Tải bản đầy đủ

tieu luan cac pp nhan thuc khoa hoc

1

MỞ ĐẦU

Nhận thức khoa học là một loại hình đặc biệt của hoạt động nhận thức,
là quá trình trí tuệ con người đi sâu không ngừng vào bản chất sự vật, nắm
cái phổ biến, cái tất yếu, những mối liên hệ sâu sắc, có tính quy luật ẩn giấu
đằng sau các sự kiện riêng biệt. Trong quá trình nhận thức đó không thể dùng
kính hiển vi hay các chất phản ứng hóa học…để suy xét, mà phải bằng các
phương pháp khoa học khác nhau để nhận thức nhằm tạo ra tri thức khoa học
mới dưới hình thức các khái quát, giả định kinh nghiệm và lý luận, các định
luật, lý thuyết khoa học.
Năng lực tư duy của con người là tổng hợp những phẩm chất tư duy ở
trình độ cao, là khả năng nắm bắt và vận dụng nhuần nhuyễn, linh hoạt, sáng
tạo các nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện chứng với tư cách
phương pháp nhận thức khoa học và nguyên tắc mà tư duy phải tuân theo
nhằm giải quyết một cách hiệu quả nhất những vấn đề nhận thức và thực tiễn
đang đặt ra.
Cùng với phép biện chứng và nhận thức luận, các phương pháp nhận
thức khoa học có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc phát triển năng lực
tư duy biện chứng cho người học. Phương pháp nhận thức đóng vai trò to

lớn trong nhận thức khoa học, nếu thiếu nó thì tư duy và khả năng nhận thức
của con người không thể phát triển. Tuy nhiên, trong nhận thức khoa học,
không có sự tồn tại của một phương pháp “vạn năng" có thể cho phép tiếp
cận mọi chân lý. Các phương pháp nhận thức khoa học không những được sử
dụng phổ biến, mà còn được "chuyên hoá".
Trong thời đại phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học –
công nghệ và kinh tế tri thức, vai trò của các phương pháp nhận thức khoa


2

học càng quan trọng hơn bao giờ hết. Chỉ có nắm vững và vận dụng được các
nguyên tắc, các phương pháp nhận thức khoa học mới có thể thực sự đi sâu
vào bản chất của đối tượng, mới có thể nắm được các khái niệm, lý thuyết
khoa học và giải quyết được những vấn đề của thực tiễn.
Sự tiếp cận một số vấn đề về nhận thức khoa học có ý nghĩa to lớn
trong việc phân biệt nhận thức khoa học với nhận thức thông thường, cũng
như với các thành phần trong cấu trúc của nó, đồng thời, góp phần ngăn
ngừa, khắc phục một số thiếu sót sai lầm có thể mắc phải trong quá trình
nhận thức, như chủ nghĩa kinh nghiệm, nhận thức giản đơn, tư duy giáo điều.
Qua đó, nó góp phần vào quá trình đổi mới tư duy, quá trình nhận thức và vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp
xây dựng CHXH của nước ta hiện nay.


3

I. NHẬN THỨC KHOA HỌC
1.1. Thế nào là nhận thức khoa học
Nhận thức khoa học là thành quả vĩ đại của trí tuệ con người, đánh dấu
một bước tiến trong việc nhận thức và cải tạo thế giới. Nhận thức khoa học
giữ vai trò đặc biệt trong hoạt động của con người và vai trò đó ngày càng
tăng lên trong đời sống xã hội.
Khác với nhận thức thông thường, nhận thức khoa học được hình thành
một cách tự giác và mang tính trừu tượng, khái quát cao. Nó thể hiện sức
mạnh, tính năng động sáng tạo của tư duy trừu tượng. Nó phản ánh dưới dạng
logic trừu tượng những thuộc tính, kết cấu, những mối quan hệ bản chất,
những quy luật của thế giới khách quan. Nhận thức khoa học hướng tới nắm
bắt cái quy luật, cái bản chất của hiện thực; Nó không dừng lại ở cái bề
ngoài, cái ngẫu nhiên, cái đơn nhất. Nhận thức khoa học được thể hiện trong


các phạm trù, quy luật của khoa học, và đến lượt mình, các phạm trù, quy luật
đó lại trở thành chỗ dựa, trở thành công cụ của nhận thức khoa học.
Nhận thức khoa học có tính khách quan. Nó hướng tới nghiên cứu các
khách thể của tự nhiên, xã hội và bản thân con người như những đối tượng
vận động và phát triển phục tùng các quy luật khách quan. Nhận thức khoa
học phải dựa vào sự thật và lý trí của con người chứ không thể dựa vào
những ảo tưởng chủ quan, vào lòng tin mù quáng nào đó. Khoa học có nhiệm
vụ nghiên cứu hiện thức, kể cả thực hiện tư tưởng, như những khách thể tồn
tại độc lập với chủ thể. Dĩ nhiên, những phẩm chất cá nhân và những định
hướng giá trị của nhà khoa học có vai trò quan trọng trong sáng tạo khoa học,
song kết quả nghiên cứu mang giá trị khoa học lại không phụ thuộc vào ý
muốn của người nghiên cứu.


4

Tri thức khoa học phải có tính hệ thống và có tính căn cứ. Đây là đặc
trưng quan trọng phân biệt nhận thức khoa học với nhận thức thông thường.
Khoa học là một chỉnh thể các khái niệm, phạm trù, quy luật, có liên quan nội
tại với nhau mang tính chân thực. Nhận thức khoa học phải hướng tới chân
lý, hướng tới việc tìm tòi, nhận thức chân lý. Tính chân lý này được chứng
minh không chỉ bằng việc áp dụng vào thực tiễn mà nhận thức khoa học còn
tạo ra những phương thức chứng minh, những tiêu chuẩn riêng của mình.
Cũng vì vậy mà nhận thức khoa học mang tính chặt chẽ, tính logic cao.
Để mô tả và nghiên cứu khách thể, nhận thức khoa học không thể chỉ
sử dụng ngôn ngữ thông thường mà còn sử dụng ngôn ngữ nhân tạo, chuyên
môn hóa. Nếu ngôn ngữ là công cụ của tư duy thì ngôn ngữ của khoa học là
công cụ cần thiết cho tư duy khoa học; nó không ngừng được phát triển tùy
theo sự đi sâu của khoa học vào lĩnh vực mới của thế giới khách quan. Ngôn
ngữ khoa học không chỉ bổ sung mà làm cho ngôn ngữ thông thường ngày
càng phát triển, trở nên phong phú hơn.
Cùng với ngôn ngữ chuyên môn hóa, nhận thức khoa học còn phải sử
dụng một hệ thống các phương tiện và phương pháp nghiên cứu chuyên môn.
Các máy móc, thiết bị hỗ trợ đắc lực cho nhận thức khoa học vì chúng tác
động trực tiếp đến khách thể nghiên cứu, cho phép khám phá những thuộc
tính mới của khách thể, cho phép vạch ra những trạng thái có thể của nó
trong điều kiện chủ thể kiểm soát được. Ngày nay, nhận thức khoa học không
thể tiến hành được nếu thiếu các máy móc, các phương tiện hiện đại... Đồng
thời, nhận thức khoa học còn phải sử dung các phương pháp nghiên cứu
chuyên môn. Để thu nhận được tri thức khoa học cần có phương pháp khoa
học – đó là phương pháp thu nhận tri thức kinh nghiệm như quan sát và thí
nghiệm; là các phương pháp để xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học


5

như phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, lịch sử và logic, từ trừu
tượng đến cụ thể, mô hình hóa...
Đương nhiên, hoạt động nhận thức khoa học đòi hỏi các nhà khoa học
bên cạnh việc nắm vững các phương tiện và phương pháp nghiên cứu, còn
phải có định hướng giá trị đúng đắn, phải có những phẩm chất đạo đức chung
và những phẩm chất cá nhân phù hợp với những hoạt động đặc thù của mỗi
lĩnh vực khoa học.
Như vậy, nhận thức khoa học vừa có tính khách quan, trừu tượng,
khái quát lại vừa có tính hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực. Nó
vận dụng một cách hệ thống các phương pháp nghiên cứu và sử dụng
cả ngôn ngữ thông thường và thuật ngữ khoa học để diễn tả sâu sắc
bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu. Vì thế nhận thức khoa
học có vai trò ngày càng to lớn trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt
trong thời đại khoa học và công nghệ ngày nay.
1.2. Hai trình độ của nhận thức khoa học
Nhận thức khoa học thuộc bất kỳ một lĩnh vưc tri thức cụ thể nào, nếu
được thực hiện ở mức độ đầy đủ, bao giờ cũng trải qua hai trình độ: Kinh
nghiệm và lý luận.
1.2.1 Trình độ nhận thức kinh nghiệm
Đây là loại nhận thức hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự
vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội hay trong các thí nghiệm khoa
học. Kết quả nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm. Tri thức
này có hai loại, tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh
nghiệm khoa học.


6

Tri thức kinh nghiệm thông thường là loại tri thức được hình
thành từ sự quan sát trực tiếp hàng ngày về cuộc sống và sản xuất. Tri
thức này rất phong phú, nhờ có tri thức này con người có vốn kinh
nghiệm sống dùng để điều chỉnh hoạt động hàng ngày.
Tri thức kinh nghiệm khoa học là loại tri thức thu được từ sự
khảo sát các thí nghiệm khoa học, loại tri thức này quan trọng ở chỗ
đây là cơ sở để hình thành nhận thức khoa học và lý luận.
Hai loại tri thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau
để tạo nên tính phong phú, sinh động của nhận thức kinh nghiệm.
Để thu nhận tri thức kinh nghiệm chủ yếu là sử dụng phương
pháp quan sát và thí nghiệm. Khi quan sát và tiến hành thí nghiệm phù
hợp với chương trình đã đặt ra chủ thể thu tập và lựa chọn các sự kiện,
miêu tả các dữ kiện nhận thức được từ quan sát và thí nghiệm, phân
loại, hệ thống hóa chúng làm tiền đề cho sự khái quát sơ bộ và xây
dựng giả thiết thí nghiệm. Như vậy, nhận thức kinh nghiệm giới hạn ở
lĩnh vực các sự kiện, miêu tả chúng, phân loại các dữ kiện thu tập được
từ quan sát, thí nghiệm. Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết trực
tiếp về mối liên hệ, quan hệ bề ngoài của đối tượng. Ở trình độ nhận
thức kinh nghiệm, chưa thể nắm được cái tất nhiên, mối quan hệ bản
chất giữa các sự vật, hiện tượng, chưa phân biệt được cái cơ bản và cái
không cơ bản, bản chất với hiện tương. Nếu giáo điều hóa kinh nghiệm,
cũng như mở rộng phạm vi ứng dụng các tri thức kinh nghiệm, sẽ
không tránh khỏi những sai lầm chủ quan, thực dụng, thiển cận và sớm
muộn sẽ thất bại trong hoạt động thực tiễn. Vì thế nhận thức chân lý
không thể dừng lại ở nhận thức kinh nghiệm mà phải chuyển lên trình
độ nhận thức lý luận.


7

1.2.2. Trình độ nhận thức lý luận
Nói đến nhận thức lý luận là nói đến vai trò, năng lực của tư duy lý
luận trong việc đi sâu nắm bắt cái tất nhiên của khách thể, mối quan hệ phức
tạp ẩn dấu đằng sau các sự kiện. Chỉ có nhận thức bằng tư duy lý luận mới có
thể phát hiện ra bản chất thực sự, biện chứng phát triển của sự vật, sự quá độ
của nó từ trạng thái này lên trạng thái khác cao hơn mới về chất và những
tính quy luật chi phối sự vận động nội tại của quá trình đó.
Đây là loại nhận thức gián tiếp, trừu tượng và khái quát về bản
chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng. Nhận thức lý luận có tính
gián tiếp vì nó được hình thành và phát triển trên cơ sở của nhận thức
kinh nghiệm. Nhận thức lý luận có tính trừu tượng và khái quát vì nó
chỉ tập trung phản ánh cái bản chất mang tính quy luật của sự vật và
hiện tượng. Tri thức nhận được là tri thức lý luận. Do đó, tri thức lý luận
thể hiện chân lý sâu sắc hơn, chính xác hơn và có hệ thống hơn.
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn
nhận thức khác nhau, có quan hệ biện chứng với nhau.Trong đó nhận
thức kinh nghiệm là cơ sở của nhận thức lý luận. Nó cung cấp cho nhận
thức lý luận những tư liệu phong phú, cụ thể. Vì nó gắn chặt với thực
tiễn nên tạo thành cơ sở hiện thực để kiểm tra, sửa chữa, bổ sung cho
lý luận và cung cấp tư liệu để tổng kết thành lý luận. Ngược lại, mặc
dù được hình thành từ tổng kết kinh nghiệm, nhận thức lý luận không
xuất hiện một cách tự phát từ kinh nghiệm. Do tính độc lập tương đối
của nó, lý luận có thể đi trước những sự kiện kinh nghiệm, hướng dẫn
sự hình thành tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn kinh nghiệm hợp
lý để phục vụ cho hoạt động thực tiễn. Thông qua đó mà nâng những tri


8

thức kinh nghiệm từ chỗ là cái cụ thể, riêng lẻ, đơn nhất trở thành cái
khái quát, phổ biến.
Nắm vững bản chất, chức năng của từng loại nhận thức đó cũng
như mối quan hệ biện chứng giữa chúng có ý nghĩa phương pháp luận
quan trọng trọng việc đấu tranh khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa
và bệnh giáo điều.
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP NHẬN THỨC KHOA HỌC
2.1. Khái niệm phương pháp
Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng HyLạp có nghĩa là
con đường, công cụ nhận thức. Theo nghĩa thông thường là cách thức,
con đường, thủ đoạn được chủ thể sử dụng để đạt được mục đích nào
đó. Theo nghĩa khoa học là hệ thống những nguyên tắc mà chủ thể phải
nhất quán thực hiện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
nhằm đạt được mục đích đặt ra.
Phương pháp có vai trò quan trọng trong hoạt động của con
người. Nó là công cụ có tính quyết định khi phương hướng nghiên cứu
cải tạo sự vật đã được xác định đúng đắn. Vì vậy, các nhà triết học và
khoa học rất chú trọng đến phương pháp.
Chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật đối lập với nhau trong
quan niệm nguồn gốc của phương pháp. Chủ nghĩa duy tâm coi phương
pháp là nguyên tắc do lý trí con người tự ý đặt ra để tiện cho nhận thức
và hành động. Do đó đối với nó, phương pháp là phạm trù thuần túy
chủ quan.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi phương pháp có tính khách
quan, mặc dù phương pháp là của con người, do con người tạo ra và


9

được con người sử dụng như những công cụ để thực hiện mục đích nhất
định. Phương pháp gắn liền với hoạt động nhận thức của con người,
không có phương pháp tồn tại sẵn trong hiện thực và ở ngoài con
người. Nhưng như vậy không có nghĩa rằng, phương pháp là một cái gì
tùy ý, tùy tiện. Phương pháp là kết quả của việc con người nhận thức
hiện thực khách quan và từ đó rút ra được những nguyên tắc, những
yêu cầu để định hướng cho mình trong nhận thức và hành động thưc
tiễn tiếp theo. Những quy luật đã được nhận thức là cơ sở để cho con
người định ra phương pháp đúng đắn. Sức mạnh của pháp là ở chỗ,
trong khi phản ánh đúng đắn những quy luật của thế giới khách quan,
nó đem lại cho khoa học và hiện thực một công cụ có hiệu quả để
nghiên cứu thế giới và cải biến thế giới đó.
Phương pháp giữ vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức
của con người. Nhà triết học Bêcơn đã coi phương pháp như ngon đuốc
soi đường cho người đi trong đêm tối. Các nhà triết học Đecáctơ,
Heghen lại càng coi trọng phương pháp. Các ông nhấn mạnh rằng, vấn
đề không phải chỉ là chân lý, mà phương pháp đi đến chân lý là quan
trọng, con đường đó cũng phải có tính chân lý. Ở mức độ nào đó thì
phương pháp trở thành nhân tố góp phần quyết định thành công hay
thất bại của việc thực hiện mục tiêu.
Đối tượng nghiên cứu rất đa dạng, nên các phương pháp nghiên
cứu cũng hết sức phong phú. Tùy theo tiêu chí khác nhau mà phương
pháp được chia thành các loại khác nhau. Nếu dựa vào phạm vi ứng
dụng thì có phương pháp riêng, phương pháp chung, phương pháp phổ
biến. Nếu dựa vào mục đích và chức năng thì có phương pháp hoạt
động thực tiễn và phương pháp nhận thức. Việc phân chia các loại
phương pháp có tính tương đối. Trong mỗi phương pháp có chức năng,


10

nhiệm vụ khác nhau, nhưng có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ nhau
trong quá trình nhận thức và cải tạo hiện thực.
Cần phân biệt phương pháp với phương pháp luận. Phương pháp
luận là lý luận để xác định phương pháp. Do vậy, tương ứng với sự
phân chia phương pháp ở trên; phương pháp luận có thể phân chia
thành phương pháp luận riêng, phương pháp luận chung, phương pháp
luận phổ biến.
2.2. Một số phương pháp nhận thức khoa học
2.2.1. Các phương pháp thu nhận tri thức kinh nghiệm
* Phương pháp quan sát: Là tri giác khách thể dưới hình thức tự
nhiên, trong tiến trình khách quan vốn có của nó, nhằm một chủ đích nhất
định. Người ta thường tiến hành quan sát trong sinh hoạt thường ngày cũng
như trong nghiên cứu khoa học. Bất kỳ một quan sát nào cũng có một khách
thể được quan sát và một chủ thể tiến hành quan sát, trong những điều kiện
thời gian và địa điểm cụ thể. Khác với quan sát tâm linh, trong quan sát khoa
học chủ thể có chủ định trước, có chương trình nghiên cứu nghiêm ngặt để
thu thập các sự kiện khoa học chính xác; đông thời để hỗ trợ các giác quan
của con người quan sát nâng cao độ chính xác và tính khách quan của các kết
quả thu nhận được. Trong quan sát khoa học người ta thường sử dụng các
công cụ, phương tiện kỹ thuật như máy chụp ảnh, kính hiển vi, kính thiên
văn, vô tuyến…nhằm khác phục những hạn chế tự nhiên của giác quan người
quan sát…
* Phương pháp thí nghiệm: Là phương pháp nghiên cứu các sự
vật, hiện tượng bằng cách sử dụng các phương tiện vật chất để can
thiệp vào trạng thái cấu trúc của chúng nhằm tạo ra cho chúng những
điều kiện nhân tạo ra cho chúng những điều kiện nhân tạo, tách chúng


11

thành các bộ phận và kết hợp chúng lại, sản xuất chúng dưới dạng
thuần khiết. Nếu như trong quan sát chủ thể không can thiệp vào trạng
thái cấu trúc của khách thể, thì trong thí nghiệm chủ thể chủ động tác
động lên khách thể, thay đổi cấu trúc và những tồn tại cấu trúc của
khách thể, buộc khách thể phải bộc lộ tính chất của mình cho chủ thể
nhận thức. Nhờ có thí nghiệm, người ta biết khám phá được những cấu
trúc vốn có của thế giới sự sống và sự vật. Trong thí nghiệm chủ thể
vấn tiến hành quan sát, nhưng ở mức độ cao hơn, thí nghiệm bao giờ
cũng được tổ chức thực hiện dưới sự chỉ đạo của một ý tưởng khoa học
và trên cơ sở một lý thuyết khoa học nhất định, từ khâu lựa chọn thí
nghiệm, lập kề hoạch, tiến hành thí nghiệm cho đến giải thích kết quả
của thí nghiệm. Thí nghiệm không chỉ nhằm thu thập các dữ kiện khoa
học để tạo cơ sở cho sự khái quát lý luận, mà còn nhằm bác bỏ hoặc
chứng minh một giả thiết khoa học nào đó.
Trong nhận thức khoa học, giả thiết giữ vai trò quan trọng, có thể
nói giả thiết là một hình thức phát triển của khoa học. Nhò thí nghiệm.
người ta chính xác hóa, chỉnh lý các giả thuyết và lý thuyết khoa học.
Ngày nay, thí nghiệm đã được sử dụng rộng rãi trong khoa học tự
nhiên, khoa học kỹ thuật, và cả trong khoa học xã hội. Thí nghiệm như
một sự rút gọn của hiện thực, giữ vai trò là cơ sở của nhận thức khoa
học để kiểm tra tính chân lý của nhận thức khoa học.
Quan sát và thí nghiệm là hai phương pháp chủ yếu của nhận
thức kinh nghiệm. Nhờ thực hiện các phương pháp này mà ta có được
thông tin ban đầu làm cơ sở để tư duy thực hiện các khái quát lý luận,
xây dựng lý thuyết khoa học.


12

2.2.2. Các phương pháp xây dựng và phát triển lý luận khoa học
* Phương pháp hệ thống – cấu trúc
Phương pháp hệ thống – cấu trúc xem xét sự vật như một hệ thống có
cấu trúc bên trong, nó là kết quả của sự thống nhất hai quan điểm: Hệ thống
và cấu trúc. Sự ra đời của phương pháp này đánh dấu một bước phát triển
trong phong cách tư duy khoa học. Có thể hiểu hệ thống là tập hợp các yếu tố
có liên hệ và tác động qua lại với nhau. Ví du: Nguyên tử, các hệ thống sinh
vật, hệ thống xã hội…Như vậy, một hệ thống bao gồm các yếu tố và mối liên
hệ qua lại giữa chúng. Mỗi yếu tố chỉ tồn tại trong quan hệ với những yếu tố
khác. Sự biến đổi của một yếu tố trong hệ thống dữ gây nên sự biến đổi nhất
định của các yếu tố khác. Sự tác động qua lại giữa các yếu tố của hệ thống
làm cho sự vật thành một chỉnh thể mang tính chất mới, có nội dung mới,
chất lượng mới mà vốn không có ở riêng từng bộ phận, từng yếu tố cấu thành
nó. Đó là tính chỉnh thể của hệ thống.
Sự phân chia giữa hệ thống và các yếu tố chỉ là tương đối. Một hệ
thống bao gồm nhiều yếu tố và mỗi yếu tố đó lại có thể coi là một hệ thống
gồm nhiều yếu tố nhỏ hơn. Nghĩa là có thể coi một đối tượng nghiên cứu nào
đó là một hệ thống lớn bao gồm những hệ con. Những cái ở ngoài hệ thống
được gọi là môi trường xung quanh cũng rất quan trọng. Tập hợp các mối
liên hệ của những yếu tố cấu thành hệ thống tạo thành cấu trúc của sự vật.
Phương pháp hệ thống - cấu trúc còn đề cập đến nguyên lý về sự điều
khiển và tính hướng đích, về tính tối ưu , nguyên lý về quan hệ giữa hoạt
động và phát triển của hệ thống.
Phương pháp hệ thống – cấu trúc ra đời là kết quả của việc khoa học
phải tiếp cận với những đối tượng hết sức phức tạp, những hệ thống lớn và nó


13

phù hợp với đặc diểm của sự phát triển khoa học hiện nay là khuynh hướng
sát nhập khoa học.
Phương pháp hệ thống – cấu trúc có nhiệm vụ quan trọng là phải xây
dựng mô hình tổng hợp như một cơ cấu thứ bậc, đa cấu trúc, với nhiều chất
lượng theo nhiều lát cắt khác nhau. Muốn nghiên cứu cấu trúc, phải nghiên
cứu những mối quan hệ, liên hệ hợp quy luật của các yếu tố cấu thành hệ
thống, tức là tìm ra mối liên hệ qua lại, tìm ra nguồn gốc, bản chất và quy luật
của sự nảy sinh các thuộc tính. Chẳng hạn, để nghiên cứu cơ cấu nền kinh tế
quốc dân ở nước ta, chúng ta phải phân tích các yếu tố cấu thành nền kinh tế
đó và tìm ra quy luật tác động qua lại giữa chúng, những thuộc tính mới nảy
sinh như giữa công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ và nông nghiệp, giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất…
Ngày nay, phương pháp hệ thống – cấu trúc đang được áp dụng rộng
rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như trong sinh học, vật lý học, ngôn ngữ
học, quản lý kinh tế, quản lý xã hội…
* Phương pháp phân tích – tổng hợp
Phân tích là phương pháp phân chia cái toàn bộ ra thành từng bộ
phận để nhận thức các bộ phận đó. Thí dụ, khi nghiên cứu một cơ thể
sinh vật, chủ thể phân chia thành các tế bào; dùng các phương tiện để
tìm hiểu kết cấu từng tế bào. Nhờ có phân tích con người nắm bắt được
các thuộc tính, các mối quan hệ bên trong của các sự vật, hiện tượng.
Tổng hợp là phương pháp liên kết, thống nhất các kết quả của
phân tích nhằm nhận thức cái toàn bộ. Nhờ có tổng hợp con người nắm
bắt, hiểu được sự vật dưới dạng chỉnh thể của nó. Từ đó mới có điều
kiện khái quát tìm ra sự vận động nội tại bên trong của sự vật.


14

Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp nhận thức khác nhau
song lại thống nhất biện chứng với nhau. Nó có cơ sở khách quan trong
cấu tạo và trong tính quy luật của bản thân sự sống hoặc sự vật, cũng
như hoạt động của con người. Trong hiện thực khách quan tồn tại cái
toàn bộ và cái bộ phận, yếu tố và hệ thống, phân tán và kết hợp. Trong
hoạt động hiện thực của con người cũng có hai quá trình : quá trình
chia tách các đối tượng và quá trình hợp nhất các đối tượng đã tách ra
và thành thể cấu túc mới. Những quá trình đó được di chuyển vào tư
duy thành thao tác tư duy, phương pháp tư duy. Các phương pháp phân
tích và tổng hợp của tư duy chỉ là sự phản ánh những quá trình hoạt
động thực tế của con người. Quá trình phân chia các yếu tố và hợp nhất
các yếu tố lại để nhận thức cái chỉnh thể tách ra trong ý thức những
mặt này, mặt kia của tổng thể cần nghiên cứu và hợp nhất chúng lại
nhằm thu được tri thức mới là một khâu cơ bản để chiếm lĩnh bằng lý
luận các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan.
Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp nhận thức khác nhau,
song lại liên tục biện chứng với nhau ở môt kết quả duy nhất. Tính duy
nhất của phân tích và tổng hợp là một yếu tố quan trọng của phương
pháp biện chứng. Do đó, không nên tách rời phân tích và tổng hợp,
hoặc cường điệu biện pháp này và coi nhẹ biện pháp kia và ngược lại.
Heghen là người đầu tiên phát hiện ra mối liên hệ lẫn nhau giữa
phân tích và tổng hợp. Theo học thuyết của Heghen, các quá trình phân
tích và tổng hợp quan hệ hữu cơ với nhau tạo thành một thể thống nhất
biện chứng. Theo ông, phương pháp biện chứng vừa là tổng hợp, vừa là
phân tích.


15

Triết học Macxit xem sự thống nhất của hai phương pháp trên là
điều kiện tất yếu của sự trừu tượng hóa và khái quát hóa. Không phân
tích thì không hiểu được các bộ phận, ngược lại, không tổng hợp thì
không thể hiểu được sự tác động (liên hệ) giữa các bộ phận và không
thể hiểu được vai trò của từng bộ phận đối với cả chỉnh thể. Phân tích
chuẩn bị điều kiện cho tổng hợp, tổng hợp giúp cho phân tích đi sâu
hơn vào bản chất của sự vật. Phân tích và tổng hợp giả định lẫn nhau,
tạo tiền đề và khả năng cho nhau. Nhờ đó con người mới nhận thức
được bản chất, quy luật của sự vật.
Do vậy, trong nhận thức con người phải gắn kết chặt chẽ hai
phương pháp, không nên cường điệu phương pháp này, coi nhẹ phương
pháp kia.
* Phương pháp quy nạp và diễn dịch
Quy nạp là phương pháp đi từ tri thức về cái riêng đến tri thức về
cái chung, từ tri thức ít chung đến tri thức chung hơn.
Điều kiện khách quan của quy nạp là tính lặp lại của một loại
thuộc tính nào đó. Quy nạp giúp cho việc khái quát kinh nghiệm thực
tiễn, nó có vai trò quan trọng ở chỗ nhờ nó, con người khám phá ra quy
luật, đề ra các giả thuyết. Tuy nhiên quy nạp có hạn chế là quy nạp tuy
rút ra thuộc tính chung nhưng chưa thể xác định được thuộc tính ấy là
tất nhiên hay ngẫu nhiên, là bản chất hay không bản chất. Để khắc phục
phải bổ sung bằng diễn dịch.
Diễn dịch là phương pháp đi từ tri thức về cái chung đến tri thức
về cái riêng, từ tri thức chung đến tri thức ít chung hơn.
Diễn dịch là quá trình vận dụng nguyên lý chung để xem xét cái
riêng, rút ra kết luận từ nguyên lý chung đã biết. Nếu như quy nạp là


16

phương pháp dùng để khái quát các tài liệu kinh nghiệm thì diễn dịch
là phương pháp xây dựng lý thuyết mở rộng. Do vậy diễn dịch có vai
trò quan trọng đối với khoa học lý thuyết; dựa trên cơ sở diễn dịch
người ta xác định được những mối quan hệ trong thuộc tính tất nhiên,
bản chất của các sự vật, hiện tượng.
Hình thức đơn giản nhất của suy lý diễn dịch đã được nghiên cứu
từ thời Aritxtot là luận ba đoạn. Ngày nay dựa vào diễn dịch các nhà
khoa học đi xây dựng các phương pháp như tiên đề, giả thuyết - diễn
dịch.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, diễn dịch và
quy nạp tuy có chiều hướng đối lập nhau, nhưng có quan hệ hữu cơ,
làm tiền đề cho nhau bổ sung cho nhau. Nhờ khái quát các tài liệu kinh
nghiệm đã tích luỹ được, quy nạp chuẩn bị căn cứ để dự kiến về
nguyên nhân các hiện tượng nghiên cứu, về sự tồn tại mối liên hệ tất
yếu. Còn diễn dịch thì luận chứng về mặt lý thuyết cho những kết luận
thu được bằng quy nạp, loại trừ tính không chắc chắn của các kết luận
ấy và biến chúng thành tri thức tin cậy.
Phương pháp quy nạp giúp ta hiểu được cái chung còn diễn dịch
giúp ta đi từ cái chung để hiểu cái riêng. Vì thế, phương pháp diễn dịch
phải gắn liền, bổ sung cho phương pháp quy nạp. Nếu chỉ dùng phương
pháp quy nạp đơn thuần ta không thể hiểu được ý nghĩa của cái chung
đối với sự nhận thức cái riêng.
Như vậy, quy nạp và diễn dịch là hai phương pháp cần thiết để tư
duy đạt tới tri thức luận. Hai phương pháp này có mối liên hệ biện
chứng với nhau, nó dựa trên cơ sở khách quan là mối quan hệ biện


17

chứng giữa cái chung và cái riêng. Vì vậy, trong nhận thức và nghiên
cứu khoa học phải vận dụng tổng hợp cả quy nạp và diễn dịch.
* Phương pháp lịch sử và lôgic
Lịch sử là phương pháp phản ánh trong tư duy quá trình lịch sửcụ thể của sự vật với những chi tiết của nó trong sự vận động phát triển
vốn có. Chẳng hạn việc nghiên cứu chủ nghĩa tư bản bằng phương pháp
lịch sử đòi hỏi phải bắt đầu mô tả quá trình phát sinh, phát triển của
chủ nghĩa tư bản trong các nước riêng lẻ ở châu Âu, châu Mỹ với vô số
các chi tiết và các hình thức cụ thể bao gồm cái phổ biến, tất nhiên, đặc
thù, đơn nhất, ngẫu nhiên.
Phương pháp lịch sử có giá trị to lớn và quan trọng nhờ nó con
người có thể nắm bắt tương đối trọn vẹn quá trình đã diễn ra sự vật. Do
đó nếu không có phương pháp lịch sử thì không có khoa học lịch sử.
Tuy nhiên phương pháp lịch sử có hạn chế ở chỗ, phương pháp này
chưa chỉ rõ mối liên hệ bản chất, tất yếu xuyên suốt bên trong một sự
vật hay nhiều sự vật.
Lôgíc là phương pháp vạch ra bản chất, tính tất nhiên, tính quy
luật của sự vật dưới hình thức lý luận trừu tượng và khái quát.
So với phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc có nhiệm vụ
dựng lại cái lôgíc khách quan trong sự phát triển của sự vật nên có ưu
thế ở chỗ nó không những phản ánh được bản chất, tất yếu, quy luật
phát triển của sự vật mà nó còn phản ánh được lịch sử phát triển của sự
vật ấy (một cách tóm tắt, khái quát, trên những giai đoạn chủ yếu).
Phương pháp lôgíc có khả năng kết hợp trong bản thân mình hai yếu tố
của sự nghiên cứu: Nghiên cứu kết cấu của sự vật cùng với hiểu biết
lịch sử của sự vật trong sự thống nhất chặt chẽ của chúng.


18

Trong bộ Tư bản, phương pháp logic được C.Mác sử dụng như là
phương pháp chủ yếu để nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa. Bằng sự phân tích logic một hệ thống các khái niệm, phạm trù
kinh tế, C.Mác đã vạch ra được quy luật phát sinh, phát triển và diệt
vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản. Với phương pháp logic, sự phát
triển logic các khái niệm hoàn toàn chỉ đóng khung trong phạm vi trừu
tượng thuần túy, một cách tư biện. Ngược lại, sự phân tích logic đòi hỏi
phải có những minh họa lịch sử, phải thường xuyên tiếp xúc với hiện
thực. Ở đây, sự kiểm tra bằng sự việc, bằng thực tiễn, được thưc hiện
qua mỗi bước phân tích.
Trong nhận thức khoa học cần phải áp dụng phương pháp lịch sử
khách quan và phương pháp logic. Nhưng phương pháp lịch sử khách
quan đòi hỏi phải phản ánh trong tư duy quá trình hiện thực của sự
sống và sự vật với những cấu trúc của nó, phải nắm lấy sự vận động
lịch sử trong toàn bộ tính phong phú và khách quan của thế giới, phải
theo dõi mọi bước đi trong khởi nguyên và kết thúc theo trình tự tồn tại
với thời gian khách quan nhất định.
Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là hai phương pháp
nghiên cứu khác nhau, nhưng lại gắn bó chặt chẽ với nhau. Bởi vì
muốn hiểu biết bản chất và quy luật của sự vật thì phải hiểu lịch sử
phát sinh, phát triển của nó. Mặt khác có nắm được bản chất và quy
luật của sự vật mới nhận thức thức được lịch sử của nó một cách đúng
đắn và sâu sắc. Phương pháp lịch sử cũng phải nắm lấy cái lôgíc, phải
rút ra sợi dây lôgíc chủ yếu của lịch sử thông qua việc phân tích các sự
kiện và hiện tượng cụ thể. Còn phương pháp lôgíc phải dựa trên các tài
liệu lịch sử để khái quát và chứng minh và rốt cuộc phải đem lại lịch sử
trong tính bản chất của nó. Lịch sử mà thiếu lôgíc sẽ mù quáng, còn


19

lôgíc mà thiếu lịch sử thì không có đối tượng, dễ rơi vào chủ quan, tư
biện.
* Phương pháp trừu tượng và cụ thể
Các sự vật, hiện tượng của thế giới bao giờ cũng tồn tại dưới
dạng cái cụ thể. Cái cụ thể này được phản ánh vào nhận thức dưới hai
hình thức: cái cụ thể cảm tính và cái cụ thể trong tư duy. Cái cụ thể
cảm tính là điều bắt đầu của nhận thức; cái cụ thể trong tư duy là kết
quả của tư duy lý luận, nó phản ánh cái cụ thể khách quan bằng hệ
thống những khái niệm, phạm trù, quy luật.
Cái trừu tượng là kết quả sự trừu tượng hoá một mặt, một mối
liên hệ nào đó trong tổng thể phong phú của sự vật. Vì vậy, cái trừu
tượng là một bộ phận nào đó của cái cụ thể, biểu hiện một mặt nào đó
của cái cụ thể, là bậc thang của sự xem xét cái cụ thể. Từ nhiều cái trừu
tượng tư duy tổng hợp lại thành cái cụ thể trong tư duy.
Trong nhận thức, cái trừu tượng và cái cụ thể luôn có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau. Chúng tạo thành một quan hệ xác định, trong đó cái trừu tượng
là hình tái tồn tại phiến diện của cái cụ thể, còn cái cụ thể lại là cái toàn vẹn
hơn, đa dạng hơn cái trừu tượng. Cái trừu tượng gián đơn hơn, cô đọng hơn
cái cụ thể. Còn cái cụ thể phong phú hơn, phức tạp hơn. Cái trừu tượng và cái
cụ thể là những phạm trù có tính tương đối, vì cái mà trong một quan hệ nào
đó, có thể xuất hiện như một cái trừu tượng, lại có thể tồn tại như là cái cụ thể
trong một quan hệ khác. Tuy nhiên, trong một quan hệ nhất định, chúng luôn
luôn tồn tại như một thể thống nhất. Không có cái trừu tượng ngoài cái cụ thể
và ngược lại, không có cái cụ thể nằm ngoài cái trừu tượng.
Cái cụ thể là tổng hợp vô số những mặt mà người ta đùng phương pháp
trừu tượng hoá để nhận thức được trong sự thống nhất và phong phú của


20

những mặt ấy. Nó là sự hiểu biết sâu sắc, phong phú nhất về các sự vật, hiện
tượng của thế giới khách quan. Nó vượt tầm cái cụ thể cảm tính, vì nó không
phản ánh những tính quy định bề ngoài của sự vật trong mối liên hệ trực tiếp
của những tính quy định ấy (cảm giác có thể biết được mối liên hệ đó) mà nó
phản ánh những mặt bản chất trong mối liên hệ của các sự vật và hiện tượng
đó. Hơn nữa, cái cụ thể còn vượt hơn cái trừu tượng vì nó không phản ánh
một mặt bản chất nào đó của sự vật, hiện tượng , mà nó phản ánh các mặt bản
chất khác nhau trong muối liên hệ hệ chúng, nghĩa là nó bao quát sự vật một
cách toàn diện.
Cái trừu tượng là sự phủ định cái cụ thể cảm tính, còn cái cụ thể là
tổng hợp vô số những trừu tượng, là sự phủ định cái trừu tượng. Nhưng đó
không phải là sự quay trở lại cái cụ thể đâu tiên một cách giản đơn, mà là
sự,quay trở lại cái cụ thể trong giai đoạn phát triển cao hơn của nhận thức.
Trong "Lời nói đầu" Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, C. Mác
viết: "Cái cụ thể sở dĩ là cụ thể bởi vì nó là sự tổng hợp của nhiều tính quy
định, do đó, nó là sự thống nhất của cái đa dạng. Cho nên trong tư duy, nó
biểu hiện ra là một quá trình tổng hợp, là kết quả, chứ không phải là điểm
xuất phát, mặc dù nó là điểm xuất phát thực sự và do đó cũng là xuất phát của
trực quan và biểu tượng”. Ở đây, ta bắt gặp hai khái niệm điểm xuất phát.
Thứ nhất, điểm xuất phát với tư cách là đối tượng và tiền đề của sự
nghiên cứu. Một mặt vì hiện thực khách quan là nguồn gốc, là đối tượng của
nhận thức cho nên sự nghiên cứu, suy đến cùng, phải hướng tới hiện thực ấy,
xuất phát từ hiện thực ấy. Mặt khác, hiện thực ấy trong toàn bộ của nó lại tồn
tại như một tiền đề mà chủ thể 'nhận thức cần phải giả định, một khi đối
tượng nghiên cứu trực tiếp chỉ là một mặt cá biệt nào đó của nó.


21

Thứ hai, điểm xuất phát với tư cách là một mảng riêng biệt nào đó của
đối tượng mà bước đâu của quá trình nghiên cứu trực tiếp hướng tới. Trong
khái niệm sau, điểm xuất phát là cái cụ thể hiện thực - cụ thể cảm tính. Trong
khái niệm sau, điểm xuất phát lại là cái trừu tượng. Chẳng hạn, khi nghiên
cứu hệ thống các quan hệ sản xuất TBCN, Mác lấy quan hệ hàng hoá - một
quan hệ đơn giản và trừu tượng của hệ thống đó làm diềm xuất phát. Còn khi
bản thân quan 'hệ hàng hoá tồn tại với tư cách là đối tượng, Mác lại bắt đầu
việc nghiên cứu từ hình thái giá trị giản đơn.
Như vậy, vấn đề đặt ra là: Tư duy hướng về hiện thực, nhưng làm thế
nào và từ đâu, từ góc độ nào của cái hiện thực ấy, để khám phá ra bản chất
của đối tượng ấy. Tư duy xuất phát từ cái cụ thể mới chỉ vạch ra tiền đề và
đối tượng, trong khi đó thì đối tượng và phương thức tiếp cận đối tượng lại là
những vấn đề khác nhau. Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể chỉ là
phương pháp, nhờ nó mà tư duy quán triệt được cái cụ thể, vấn đề ở đây
không phải là bắt đầu từ cái cụ thể ( khi điều này là một giả định), mà là quán
triệt cái cụ thể theo phương thức nào? Sự nghiên cứu cẩn bắt đầu từ mảng
nào của hiện thực, khi mà người ta không thể nào nắm bắt được ngay hiện
thực trong toàn bộ sự thống nhất và đa dạng của nó? Để có thể nhận thức
được hiện thực ấy, tư duy của con người phải xem xét đối tượng trong từng
mối quan hệ, từng mặt riêng biệt, chỉ khi nào nhận thức được toàn bộ những
mặt ấy thì tư duy con người mới tái hiện được cái cụ thể sinh động trong tư
duy. Rõ ràng, ở đây chúng ta lại bắt gặp một khái niệm khác về điểm xuất
phát. Điểm xuất phát đó không phải là cái cụ thể, mà là cái trừu tượng với tư
cách là một khía cạnh, một quan hệ giản đơn nhất, có tính chất cơ sở của cái
cụ thể sinh động. Đi từ cái trừu tượng, mố xẻ, phân tích nó để tìm ra những
mối liên hệ quy định và từ nó đến cái toàn bộ, phát hiện ra bản chất của cái


22

toàn bộ, sau đó trở về cái cu thể (cảm tính) với toàn bộ sự sinh động - cụ thể
của nó đó chính là phương pháp mà nhớ nó, tư duy nắm bắt được cái cụ thể.
Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể chí phủ nhận cái cụ thể là
điểm xuất phát của nhận thức ở chỗ , nó là sự thống nhất của cái muôn vẻ, là
sự tổng hợp của nhiều định nghĩa khác nhau, nghĩa là một cái toàn bố sinh
động do nhiều mặt và nhiều thuộc tính hợp thành, một cái toàn bộ mà ta
không thề nhận thức ngay được. Muốn nghiên cứu cái toàn bộ ấy, người ta
phải dùng phép phân tích (phép trừu tượng hoá) để tách nỏ ra từng mặt, từng
bộ phận riêng biệt để nghiên cửu riêng rẽ từng mặt, từng bộ phận ấy và sau
đó mới thống nhất những mặt và những bộ phận ấy lại trong tư duy, mới mô
tả cái toàn bộ cụ thể trong những định nghĩa phong phú của nó. Chỉ có trong
tư duy, cái cụ thể mới xuất hiện với tư cách là quá trình tổng hợp với tư cách
là kết quả chứ không phải là điểm xuất phát của sự nghiên cứu.
Không phải chỉ có tư duy của từng cá nhân riêng lẻ, không phải chỉ có
quá trình riêng lẻ của nhận thức mới đi theo con đường ấy, mà về mặt lịch sử
nhận thức nhân loại cũng phát triển như thế. Loài người đứng trước một cái
toàn bộ phức tạp và muôn vẻ giới tự nhiên, song tư duy con người lại không
thể mô tả được giới tự nhiên đó ngay tức khắc trong tất cả sự phong phú và
phức tạp của nó. Lịch sử khoa học đã trải qua một thời kỳ rất dài, trong đó
phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp phân tích, tách giới tự
nhiên ra thành từng mặt, từng bộ phận để tiến hành nghiên cứu. Thời kỳ đó
bắt đâu từ nửa sau thế kỷ XV và kết thúc vào thế kỷ XVIII. Tư tưởng vĩ đại
về sự thống nhất cửa thế giới cho rằng tất cả những hiện tượng muôn hình,
muôn vẻ của tự nhiên chỉ là biểu hiện của vật chất vĩnh viễn vận động và phát
triển, chuyển hoá từ hình thái này sang hình thái khác. Tư tưởng này là kết
quả của quá trình phát triển lâu dài của nhận thức loài người. Như vậy, tự
nhiên với tư cách là sự thống nhất của cái muôn vẻ chỉ xuất hiện trong tư duy


23

như là kết quả chứ không phải là điểm xuất phát của nhận thức. Cả trong quá
trình nghiên cứu các hiện tượng riêng lẻ cá biệt, lẫn trong tiến trình phát triển
lịch sử của nhận thức, cái cụ thể chỉ có thể được phác hoạ lại trong tư duy
vào lúc kết thúc chứ không phải vào lúc khởi đầu của nhận thức.
Nếu như cái cụ thể không là điểm xuất phát của nhận thức thì nó là
điểm xuất phát trong hiện thực - điểm xuất phát của quan sát và biểu tượng.
Mệnh đề này của Mác có một ý nghĩa to lớn về nguyên tắc. Nó đã chống lại
sự xuyên tạc một cách duy tâm về quá trình nhận thức và vạch ra cái cơ sở
duy nhất khoa học - cơ sở duy vật của nhận thức. Mác đã phê phán Hêgen và
ông cho rằng sự vận động của tư duy đi từ cái trừu tượng đến cái cụ thể là
một quá trình hình thành cái cụ thể chính ngay trong hiện thực khách quan.
Hêgen đã coi tư duy có trước vả thần thánh hoá tư duy dưới hình thức "ý
niệm tuyệt đối” còn hiện thực khách quan xuất hiện và phát triển được là nhờ
kết quả vận động của các phạm trù logic. Trong khi đó thì phương pháp đì từ
trừu tượng đến cụ thể, Mác khẳng định, chỉ là cái phương pháp nhờ nó mà tư
duy quán triệt cái cụ thể và tái tạo ra nó với tư cách là một cái cụ thể trong tư
duy. Nhưng nó quyết không phải là quá trình phát sinh ra cái cụ thể.
Đấy chính là điểm khác nhau cơ bản về phương pháp giữa Mác và
Hêgen. Hêgen đã sa vào ảo tưởng cho rằng hiện thực là kết quả của tư duy tự
tông hợp lại trong bản thân nó, tự đi sâu vao bản thân nó và phát triền lên.
Gạt bỏ cái ảo tưởng duy tâm đó, Mác phân biệt một bên là cái cụ thể với tính
cách là điểm xuất phát thực sự và do đó, cũng là điểm xuất phát của trực quan
và biểu tượng với một bên là cái cụ thể trong tư duy với tính cách là một tổng
thể phong phú của rất nhiều qui định và quan hệ. Cái cụ thể thứ hai này chính
la sự tái hiện về mặt lý luân của đối tượng cụ thể - cảm tính, là kết quả tổng
hợp của nhận thức khoa học.


24

Đi từ trừu tượng đến cụ thể là phương pháp nhận thức khoa học quan
trọng. Theo C.Mác, "phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể chỉ là cái
phương pháp nhờ nó mà tư duy quán triệt được cái cụ thể và tái tạo ra nó với
tư cách là một cái cụ thể trong tư duy". Phương pháp này đã được ông xây
dựng trên cơ sở duy vật biện chứng và vận dụng tài tình trong tác phẩm Tư
bản.
Trong nhận thức khoa học cũng như xây dựng đề tài, lý thuyết khoa học,
việc vận dụng thành thạo phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể cho phép
chủ thể nhận thức thâm nhập sâu vào bản chất và quy luật của đối tượng, hiểu
được tất cả các mặt và quan hệ tất yếu của đối tượng trong mối liên hệ và phụ
thuộc lẫn nhau giữa chúng.
Ngoài những phương pháp nêu trên, trong nhận thức khoa học còn
nhiều phương pháp khác như phương pháp mô hình hóa, phương pháp hệ
thống – lý giải…Trên đây chỉ là những phương pháp nhận thức khoa học cơ
bản, những phương pháp khác chúng tôi sẽ tìm hiểu thêm trong quá trình
nghiên cứu khoa học.


25

KẾT LUẬN
Nhận thức khoa học là một quá trình mà mục đích của nó là đạt tới
chân lý. Một kết luận hay giả thuyết khoa học chỉ được coi là đúng đắn, là
chân lý khi nó được xác nhận bởi thực tiễn. Trong quan hệ với nhận thức,
thực tiễn không chỉ là cơ sở của nhận thức mà còn là tiêu chuẩn của chân lý.
Thông qua thực tiễn, nhận thức phát huy được vai trò chỉ đạo hoạt động của
con người trong cải tạo hiện thực khách quan, đồng thời, được kiểm nghiệm,
bổ sung, phát triển ngày càng hoàn thiện. Tuy nhiên, không phải mọi sự vận
dụng tri thức khoa học vào thực tiễn đều được bao hàm trong phạm trù nhận
thức khoa học. Sự áp đặt gán ghép một lý thuyết nào đó vào cuộc sống một
cách thô thiển, cứng nhắc không những không đem lại hiệu quả, mà còn bộc
lộ tính phản khoa học trong quá trình nhận thức.
Phương pháp nhận thức khoa học là thành phần cơ bản trong cấu trúc
của nhận thức khoa học, giữ vai trò trực tiếp quy định hiệu quả quá trình tiếp
nhận, hình thành, phát triển và phát huy tri thức khoa học. Phương pháp nhận
thức khoa học là những cách thức chung nhất của tư duy trong tiếp cận hiện
thực, nghiên cứu các đối tượng trong sự vận động, phát triển, biến hoá không
ngừng của nó. Phương pháp nhận thức khoa học phải được hiểu như một hệ
thống tổng hợp các cách thức, biện pháp tư duy nhất định và được tổ chức,
sắp xếp sao cho có thể phối hợp được với các tri thức "nền", tri thức tiền đề.
Nó đóng vai trò như các công cụ, phương tiện cho hoạt động nhận thức, sáng
tạo những tri thức khoa học mới từ hệ thống tri thức khoa học đã có.
Nhằm phát huy vai trò của các phương pháp nhận thức khoa học, chủ
thể nhận thức không ngừng sáng tạo liên hệ chặt chẽ với thực tiễn. Có như
vậy nhận thức khoa học mới thực sự đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×