815-1892” ở Mỹ vào năm 1855 và Tua bin Pelton dùng cho cột áp cao được
phát minh bởi “Lester Allan Pelton(1829-1908)” ở Mỹ vào năm 1870, và Tua bin Kaplan
cho các cột áp thấp được phát minh bởi ”Victor Kaplan (1876-1934)” ở Úc vào năm
1912.
(1) Bánh xe nước trọng lực
Năng lượng của nước được sử dụng cho cuộc sống con người trong thời gian dài
trên 3000 năm. Người ta cho rằng nơi bắt đầu việc sử dụng năng lượng của nước là khu
vực dọc theo sông Nile ở Ai cập, sông Euphrates ở vùng Trung đông, hoặc sông Hoàng
giang ở Trung quốc. Tua bin thuỷ lực đầu tiên là loại dòng nước đẩy ở dưới bánh xe có
các cánh làm bằng gỗ được gắn vào vành tròn theo chiều như minh hoạ ở hình 1, và nó
được đặt nằm vào bên trong dòng chảy tự nhiên của dòng sông để sử dụng động năng của
dòng sông. Sau đó, Tua bin thuỷ lực loại dòng nước đẩy ở trên bánh xe được cải tiến từ
loại dòng nước đẩy ở dưới bánh xe đã được phát minh như minh hoạ ở hình 2 và nó sử
dụng thế năng của dòng nước để làm quay bánh xe. Hơn nữa, Tua bin thuỷ lực loại dòng
nước đẩy ở giữa bánh xe được cải tiến thêm từ loại dòng nước đẩy ở trên bánh xe đã
được phát minh và nó được sử dụng phổ biến ở Anh khoảng 100 năm trong thời gian từ
những năm 1780 đến 1870. Hiệu suất của Tua bin thuỷ lực loại dòng nước đẩy ở dưới
bánh xe, dòng nước đẩy ở trên bánh xe và dòng nước đẩy ở giữa bánh xe tương ứng là 28
- 32%, 60% và 70%. Ngày nay các Tua bin thuỷ lực dùng nguyên lý này được ứng dụng
để tưới tiêu nói chung hoặc dùng cho các công việc riêng.

Hình
Dòng
nướcđẩy
quay
Hình
1. 1.
Dòng
nước

Covernước
shot đẩy
wheel
HìnhFig.2
2. Dòng

Fig.3
Breastnước
wheel
Hình
3. Dòng
đẩy

ở dưới bánh xe

ở trên bánh xe

ở giữa bánh xe
1


(2) Tua bin phản kích
Tua bin thuỷ lực quay bởi phản lực của dòng nước được phát minh vào khoảng
năm 1725 và được cải tiến rất khác nhau. Vào năm 1841, ống hút đã được phát minh để
sử dụng có hiệu quả cột áp giữa bánh xe công tác và bề mặt thoát nước. Hơn nữa, nó tiếp
tục được nâng cao hiệu suất bằng việc gắn các cánh hướng vào mặt vỏ bên ngoài của
bánh xe công tác vào năm 1844. Năm 1855, J.B. Francis đã phát minh Tua bin Francis
minh hoạ trong hình 4 được trang bị với một buồng xoắn có các cánh hướng dùng cho
việc điều chỉnh lưu lượng xả. Kể từ đó Tua bin Francis có hiệu suất rất cao, nó lấn át các
loại Tua bin nước khác ngay tức khắc và được sử dụng rất rộng rãi.
Mặc dầu Tua bin Francis có thể được ứng dụng cho cả loại cột áp trung bình và
cột áp nhỏ song kích thước của Tua bin lớn. Xét về ứng dụng cho loại cột áp nhỏ, các
Tua bin nước loại mới đã được nghiên cứu liên tiếp. Vào đầu thế kỷ 20, Tua bin nước
loại dòng chảy hướng trục như minh hoạ trong hình 5 đã được phát minh bởi một nhà
nghiên cứu người Mỹ. Hơn nữa, vào khoảng năm 1912, V. Kaplan đã chuyển đổi cấu
trúc bánh xe công tác của Tua bin thành các cánh của bánh xe công tác có thể quay được
và đã thành công trong việc chế tạo Tua bin nước có thể có hiệu suất cao ở công suất
bình thường. Vì hiệu suất của Tua bin Kaplan rất cao từ công suất nhỏ hơn đến công suất
định mức nên Tua bin loại này được sử dụng rộng rãi cho cột áp sử dụng nhỏ.

Hình 4. Tua bin Francis

Hình 5. Tua bin Kaplan

(3) Tua bin xung kích
Tua bin hơi xung kích được phát minh ở Italy vào năm 1629 và tua bin này được
áp dụng cho tua bin thuỷ lực. L.A.Pelton đã nhiều lần cải tiến tua bin thuỷ lực này theo
các cách khác nhau ở California và đã phát triển thành Tua bin Pelton vào năm 1870
được minh hoạ trong hình 6. Tất cẩ các gáo ở phía trước của các tua bin xung kích là loại
một bát nhưng Pelton đã phát minh ra loại gáo có hai bát giống như cấu tạo của chúng
hiện nay trong lần đầu tiên và đã thành công trong việc nâng cao hiệu suất của Tua bin
2


xung kích bằng việc chia vòi phun dòng chảy theo cả hai hướng phải và trái. Mặc dầu
vậy, rất nhiều cải tiến cũng đã được thực hiện thêm và cũng đã thay đổi các dạng gáo
khác nhau. Đặc biệt, tua bin nước xung kích được chế tạo bởi Công ty tua bin thuỷ lực
Pelton ở San Francisco (Mỹ) có chất lượng rất tốt và sản phẩm của nó được sử dụng rộng
rãi.

Hình 6. Tua bin Pelton

I.2 Lịch sử phát triển của phát điện Thuỷ điện trên thế giới:
Nhà máy điện nơi mà năng lượng của nước được sử dụng để phát điện thuỷ điện
lần đầu tiên trên thế giới vào những năm 1870 là ở ngoại ô Paris và các nhà máy thuỷ
điện cũng đã xuất hiện ở Mỹ vào những năm 1870. Khi đó công ty Willamette Falls
Electric ở Mỹ đã lắp đặt máy phát điện xoay chiều đầu tiên (máy phát một pha 400V,
225kW) được chế tạo bởi công ty Westinghouse Electric. Sau đó các nhà máy thuỷ điện
có quy mô lớn đã được xây dựng ở Niagara Falls, ...
Giới thiệu những nét chính về sự phát triển của các nhà máy thuỷ điện trên thế
giới được minh hoạ trong bảng 1.
Bảng 1: Lịch sử phát triển của các nhà máy thuỷ điện trên thế giới

Tên NMTĐ

Nước

Công suất đặt (MW)

Năm

Canada

1,652

1932

Hoover

USA

2,452

1936

Grand Coulee

USA

6,494

1942

Russia

4,500

1961

Beauharnois

Bratsk

Ghi chú

Công suất ở năm 2000
là: 1,434 [MW]

3


Krasnoyarsk

Russia

6,000

1968

Italy

3,500

1970

Churchill Falls

Canada

5,428

1971

Ust-Ilim

Russia

4,320

1977

Tarbela

Pakistan

3,478

1977

Robert-Bourassa

Canada

5,328

1979

Sayano-Shushensk

Russia

6,400

1980

La Grande 3

Canada

2304

1982

Brazil/Paraguay

12,600

1983

Brazil

7,260

1983

Canada

2,650

1984

Venezuela

10,300

1986

China

18,200

2003

Alpe-Gera

Itaipu

Tucurui
(Raul G Lhano)
La Grande 4
Guri (Raul Leoni)
Three Gorges

“La Grande 2” cũ

Công suất ở năm 2000
là: 4,000 [MW]

4


II. Phát điện thuỷ điện ở Việt Nam
II.1 Tiềm năng của phát điện thuỷ điện
Việt nam có tiềm năng to lớn về thuỷ điện chạy theo suốt toàn bộ đất nước. Nếu
khảo sát trên 2200 con sông có chiều dài lớn hơn 10 Km thì tổng tiềm năng về thuỷ điện
ở đất nước ta theo lý thuyết đạt khoảng 300 tỉ kWh/năm và tổng tiềm năng về thuỷ điện
có tính khả thi cũng đạt khoảng 80-100 tỉ kWh/năm với tỉ lệ công suất là 18,000-20,000
MW. Tại thời điểm hiện nay, tổng công suất của các nhà máy thuỷ điện đã được khai
thác ở nước ta là 4,115 MW (Chiếm 23.2% của tổng công suất có thể khai thác) với sản
lượng điện năng trung bình vào khoảng 18 tỉ kWh (Chiếm 22.5% của tổng công suất có
thể khai thác).
Hệ thống sông ngòi tiêu biểu ở vùng Bắc Bộ nơi có tiềm năng về thuỷ điện được
đại diện bởi Sông Lô, Sông Gâm, Sông Chảy và Sông Đà, các sông đó sau cùng hợp nhất
thành Sông Hồng và chảy vào Vịnh Bắc Bộ. Các sông ngòi tiêu biểu ở vùng Bắc Trung
Bộ là Sông Mã và Sông Cả. Ở vùng ven biển miền Trung, có Sông Vu Gia – Thu Bồn ở
Quảng Nam, Sông Trà Khúc ở Quảng Ngãi và Sông Ba ở Phú Yên. Có Sông Xê Xan
chạy dọc theo biên giới giữa Căm Phu Chia và vùng Trung Bộ. Hệ thống sông ngòi tiêu
biểu cho vùng Nam Bộ là Sông Đông Nai.
Tiềm năng về thuỷ điện có tính khả thi của các sông chính ở nước ta được miêu tả
trong bảng II.1.
Bảng II.1: Tiềm năng về thuỷ điện có tính khả thi ở Việt Nam
Tên Sông

Công suất có tính khả thi

Ước tính sản lượng điện

Tỉ lệ phần trăm

(MW)

nă ng (TWh)

(%)

820

3.159

4.6

Sông Đà

7,345

31.196

41.5

Sông Mã

542

2.026

3.1

Sông Cả

398

1.555

2.2

Sông Hương

282

1.17

1.6

1,119

4.299

6.3

Sông Trà Khúc

135

0.625

0.8

Sông Ba

709

3.095

4.0

Sông Xê Xan

1,736

8.265

9.8

Sông Srepok

702

3.325

4.0

Sông Đồng Nai

2,790

11.518

15.8

Tổng cộng của 11 sông ở trên

16,578

70.233

93.7

Tổng cộng trên toàn bộ đất nước

17,700

82.0

100

Sông Lô, Gâm, Chảy

Sông Vu Gia – Thu Bôn

5


II.2 Tình trạng hiện nay của phát điện Thuỷ điện ở Việt nam
Phát điện Thuỷ điện là một trong những nguồn năng lượng chủ yếu ở Việt Nam
và đến cuối năm 2001 thì tổng công suất đặt của các Nhà máy Thuỷ điện là 4,115 MW và
sản lượng điện năng vào khoảng 18 tỉ kWh chiếm gần 51% tính theo kWh, 49% tính theo
kW theo tổng công suất.
Các Nhà máy Thuỷ điện hiện có được nêu trong bảng II.2 và sản lượng điện năng
trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến năm 2001 được nêu trong bảng II.3.
Bảng II.2: Các Nhà máy Thuỷ điện hiện có ở Việt Nam (Tính đến năm 2001)
Tên NMTĐ

Miền lãnh thổ

Công suất đặt

Năm đưa vào vận hành

Thác Bà

Miền Cắc

120 MW

1971

Hòa Bình

Miền Bắc

1920 MW

1988

Yaly

Miền Trung

720 MW

2000

Vĩnh Sơn

Miền Trung

66 MW

1994

Sông Hinh

Miền Trung

70 MW

2000

Trị An

Miền Nam

400 MW

1988

Thác Mơ

Miền Nam

150 MW

1995

Đa Nhim

Miền Nam

160 MW

1964

Hàm Thuận

Miền Nam

300 MW

2001

Đa Mi

Miền Nam

175 MW

2001

NMTĐ nhỏ

53 MW

Tổng cộng

4134 MW

Ghi chú

Bao gồm “Sông Pha”

Bảng II.3: Sản lượng điện năng Thuỷ điện
1991

1992

1993

1994

1995

1996

1997

1998

1999

2000

2001

Thác bà

386

345

327

405

455

484

483

379

268

345

401

Hòa Bình

3306

4188

4744

5660

6860

7206

7026

6912

8112

8082

8445

Đa Nhim

800

918

958

1033

936

1162

1122

1160

1368

1343

1096

Trị An

1738

1685

1832

1994

1440

1856

1773

1615

2550

2232

2179

Thác Mơ

-

-

-

-

511

787

800

601

1041

932

926

Vĩnh Sơn

-

-

-

34

239

338

286

211

414

351

215

Sông Hinh

-

-

-

-

-

-

-

-

-

207

441

Yaly

-

-

-

-

-

-

-

-

-

908

2975

Hàm Thuận

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

923

Đa Mi

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

401

6230

7136

7861

9126

10441

11833

11490

10878

13753

14400

18003

Tổng cộng

6


II.3 Đặc điểm chính của các Nhà máy Thuỷ điện ở Việt Nam
Hệ thống điện ở Việt Nam được nối bằng đường dây truyền tải siêu cao áp 500
KV Bắc – Nam và vị trí của các Nhà máy Thuỷ điện cũng được phân thành 03 Miền, đó
là khu vực Miền Bắc, khu vực Miền Trung và khu vực Miền Nam căn cứ vào tình hình
nhu cầu sử dụng điện năng trong các vùng chính này.
(1) Khu vực Miền Bắc (Thác Bà, Hòa Bình)
- NMTĐ Thác Bà Nhà máy Thuỷ điện Thác Bà (120MW, 40MW x 03 tổ máy) được đưa vào vận
hành năm 1971. Đó là một trong những Nhà máy Thuỷ điện lâu đời và có truyền thống
nhất ở Việt Nam và trước khi xây dựng Nhà máy Thuỷ điện Hoà Bình thì nó đóng vai trò
là Nhà máy Thuỷ điện chủ đạo trong hệ thống lưới điện Quốc gia 110 KV ở khu vực
Miền Bắc. Nhà máy Thuỷ điện Thác Bà được đặt ở tỉnh Yên Bái. Đó là Nhà máy Thuỷ
điện loại hồ chứa có lưu lượng xả lớn - cột áp thấp được xây dựng đập trọng lực ở
thượng lưu Sông Chảy là một nhánh của Sông Lô. Hồ Thác Bà là một hồ lớn có lưu vực
là 6,430 km2 và tổng dung tích chứa là 2,940 triệu m3. Cột áp hiệu dụng bình thường là
33.7 m và lưu lượng xả lớn nhất qua Tua bin là 420 m3/s và Nhà máy có 03 tổ máy loại
Tua bin Kaplan được chế tạo ở Liên xô (Cũ).
Vai trò của Nhà máy Thuỷ điện Thác Bà hiện nay đã bị thay đổi nhưng nó vẫn
còn đóng một vai trò quan trọng đối với khu vực Miền Bắc. Nó cung cấp điện năng cho
các tỉnh Yên Bái, Thái Nguyên, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang và Phú Thọ qua các
đường dây truyền tải 110 KV. Nó cũng cung cấp điện năng cho các tỉnh lân cận (Yên Bái,
Tuyên Quang, Hà Giang và Phú Thọ) bằng các đường dây 35kV.
- NMTĐ Hòa Bình NMTĐ Hòa Bình (1,920MW, 240MW x 08 tổ máy) là Nhà máy Thuỷ điện lớn
nhất ở Việt Nam. Nó được xây dựng nhờ sự giúp đỡ của Liên xô (Cũ) và tổ máy số 1
được đưa vào vận hành đầu tiên vào năm 1988. Sau đó, từng tổ máy một được đưa vào
vận hành theo thời gian đã định và tổ máy cuối cùng (Tổ máy số 8) được hoàn thành vào
năm 1994. NMTĐ Hòa Bình là Nhà máy Thuỷ điện kiểu hồ chứa được đặt tại tỉnh Hoà
Bình. Một đập đá được xây dựng ở phía thượng lưu sông Đà. Sông Đà bắt nguồn từ nước
Trung Quốc và chảy qua các tỉnh Lai Châu và Sơn La, sau khi chảy qua NMTĐ Hòa
Bình nó hợp lại với Sông Hồng và chảy vào Vịnh Bắc Bộ qua Thủ đô Hà Nội. Hồ Hòa
Bình là hồ rất to có tổng dung lượng chứa là 9,450 triệu m 3. Cột áp hiệu dụng bình
thường là 88 m và lưu lượng xả lớn nhất qua Tua bin là 2400 m3/s và Nhà máy có 08 tổ
máy loại Tua bin Francis được chế tạo ở Liên xô (Cũ).
NMTĐ Hòa Bình phát công suất chiếm tỉ lệ trên 30% tổng điện năng ở Việt Nam
và đóng một vai trò quan trọng không chỉ cung cấp điện cho khu vực Miền Bắc qua các
7


đường dây truyền tải lưới điện Quốc gia 220 KV mà còn là một trong những kết nối cơ
bản trong đường dây truyền tải lưới điện siêu cao áp 500 KV từ Miền Bắc tới Miền Nam
được đưa vào vận hành năm 1994. Hơn nữa, NMTĐ Hòa Bình cũng gánh vác những
nhiệm vụ rất quan trọng như nhiệm vụ chống lũ, tưới tiêu, và giao thông đường thuỷ ở
Đồng bằng Châu thổ Sông Hồng.

NMTĐ Thác Bà

Quang cảnh tổng thể về NMTĐ Hòa Bình

Gian máy trong NMTĐ Hòa Bình

(2) Khu vực Miền Nam (Trị An, Thác Mơ, Đa Nhim-Hàm Thuận-Đa Mi)
Các Nhà máy Thuỷ điện nằm ở Khu vực Miền Nam Việt Nam có tuổi, kiểu và
hãng sản xuất … không giống nhau thí dụ bắt đầu từ Nhà máy Thuỷ điện Đa Nhim được
xây dựng năm 1964 cho đến Nhà máy Thuỷ điện Hàm Thuận – Đa Mi được xây dựng
năm 2001 và Nhà máy Thuỷ điện Trị An, Thác Mơ được thiết kế và xây dựng nhờ sự
giúp đỡ của Liên xô (Cũ).
- NMTĐ Trị An NMTĐ Trị An (400MW, 100MW x 4 tổ máy) được xây dựng trên đoạn giữa của
Sông Đồng Nai ở tỉnh Đồng Nai cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 65 Km về phía
8


Đông - Bắc. Nhà máy được xây dựng nhờ sự giúp đỡ của Liên Bang Nga và hoàn thành
năm 1991. Đó là Nhà máy Thuỷ điện kiểu hồ chứa phát điện bằng việc sử dụng nước
chứa ở Hồ Trị An, tổng dung lượng chứa của Hồ Trị An là 2,765 triệu m 3 và diện tích lưu
vực của nó là 350 km 2. Cột áp hiệu dụng bình thường là 62 m và lưu lượng xả lớn nhất
qua Tua bin là 888 m3/s và nó có 04 tổ máy loại Tua bin Francis. NMTĐ Trị An cung cấp
điện cho các tỉnh Miền Nam qua lưới điện 220 KV và nó cũng đóng một vai trò quan
trọng trong đời sống nhân dân ở khu vực hạ lưu đó là ngăn chặn nước biển tràn vào khu
vực hạ lưu trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh.
- NMTĐ Thác Mơ NMTĐ Thác Mơ (150MW, 75MW x 02 tổ máy) được xây dựng ở thượng lưu
Sông Bé thuộc tỉnh Bình Phước, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 120 Km về phía
Nam. Nhà máy được xây dựng nhờ sự giúp đỡ của Ukraine và hoàn thành vào năm 1994.
Hồ Thác Mơ có tổng dung lượng chứa vào khoảng 1,750 m3 và có 02 tổ máy loại Tua bin
Francis, có cột áp hiệu dụng bình thường là 90 m và lưu lượng xả lớn nhất qua Tua bin là
186 m3/s. Lưới điện từ NMTĐ Thác Mơ được nối tới Trạm Phú Lâm và NMTĐ Trị An
bằng đường dây truyền tải 110 KV để cung cấp điện cho các tỉnh lân cận và cũng góp
phần cung cấp điện cho Khu vực Miền Nam.
- “NMTĐ Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi” NMTĐ Đa Nhim (160MW, 40MW x 04 tổ máy) được xây dựng trên Sông Đa
Nhim là nhánh của hệ thống Sông Đồng Nai, cách Đà Lạt khoảng 50 Km về phía Đông
Bắc. Nhà máy được xây dựng bằng “Tiền bồi thường thiệt hại chiến tranh của Nhật Bản”
và hoàn thành vào năm 1964. Sông Đa Nhim là một trong các nhánh thượng lưu của hệ
thống Sông Đồng Nai nhưng NMTĐ Đa Nhim được thiết kế để sử dụng cột áp giữa Sông
Đa Nhim (Hồ Đơn Dương) và đồng bằng của tỉnh Ninh Thuận. Khi nước sông của Sông
Đa Nhim chảy ra phía Biển Đông thì công việc gọi là “Sự thay đổi lưu vực” được thực
hiện. Cột áp hiệu dụng bình thường của NMTĐ Đa Nhim là 748 m, lưu lượng xả lớn nhất
qua 04 Tua bin là 26 m 3/s và Nhà máy có 04 tổ máy loại Tua bin Pelton được chế tạo bởi
Nhật Bản. Nhà máy Thuỷ điện này không những cung cấp điện cho khu vực Nam Trung
Bộ bằng lưới truyền tải 220 KV mà còn góp phần tưới tiêu cho các khu vực đất đai rộng
lớn ở phía Biển Đông.
NMTĐ Hàm Thuận có công suất 300MW (150MW x 02 tổ máy) và NMTĐ Đa
Mi có công suất 176MW (88MW x 02 tổ máy), cả hai NMTĐ này được xây dựng ở
thượng lưu của hệ thống Sông Đồng Nai. Dự án Hàm Thuận - Đa Mi được thực hiện bởi
nguồn vốn ODA của Nhật Bản (JBIC cho vay) và cả hai NMTĐ này được đưa vào vận
hành năm 2001. Cả hai NMTĐ được xây dựng ở thượng lưu Sông La Ngà (Sông này
chảy vào Hồ Trị An). Kiểu tua bin của cả hai NMTĐ là loại tua bin Francis thẳng đứng,
cột áp hiệu dụng bình thường và lưu lượng xả của hai NMTĐ này là 267 m, 134 m3/s ở
NMTĐ Hàm Thuận và 147 m, 137 m 3/s ở NMTĐ Đa Mi.
9


Hai NMTĐ này là nguồn năng lượng chính cung cấp cho khu vực Biên Hoà tỉnh
Đồng Nai, nối với trạm Long Bình và Long Thành bằng hệ thống lưới điện 220 KV ở
Khu vực Miền Nam.
Việc quản lý của ba NMTĐ này được tổ chức lại thành “NMTĐ Đa Nhim - Hàm
Thuận - Đa Mi”. Tổng công suất phát của ba NMTĐ này là 640 MW vì thế vai trò cung
cấp điện năng cho khu vực Miền Nam của Nhà máy là rất quan trọng.

NMTĐ Trị An

Phòng điều khiển (NMTĐ Hàm Thuận)

Tua bin và máy phát điện (Đa Nhim)

(3) Khu vực Miền Trung (Vĩnh Sơn - Sông Hinh, Ialy)
- “NMTĐ Vĩnh Sơn - Sông Hinh” NMTĐ Vĩnh Sơn (66MW, 33MW x 02 tổ máy) được đưa vào vận hành năm 1994.
Nhà máy được đặt ở thượng lưu Sông Côn thuộc tỉnh Bình Định, cách Thành phố Quy
Nhơn khoảng 120 Km về phía Tây Bắc. Cột áp hiệu dụng bình thường là 588 m và các
tua bin Pelton được lắp đặt. NMTĐ Vĩnh Sơn được nối tới các đường dây truyền tải 220
KV giữa Đà Nẵng và Quy Nhơn và cung cấp điện cho khu vực này.
NMTĐ Sông Hinh (70MW, 35MW x 02 tổ máy) được đưa vào vận hành năm
2000. Nhà máy được đặt ở thượng lưu Sông Ba thuộc tỉnh Phú Yến. Hai tổ máy loại Tua
bin Francis trục đứng được lắp đặt và cột áp hiệu dụng bình thường của Nhà máy là 141
m, lưu lượng xả lớn nhất qua Tua bin là 55.2 m3/s. Nhà máy được nối tới các đường dây
10


truyền tải 110 KV giữa Quy Nhơn và Nha Trang và cung cấp điện năng cho khu vực này.
Cả hai Nhà máy được quản lý bởi Văn phòng “NMTĐ Vĩnh Sơn - Sông Hinh” tại Thành
phố Quy Nhơn.
- NMTĐ Ialy NMTĐ Ialy (720MW, 180MW x 04 tổ máy) được đặt ở thượng lưu Sông Xê San
thuộc tỉnh Gia Lai, cách Pleiku khoảng 50 Km về phía Tây Bắc. Tổ máy số 1 được đưa
vào vận hành năm 1999 và tổ máy cuối cùng được đưa vào vận hành năm 2001 với sự
giúp đỡ của Nga và Ukraine. Bốn tổ máy loại tua bin Francis trục thẳng đứng được lắp
đặt với cột áp hiệu dụng bình thường là 190 m và lưu lượng xả qua tua bin là 417.6 m 3/s.
Một đập đá được xây dựng và tổng dung lượng của Hồ chứa nước là 1,37 triệu m3.
Điện được nối tới trạm 500 KV Pleiku bằng đường dây truyền tải 500 KV.
NMTĐ Ialy là NMTĐ lớn thứ hai ở Việt Nam và đóng một vai trò rất quan trọng không
chỉ cung cấp điện mà còn điều chỉnh tần số và điện áp của hệ thống lưới điện ở Việt
Nam.

NMTĐ Vĩnh Sơn

NMTĐ Ialy

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×