Tải bản đầy đủ

KInh tế CT TBCN CT CCLLCTHC

HD ôn thi kinh tế chính trị TBCN- CT CCLLCTHC
( Nguồn: http://caocapbp8.org/index.php?language=vi&nv=download&op=Slide-baigiang/Kinh-Te-QD ).

CÂU MỘT: Trình bày những phương pháp khoa học của kinh tế chính trị Mác-Lênin:
Tên phương pháp; vai trò của phương pháp đó; Sự vận dụng những phương pháp đó
trong chương trình kinh tế chính trị đã học.
TRẢ LỜI
Kinh tế chính trị học là khoa học xã hội nghiên cứu các quy luật kinh tế của sản xuất xã hội
và phân phối của cải vật chất trong các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội loài người.
Trong quá trình hình thành và phát triển, kinh tế chính trị học đã có nhiều trường phái khác
nhau. Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện và hình thành các trường phái
kinh tế chính trị học tư sản cổ điển, kinh tế chính trị học tư sản cận đại, kinh tế chính trị học tư
sản hiện đại. Các trào lưu này đều bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản.
Phân tích phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và tiếp thu có phê phán những yếu tố khoa
học trong kinh tế chính trị học tư sản cổ điển, Mác và Aênghen đã xây dựng nên kinh tế chính
trị học vô sản thực sự khoa học. Sau này, trong điều kiện mới, Lênin đã kế thừa và phát triển
thành kinh tế chính trị học Mác-Lênin, một bộ phận hợp thành quan trọng nhất của lý luận chủ
nghĩa Mác-Lênin.
Kinh tế chính trị học Mác-Lênin giúp ta có được phương pháp luận đúng, một mặt để làm cơ
sở cho các môn kinh tế khác, mặt khác nhờ phương pháp luận đúng để có thể nhận thức được
bản chất của các hiện tượng của các quá trình kinh tế và từ đó tìm ra các quy luật kinh tế, bao

gồm các quy luật kinh tế chung là các quy luật có ở mọi nền kinh tế và các quy luật đặc thù ở
từng hình thức sản xuất của nền kinh tế, quy luật riêng có trong từng phương thức sản xuất.
Trong phạm vi lớn, chức năng thực tiễn của kinh tế chính trị học Mác-Lênin góp phần quan
trọng để hình thành mô hình, đường lối chiến lược kinh tế. Từ đó làm cơ sở cho các chính sách
kinh tế ở từng thời kỳ phát triển của các quốc gia. Trong phạm vi nhỏ là phạm vi doanh nghiệp,
các đơn vị sản xuất kinh doanh. Mục đích trực tiếp của các doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế,
hay là lợi nhuận. Do vậy, các doanh nghiệp không thể sử dụng một cách trực tiếp của các
nguyên lý của kinh tế chính trị học Mác-Lênin vào trong quá trình kinh doanh để có được hiệu
quả cao, lợi nhuận nhiều, nhưng nó có thể giúp cho doanh nghiệp thích nghi được với các quy
luật kinh tế, nhờ đó mà phát triển bền vững hơn.
Để nghiên cứu kinh tế chính trị học Mác-Lênin phải có phương pháp khoa học.
Phương pháp chung, đó là phương pháp mà mọi môn khoa học đều sử dụng chúng . Trong đó
có các phương pháp có tính phương pháp luận:
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học được sử dụng để nâng từ nhận thức kinh nghiệm lên
thành nhận thức khoa học, từ trực quan sinh động lên tư duy trừu tượng. Để sử dụng phương
pháp này, người ta thường tìm các biện pháp để loại bỏ những yếu tố, những quan hệ không bản
chất để tập trung vào những yếu tố và quan hệ bản chất hơn của các sự vật và hiện tượng, hình
thành các phạm trù, quy luật, rồi sau đó vạch rõ mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng. Trong
khoa học tự nhiên, để phát hiện các quy luật, để chứng minh các giả thiết, có thể thực hiện trong
phòng thí nghiệm. Nhưng trong kinh tế chính trị phương pháp thực nghiệm không thể thực hiện
được ở phòng thí nghiệm. Để chứng minh cho một tư tưởng kinh tế chỉ có thể thông qua cuộc
sống thực tế với tất cả mối quan hệ xã hội hiện thực.
1


Trong kinh tế chính trị cũng như trong các khoa học xã hội nói chung, phương pháp trừu
tượng hóa có ý nghĩa nhận thức lớn lao, đòi hỏi gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên, tách ra những
cái điển hình, bền vững ổn định, trên cơ sở ấy nắm được bản chất của các hiện tượng, từ bản
chất cấp một tiến tới bản chất ở trình độ sâu hơn hình thành những phạm trù và những quy luật
phản ánh những bản chất đó.
Vì không hiểu đúng phương pháp trừu tượng hóa khoa học nên có ý kiến cho rằng: Các học
thuyết kinh tế của Mác thiếu tính thực tiễn do sử dụng nhiều giả định khi phân tích. Thực ra,
khi vận dụng một cách đúng đắn thì trừu tượng hóa là sức mạnh của tư duy khoa học, không
làm cho tư duy xa rời hiện thực mà giúp hiểu rõ hiện thực ở cấp độ bản chất, hiểu quy luật vận
động của hiện thực, điều mà nhận thức cảm tính không bao giờ có thể đạt được. Ví dụ để phát
hiện bản chất của chủ nghĩa tư bản có thể và cần phải trừu tượng hóa, không tính đến sản xuất
hàng hóa nhỏ của những thợ thủ công và nông dân các thể, mặc dù nó vẫn tồn tại ở mức độ
nhiều hay ít trong mỗi nước tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, không được bỏ qua quan hệ hàng hóatiền tệ, nhất là không được bỏ qua việc chuyển sức lao động thành hàng hóa vì không có quan
hệ hàng hóa- tiền tệ và không có hàng hóa sức lao động thì cũng không tồn tại chủ nghĩa tư bản.
Chính vì vậy mà có ý kiến cho rằng:”Do Mác đưa ra các giả thiết khi nghiên cứu đã làm cho


các kết luận xa rời thực tế cuộc sống khiến chúng không còn mang tính khoa học” là ý kiến sai
và đã được giải thích ở trên.
Phương pháp gắn liền logic với lịch sử trong nghiên cứu. Quan hệ logic đó là quan hệ tất
nhiên, nó nhất định xảy ra khi có những tiền đề cho quan hệ đó. Lịch sử đó là những hiện thực
của logic ở một đối tượng cụ thể, trong một không gian và thời gian xác định. Sự thống nhất
giữa logic và lịch sử là xuất phát từ quan niệm cho rằng xã hội ở bất cứ nấc thang phát triển nào
cũng đều là một cơ thể hoàn chỉnh, trong đó mỗi yếu tố đều nằm trong mối liên hệ qua lại nhất
định. Lịch sử là một quá trình phức tạp và nhiều vẽ, trong đó chứa đựng những ngẫu nhiên,
những sự phát triển quanh co. Tuy nhiên sự vận động của lịch sử là một quá trình phát triển có
tính quy luật. Phương pháp lịch sử đòi hỏi phải nghiên cứu các hiện tượng và quá trình kinh tế
qua các giai đoạn phát sinh, phát triển và tiêu vong của chúng trong một không gian và thời
gian xác định. Phương pháp logíc lại đòi hỏi phải tìm ra cái chung cho mỗi sự phát triển đó.
Quan hệ logíc là quan hệ có tính tất nhiên, nhất định xảy ra khi có tiền đề. Việc nghiên cứu lịch
sử sẽ giúp cho việc tìm ra logíc nội tại của đối tượng và sự nhận thức về cơ cấu nội tại của xã
hội lại làm cho nhận thức về lịch sử trở nên khoa học. Điều này thể hiện rõ trong công trình
nghiên cứu của Mác về chủ nghĩa tư bản.
Như đã biết tư bản thương nghiệp tồn tại từ lâu trước chủ nghĩa tư bản. Nhưng khi nghiên
cứu chủ nghĩa tư bản, Mác không bắt đầu từ tư bản thương nghiệp, sở dĩ như thế là vì đối tượng
nghiên cứu của Mác là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà trong lịch sử chủ nghĩa tư
bản ra đời bằng hai cách: Một là, người sản xuất hàng hóa nhỏ vươn lên thành nhà tư bản, hai là
người thương nhân lúc đầu chỉ đón lấy sản phẩm thừa của người sản xuất nhỏ, dần dần nắm lấy
sản xuất đầu tư xây dựng xí nghiệp để đưa nhiều hàng hóa ra thị trường. Trong hai cách trên
nhà tư bản đề đảm nhận cả sản xuất và lưu thông. Sau này sự lớn lên của qui mô kinh doanh
mới dẫn đến sự phân công xã hội xuất hiện loại nhà tư bản chuyên trách khâu lưu thông, tức là
nhà tư bản thương nghiệp. Chính vì vậy khi phân tích lôgíc, Mác đã giả định rằng tư bản công
nghiệp là một thể thống nhất đảm nhiệm cả khâu lưu thông, dịch vụ tiền tệ, thanh toán. Rồi sau
mới phân tích sự ra đời của tư bản thương nghiệp, tư bản cho vay và tín dụng ngân hàng. Đây
chính là biểu hiện của sự kết hợp chặt chẽ lôgíc và lịch sử.
Thống nhất các khái niệm và phạm trù. Khái niệm và phạm trù là cơ sở để hình thành các
nguyên lý khoa học, chúng phải được hình thành và sử dụng một cách thống nhất, nhờ đó mà
mang tính phổ biến.
2


Các phương pháp mang tính kỹ thuật như thống kê, lập biểu, đồ thị, Phân tích, tổng hợp.
Phương pháp riêng của kinh tế chính trị học Mác-Lênin là:
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Phương pháp này đòi hỏi phải có quan
điểm khách quan, trung thực, xem xét sự vật một cách toàn diện, mang tính hệ thống, trong sự
vận động và phát triển, có quan điểm lịch sử cụ thể. Xem xét các hiện tượng và quá trình kinh
tế trong mối liên hệ chung và sự tác động lẫn nhau trong trạng thái phát triển không ngừng,
trong tiến trình đó sự tích lũy những biến đổi về lượng sẽ dẫn đến những biến đổi về chất.
Như khi nghiên cứu phương thức sản xuất, Mác đã vận dụng phương pháp biện chứng duy
vật để phân tích: “Con người không thể tự ý lựa chọn quan hệ sản xuất nói chung và quan hệ sở
hữu nói riêng một cách chủ quan duy ý chí. Kiểu quan hệ sản xuất-quan hệ sở hữu này hay kiểu
quan hệ sản xuất-quan hệ sở hữu khác tùy thuộc vào tính chất và trình độ của lực lượng sản
xuất xã hội”. Bất cứ một sự cải biến nào về mặt quan hệ sở hữu cũng đều là kết quả tất yếu của
việc tạo nên những lực lượng sản xuất mới.
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, khi trình độ phát triển và tính chất của lực
lượng sản xuất biến đổi thì sớm hay muộn quan hệ sản xuất cũng phải biến đổi theo cho phù
hợp. Tuy nhiên, quan hệ sản xuất không hoàn toàn thụ động, mà có tác động trở lại lực lượng
sản xuất, quan hệ sản xuất thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù hợp với tính chất
và trình độ của lực lượng sản xuất. Trái lại trở thành trói buộc, kìm hãm lực lượng sản xuất khi
nó đã lỗi thời hoặc vượt trước không phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất.
Tóm lại, để nghiên cứu kinh tế chính trị học Mác-Lênin cần có phương pháp khoa học, tổng
hợp nhiều phương pháp, trong đó phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là trọng
tâm, kết hợp với các phương pháp khác

3


CÂU HAI: Trình bày những yếu tố sản xuất cơ bản của nền sản xuất xã hội: Các khái
niệm về các yếu tố sản xuất, vai trò.xuất, vai trò.
TRẢ LỜI
Bất kỳ nền sản xuất xã hội nào, kể cả nền sản xuất hiện đại, đều bao gồm ba yếu tố cơ bản
là: sức lao động của con người, tư liệu lao động và đối tượng lao động.
-Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người, là điều kiện cơ bản của sản xuất
ơ bất kỳ xã hội nào. Nói cách khác, sức lao động là những năng lực của con người để hình
thành khả năng lao động sản xuất tạo ra những của cải vật chất và tinh thần cho đời sống xã hội.
Khi sức lao động hoạt động thì trở thành lao động. Lao động là hoạt động riêng của loài người,
nó khác về cơ bản với hoạt động bản năng của động vật …
Năng lực đó gồm hai loại: thứ nhất được gọi là thể lực, đó là năng lực để duy trì lao động có
tính thể lực của con người, nó bao gồm thể chất và khí chất. Trong đó thể chất là năng lực nội
sinh của con người đảm bảo năng lượng cần thiết cho người trong quá trình lao động, thường
được biểu hiện ra bằng tình trạng sức khỏe của mỗi người. Khí chất là năng lực về mặt tâm lý
để hình thành cá tính của mỗi người trong hoạt động. Thứ hai là trí lực, đó là năng lực sáng tạo
của con người, là cơ sở cho hoạt động trí tuệ, thường bao gồm những kinh nghiệm, những tri
thức đã được tích lũy cùng với khả năng vận dụng những kinh nghiệm và tri thức đó trong quá
trình hoạt động.
Yếu tố thể lực không thể thiếu đối với sức lao động, nhưng là yếu tố có giới hạn cả về mặt
tự nhiên cũng như về mặt xã hội. Năng lực sáng tạo của con người khác với yếu tố sản xuất vật
chất khác ở chỗ nó không mất dần đi trong quá trình sử dụng mà chỉ mất đàn đi khi không được
sử dụng. Càng sử dụng lại càng có năng lực cao hơn. Không những thế, chính năng lực sáng tạo
của con người mới làm cho quá trình lao động của con người khác với những hoạt động có tính
bản năng của thế giới sinh vật.
Thể lực và trí lực của một sức lao động nào đó phải thỏa mãn được những yêu cầu về trình
độ ở mỗi một giai đoạn phát triển thì mới được coi là một sức lao động thực sự trên thực tế.
- Đối tượng lao động là những vật mà lao động của con người tác động vào nhằm cải biến
chúng phù hợp với nhu cầu của mình. Đối tượng lao động gồm có: Loại có sẵn trong tự nhiên
mà lao động của con người chỉ cần tách nó khỏi môi trường tồn tại của nó là có thể sử dụng
được, như gỗ trong rừng nguyên thủy, cá ngoài biển, than ở mỏ… Loại đã có sự tác động của
lao động gọi là nguyên liệu, như thép thỏi trong nhà máy cơ khí, gỗ ở xưởng mộc … Với sự
phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật, con người ngày càng tạo ra nhiều đối tượng lao
động có chất lượng mới.
- Tư liệu lao động là toàn bộ là những vật mà con người dùng để tác động vào đối tượng lao
động, để truyền dẫn lao động của mình tới đối tượng lao động làm biến đổi chúng theo yêu cầu
của mình. Tư liệu lao động gồm: Công cụ lao động là bộ phận quan trọng nhất của tư liệu lao
động, nó tác động trực tiếp với đối tượng lao động, quyết định trực tiếp năng suất lao động.
Trình độ công cụ lao động là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế. Hệ
thống các yếu tố vật chất phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất như băng chuyền, ống dẫn,
cần trục, bể chứa… Những yếu tố vật chất khác không tham gia trực tiếp quá trình sản xuất,
nhưng có tác dụng quan trọng đến toàn bộ nền sản xuất xã hội, như đường sá, các phương tiện
giao thông vận tải, thông tin liên lạc, … gọi chung là kết cấu hạ tầng của sản xuất xã hội. Nên
sản xuất càng hiện đại, càng đòi hỏi kết cấu hạ tầng sản xuất phát triển và hoàn thiện.
Tư liệu lao động và đối tượng lao động là các yếu tố vật chất của quá trình sản xuất; chúng
hợp thành tư liệu sản xuất. Quá trình lao động là quá trình kết hợp và tác động của các yếu tố
sản xuất nói trên, tức của sức lao động và tư liệu sản xuất.
4


Tư liệu sản xuất là đối tượng chiếm hữu quan trọng nhất, vì ai là người chiếm hữu những tư
liệu sản xuất thì người đó là người chủ của quá trình kinh tế và nền kinh tế.
Đối tượng lao động có thể là những yếu tố vật chất, phi vật chất; có thể do con người tạo ra
hoặc tự nhiên tạo ra và một yếu tố nào đó có thể là đối tượng lao động của nhiều ngành sản
xuất khác nhau.
Trong tư liệu lao động, hệ thống máy móc công cụ được xác định có vai trò quan trọng
nhất, nó được phân biệt các thời đại kinh tế với nhau, theo thời gian chúng sẽ ngày càng hiện
đại, nhờ đó mà quá trình lao động của con người ngày càng gián tiếp hơn và năng suất lao động
ngày càng cao hơn. Nhưng dù đạt tới trình độ hiện đại như thế nào, lao động bao giờ cũng là lao
động của con người, con người sử dụng máy móc chứ không phải máy móc sử dụng con người.
Sự phân biệt đối tượng lao động và tư liệu lao động cần phải đặt chúng trong những quan hệ
nhất định, vì yếu tố nào đó có thể trong trường hợp này là đối tượng lao động, nhưng trong
trường hợp khác có thể là tư liệu lao động.
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội gắn liền với sự phát triển của hoàn thiện của các yếu
tố sản xuất. Quá trình chuyển biến nền sản xuất nhỏ, lạc hậu sang nền sản xuất lớn, hiện đại đòi
hỏi phát triển đồng bộ cả ba yếu tố sản xuất của mục tiêu cuối cùng là trang bị công nghệ hiện
đại, tiên tiến trong các lĩnh vực của nền sản xuất xã hội.
Trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, sức lao động luôn luôn là yếu tố cơ bản,
có tính chất quyết định. Tuy nhiên, bản thân sức lao động có sự biến đổi căn bản về chất lượng
phù hợp với trình độ của tư liệu sản xuất. Nếu trong nền sản xuất thủ công, trình độ sức lao
động chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và sức cơ bắp thì trong nền sản xuất hiện đại, trình độ sức
lao động dựa vào trí tuệ, tri thức và “chất xám” nói chung. Trong nền sản xuất hiện đại, kho
tàng trí tuệ trở thành tài nguyên quý giá nhất của mỗi dân tộc. Do đó, giáo dục và đào tạo được
nhiều quốc gia coi là quốc sách; ở nước ta, vấn đề này được đặt vào quốc sách hàng đầu. Đại
hội Đảng lần thứ IX của Đảng ta chủ trương: “phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những
động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người-yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững.” (văn kiện Đại hội IX, trang 108)

5


CÂU BA: Phân biệt sản phẩm với hàng hóa, lao động nói chung với lao động sản xuất
hàng hóa, ĐỂ từ đó rút ra những điều kiện chung của nền sản xuất hàng hóa. Ý nghĩa
thực tiễn của việc nhận thức các điều kiện ấy. Ý kiến về: kinh tế hàng hóa chỉ có thể dựa
trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.
TRẢ LỜI:
Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người
và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán. Nhưng không phải bất kỳ vật phẩm nào cũng là
hàng hóa. Những vật phẩm tiêu dùng nhưng không thông qua trao đổi mua bán thì nó không
phải là hàng hóa. Thí dụ: thóc, ngô, khoai của nông dân làm ra nếu chỉ để tiêu dùng cho bản
thân họ thì không phải là hàng hóa, mà chỉ là sản phẩm do lao động làm ra. Mác chỉ ra rằng:
không phải yếu tố vật chất quyết định sản phẩm là hàng hóa, mà phải qua mua bán trao đổi.
Cho nên sản xuất hàng hóa và hàng hóa là phạm trù lịch sử. Vì trong lúc này nó là hàng hóa,
trong lúc khác nó không là hàng hóa. Sản phẩm do con người làm ra với mục đích là chỉ để
tiêu dùng nhưng không đem ra thị trường trao đổi mua bán thì nó là hàng hóa. Những sản phẩm
đem nộp tô cũng không phải là hàng hóa.
Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị. Đó cũng là hai mặt chất và lượng
của hàng hóa.
Giá trị sử dụng là công dụng, là tính có ích của hàng hóa giúp thỏa mãn nhu cầu các của
con người, của xã hội, có thể là nhu cầu cá nhân, có thể là nhu cầu tiêu dùng trong sản xuất như
máy móc, nguyên liệu … có thể là nhu cầu vật chất hay tinh thần . Chính công dụng của vật
phẩm đã làm cho nó trở thành một giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng của vật phẩm do thuộc tính
tự nhiên của vật phẩm quy định. Xã hội loài người càng phát triển thì càng phát hiện ra nhiều
thuộc tính tự nhiên và tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau. Căn cứ vào giá trị sử dụng,
vào công dụng có thể phân biệt được các loại hàng hóa khác nhau. Vì vậy, giá trị sử dụng nói
lên mặt chất của hàng hóa. Giá trị sử dụng xuất phát từ thuộc tính cơ lý hóa tự nhiên của vật
chất nên nó là một phạm trù vĩnh viễn.
Hàng hóa đem trao đổi sẽ có giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ, tức là quan hệ về
số lượng giữa những hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau. Thí dụ: 1mét vãi đổi được 10kg
thóc. Vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau, trao đổi được với nhau vì chúng
thuộc hai sở hữu khác nhau và họ cần đến sản phẩm của nhau. Chúng trao đổi với nhau theo
một tỷ lệ nhất định, vì chúng có cơ sở chung là: đều là sản phẩm của lao động; kết tinh lượng
hao phí lao động như nhau. Cơ sở chung này được gọi là giá trị của hàng hóa.
Như vậy giá trị của hàng hóa là hao phí lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong
hàng hóa. Nó biểu hiện quan hệ sản xuất xã hội của những người sản xuất hàng hóa và cho thấy
thực chất của trao đổi hàng hóa chính là trao đổi hao phí lao động cho nhau. Giá trị hàng hóa là
phạm trù lịch sử riêng có của sản phẩm hàng hóa.
Vậy, sản phẩm khác với hàng hóa ở chỗ: sản phẩm chỉ có thuộc tính giá trị sử dụng; còn
hàng hóa có hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị kết tinh trong hàng hóa, hai thuộc tính này
song song cùng tồn tại trong một hàng hóa.
Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng vì lao động sản xuất có tính chất
hai mặt. Hai mặt đó là: lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa; lao động trừu tượng
tạo ra giá trị của hàng hóa.
Lao động cụ thể là lao động có ích, dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp
chuyên môn nhất định như: lao động của người thợ xây, thợ mộc, thợ may.. kết quả của lao
động cụ thể là tạo ra một công cụ nhất định, tức là tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa.
6


Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa biểu hiện sự hao phí sức
lao động của con người về cơ bắp, tinh thần… trong quá trình lao động chung của con người
không kể hình thức cụ thể của nó như thế nào. Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa.
Lao động cụ thể và lao động trừu tượng là hai mặt vừa thống nhất vừa mâu thuẫn của lao động
sản xuất hàng hóa, chúng phản ảnh cơ bản của sản xuất hàng hóa “lao động tư nhân mâu thuẫn
với lao động xã hội”
Sự ra đời của sản xuất hàng hóa gắn liền với sự phát triển của phân công lao động và trao
đổi. Sản xuất hàng hóa nó tồn tại trong chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa,
xã hội chủ nghĩa. Trước chủ nghĩa tư bản, sản xuất hàng hóa giản đơn chiếm ưu thế, phổ biến,
nó tiếp tục tồn tại và phát triển trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó hàng hóa và
sản xuất hàng hóa là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện lịch
sử như sau:
Một là có Sự phân công lao động xã hội. Sự phân công lao động xã hội là sự phân chia
lao động xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất , tạo nên sự chuyên môn hóa lao
động. Do có sự phân công lao động, mỗi người chỉ sản xuất một thứ hay vài thứ sản phẩm, nên
người sản xuất này phải dựa vào người sản xuất khác , phải trao đổi mua bán sản phẩm của
nhau. Tuy nhiên, trong mỗi công xưởng ngày nay, có sự phân công lao động, nhưng không có
sự trao đổi mua bán của nhau, nên sản phẩm cũng không phải là hàng hóa. Chỉ có sản phẩm của
lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như những hàng
hóa. Vậy sản xuất hàng hóa ra đời không phải chỉ có điều kiện phân công lao động mà còn điều
kiện thứ hai nữa.
Hai là, có sự tách biệt tương đối về kinh tế của những người sản xuất hàng hóa: sự tách
biệt này do lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau của những người sản xuất
hàng hóa. Đó là sự tách biệt do chế độ sở hữu quy định. Ngoài ra, sự tách biệt còn do chế độ sử
dụng, sự khác nhau giữa các loại lao động có ích với tư cách là công việc của những chủ thể sản
xuất độc lập, của những ngành nghề lao động khác nhau. Trong những điều kiện đó khi muốn
tiêu dùng sản phẩm của nhau họ phải thông qua mua bán sản phẩm, tức là phải trao đổi dưới
hình thức hàng hóa, làm cho sản xuất hàng hóa ra đời.
Trong kinh tế hàng hóa giản đơn, người sản xuất trực tiếp là người sở hữu tư liệu sản xuất,
hoặc thuê tư liệu sản xuất để sản xuất, làm cho sản xuất phát triển. Dưới sự trao đổi của quy
luật giá trị, sự biến động của giá cả, của cạnh tranh đã làm phân hóa những người sản xuất
thành người giàu, trở thành ông chủ, và những người nghèo trở thành người làm thuê. Thêm
vào đó, quá trình tích lũy ban đầu của tư bản bằng bạo lực đã tạo thêm điều kiện để người giàu
có đủ điều kiện để xây dựng nhà máy, mua nguyên vật liệu và thuê công nhân sản xuất nhằm
thu về lợi nhuận, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được hình thành.
Như vậy phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời từ sự chuyển kinh tế hàng hóa giản
đơn thành kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa phải có hai điều kiện: có sự tập trung một số tiền
lớn vào trong tất yếu một số ít người đủ để lập ra các xí nghiệp; có một lớp người tự do, không
phải là nô lệ, họ không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản.
Trong người sản xuất tư bản chủ nghĩa, người sản xuất trực tiếp là những công nhân làm
thuê, không phải là người sở hữu tư liệu sản xuất, còn tư liệu sản xuất thuộc nhà tư bản, sản
phẩm lao động do công nhân làm thuê tạo ra thuộc về chủ sở hữu tư liệu sản xuất.
Đối với nước ta, trước đổi mới, chúng ta chưa nhận thức đúng hai điều kiện của kinh tế
hàng hóa, phân công lao động bất cập, còn đối xử phân biệt giữa các hình thức sở hữu, có ích
sở hữu tư nhân là đối tượng cải tạo xã hội chủ nghĩa. Do đó làm cho kinh tế đất nước chậm phát
triển.
7


Sang thời kỳ đổi mới, chúng ta đã làm tốt hai điều kiện trên, với việc tổ chức phân công lại
lao động xã hội , với việc thực hiện tốt đa dạng hóa các hình thức sở hữu đang đóng góp tích
cực cho người sản xuất nước ta phát triển đi lên định hướng xã hội chủ nghĩa.
Có ý kiến nói kinh tế hàng hóa chỉ tồn tại và phát triển trong nền kinh tế có chế độ tư hữu
là chưa đúng và chưa đủ.
Kinh tế hàng hóa xuất hiện cùng với sự xuất hiện của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất
trong quá trình phát triển kinh tế của xã hội loài người. Song, nó tồn tại, phát triển và ngày càng
hoàn thiện qua một số phương thức sản xuất tiếp theo phát triển phổ biến nhất, phát triển cao
nhất trở thành hình thức sản xuất hàng hóa điển hình, nổi bật trong lịch sử là trong giai đoạn
phát triển tư bản chủ nghĩa và nó tiếp tục tồn tại, phát triển ngay dưới chế độ xã hội chủ nghĩa
khi mà chế độ tư hữu đã không còn thống trị, chế độ công hữu đã được hình thành củng cố và
lớn mạnh.
Tóm lại, chỉ đúng khi kinh tế hàng hóa mới ra đời. Nó không còn đúng trong chủ nghĩa tư
bản, chủ nghĩa xã hội, vì kinh tế hàng hóa không những tồn tại trong chủ nghĩa tư bản tiến lên
chủ nghĩa xã hội, nó vẫn tồn tại và hoàn thiện cao hơn. Vì vậy, câu này không đúng và không
đủ.
Ngày nay ở việt nam ta cũng phải áp dụng nền KT SX hàng hóa trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa XH.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa XH ở việt nam sự tồn tại của SX hàng hóa là một tất
yếu khách quan, với những lợi thế về phát triển hàng hóa đối với nước ta là một nhiệm vụ KT
cấp bách để chuyển nền KT lạc hậu thành nền KT hiện đại, hội nhập với sự phân công lao động
quốc tế, đó là con đường đúng đắn để phát triển lực lượng SX, để thực hiện nhiệm vụ công
nghiệp hóa hiện đại hóa.
Thực tiễn những năm đổi mới đã cho chúng ta thấy việc chuyển sang mô hình KT hàng
hóa là đúng đắn, nhờ mô hình này mà chúng ta đã khai thác được tiềm năng trong nước thu hút
được đầu tư nước ngoài, giải phóng được năng lực SX trong XH , phát triển lực lượng SX .
Theo Mác thì SX hàng hóa chỉ tồn tại trong một số phương thức XH gắn với những điều
kiện lịch sử nhất định. Vì vậy đến thời đại cộng sản chủ nghĩa lực lượng SX vô cùng lớn mạnh,
năng lực SX vô cùng dồi dào lúc này sản phẩm làm ra không phải đi trao đổi mua bán, chế độ
sở hữu tư liệu SX của tư nhân không còn, lúc này con người làm việc theo năng lực hưởng theo
nhu cầu thì không còn nền KT SX hàng hóa

8


CÂU BỐN: Giá trị và lượng giá trị, những yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của
hàng hóa. Các qui luật kinh tế chủ yếu trong kinh tế hàng hóa.
TRẢ LỜI:
Hàng hóa là một vật phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu các nào đó của con người
và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi (mua-bán).
Vì vậy, không phải bất kỳ vật phẩm nào cũng là hàng hóa. Những vật phẩm đi vào tiêu dùng
không thông qua trao đổi (mua-bán) thì không phải là hàng hóa. Chẳng hạn, thóc của người nông
dân sản xuất để tiêu dùng cho bản thân họ thì không phải là hàng hóa. Nhưng nếu thóc đó được
đem ra bán thì nó là hàng hóa.
Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị. Đó cũng là hai mặt chất và lượng
của hàng hóa.
Giá trị sử dụng là công dụng, là tính có ích của hàng hóa giúp thỏa mãn nhu các của con
người, của xã hội, có thể là nhu cầu cá nhân, có thể là nhu cầu tiêu dùng trong sản xuất như
máy móc, nguyên liệu … có thể là nhu cầu vật chất hay tinh thần . Chính công dụng của vật
phẩm đã làm cho nó trở thành một giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng của vật phẩm do thuộc tính
tự nhiên của vật phẩm quy định. Xã hội loài người càng phát triển thì càng phát hiện ra nhiều
thuộc tính tự nhiên và tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau. Chẳng hạn, than đá từ xa xưa
chỉ dùng làm nhiên liệu, đến nay còn là nguyên liệu của nhiều sản phẩm với giá trị sử dụng cao.
Căn cứ vào giá trị sử dụng, vào công dụng có thể phân biệt được các loại hàng hóa khác nhau.
Vì vậy, giá trị sử dụng nói lên mặt chất của hàng hóa. Giá trị sử dụng xuất phát từ thuộc tính cơ lý
hóa tự nhiên của vật chất nên nó là một phạm trù vĩnh viễn.
Hàng hóa đem trao đổi sẽ có giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ, tức là quan hệ
về số lượng giữa những hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau. Thí dụ: 1mét vãi đổi được 10kg
thóc. Vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau, trao đổi được với nhau vì chúng
thuộc hai sở hữu khác nhau và họ cần đến sản phẩm của nhau. Chúng trao đổi với nhau theo
một tỷ lệ nhất định, vì chúng có cơ sở chung là: đều là sản phẩm của lao động; kết tinh lượng
hao phí lao động như nhau. Cơ sở chung này được gọi là giá trị của hàng hóa.
Vậy giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong
hàng hóa đó. Do đó, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hiện thực biểu hiện
của giá trị.
Giá trị phản ảnh mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa. Do đó, giá trị là
một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hóa.
Nếu giá trị lao động xã hội của những người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa thì
lượng giá trị chính là lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hóa.
Trong sản xuất hàng hóa, hao phí lao động cá biệt tạo thành giá trị cá biệt của hàng hóa.
Trên thị trường, không thể dựa vào giá trị cá biệt để trao đổi mà phải dựa vào giá trị của hàng
hóa.
Giá trị xã hội của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết (tất yếu) để
sản xuất một loại hàng hóa nào đó. Đó là thời gian cần thiết để sản xuất hàng hóa trong điều
kiện sản xuất trung bình của xã hội với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ thành thạo trung
bình, cường độ lao động trung bình. Thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết của một
loại hàng hóa nào đó gần sát với thời gian lao động cá biệt của người sản xuất đại bộ phận hàng
hóa đó trên thị trường.
Giá trị hàng hóa thay đổi phụ thuộc vào năng suất lao động. Năng suất lao động là hiệu
suất của lao động được đo bằng số lượng sản phẩm tạo ra trong một đơn vị thời gian, hoặc
lượng thời gian lao động hao phí để tạo ra một đơn vị sản phẩm. Năng suất lao động phụ thuộc
9


vào trình độ kỹ thuật của người lao động, mức trang bị kỹ thuật của lao động, phương pháp tổ
chức, quản lý và các điều kiện tự nhiên.
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế của nền sản xuất hàng hóa. Ơû đâu có sản xuất hàng hóa
thì ở đó có quy luật giá trị hoạt động một cách khách quan.
Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và trao đổi hàng hóa, phải dựa trên cơ sở hao phí lao
động xã hội cần thiết, có nghĩa là:
Trong sản xuất, nó đòi hỏi người sản xuất luôn luôn có ý thức tìm cách hạ thấp hao phí lao
động cá biệt xuống nhỏ hơn, hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết.
Trong lưu thông, nó đòi hỏi việc trao đổi hàng hóa phải dựa trên nguyên tắc ngang giá.
Quy luật giá trị hoạt động thông qua sự lên xuống của giá cả thị trường. Nó có mối quan
hệ hữu cơ với quy luật cung-cầu. Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn giá trị, ngược lại, khi
cung kém cầu thì Giá cả lớn hơn giá trị.
Quy luật giá trị hoạt động ở trong mọi phương thức sản xuất có sản xuất hàng hóa, nhưng
đặc điểm hoạt động, vai trò và tác dụng của nó khác nhau, vì nó bị các quy luật kinh tế đặc thù
của phương thức sản xuất đó chi phối.
Trong điều kiện nền sản xuất hàng hóa dựa trên cơ sở chế độ tư hữu giữ vai trò thống trị,
quy luật giá trị hoạt động một cách tự phát và có bốn tác dụng chủ yếu sau:
Tự phát điều tiết các yếu tố sản xuất (tư liệu sản xuất và sức lao động) vào các ngành, các khu
vực khác nhau của nền sản xuất xã hội, thông qua sự biến động của cung-cầu thể hiện qua giá cả
trên thị trường.
Tự phát điều tiết lưu thông hàng hóa. Thông qua sự biến động (chênh lệch) của giá cả,
hàng hóa từ nơi có giá cả thấp sẽ được di chuyển về nơi có giá cả cao.
Tự phát kích thích người sản xuất cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao
động, giảm giá thành, làm cho lực lượng sản xuất phát triển.
Tự phát làm phân hóa người sản xuất thành người giàu và nghèo.
Trong điều kiện chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế nhiều thành phần trong đó thành phần
kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể làm nền tảng, còn thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò
chủ đạo thì vai trò của quy luật giá trị về cơ bản không còn như trước. Tuy nhiên nó vẫn thực
hiện chức năng điều tiết kích thích và đào thải vốn có của nó.
Trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế còn nhiều thành phần, còn nhiều
loại quy luật đặc thù hoạt động đan xen vào nhau, làm cho sự hoạt động của quy luật giá trị vừa
có tính tự phát, vừa có tính tự giác, tuy vẫn còn đầy đủ các tác dụng trên.
Vấn đề quan trọng là phải nhận thức và vận dụng quy luật giá trị bằng các chính sách kinh tế
phù hợp trên cơ sở khoa học, nhằm thực hiện có hiệu quả những mục tiêu kinh tế xã hội.
Quy luật cung-cầu là quy luật kinh tế của nền sản xuất hàng hóa.
Cung phản ảnh khối lượng sản phẩm hàng hóa được sản xuất và được đưa ra thị trường để
bán. Cung do sản xuất quy định, nhưng không đồng nhất với sản xuất.
Cầu phản ảnh nhu cầu tiêu dùng có khả năng thanh toán của xã hội. Do đó, cầu không
đồng nhất với tiêu dùng, vì nó không phải là nhu cầu tự nhiên, nhu cầu bất kỳ theo nguyện vọng
tiêu dùng chủ quan của con người, mà phụ thuộc vào khả năng thanh toán.
Cung-cầu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, thường xuyên tác động lẫn nhau trên thị
trường; ở đâu có thị trường thì ở đó có quy luật cung-cầu tồn tại và hoạt động một cách khách
quan.
Cầu xác định cung và ngược lại cung xác định cầu. Cầu xác định khối lượng, chất lượng,
chủng loại cung về hàng hóa. Những hàng hóa nào tiêu thụ được mới được tái sản xuất. Ngược
lại, cung tạo ra cầu, kích thích tăng cầu thông qua phát triển số lượng, chất lượng, chủng loại
hàng hóa, hiện thực, quy cách của giá cả của nó.
10


Cung-cầu tác động lẫn nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả. Đây là sự tác động phức
tạp theo nhiều hướng và nhiều mức độ khác nhau. Hàng hóa sản xuất tốt rẽ, phù hợp với người
tiêu dùng sẽ kích thích người mua. Người mua mua nhiều, người sản xuất sẽ tăng khối lượng
sản xuất. Khi giá cả tăng sẽ thúc đẩy cung tăng và ngược lại. Khi giá cả tăng sẽ làm cầu giảm
và ngược lại. Khi cung kém cầu làm cho giá cả tăng, khi cung vượt cầu làm cho giá cả giảm…
Giá cả giảm đến mức nào đó lại thúc đẩy cầu tăng và cầu tăng đến mức nào đó đẩy giá tăng lên,
kéo theo mức tăng sản xuất, làm tăng cung. Khi cung vượt cầu thì giá lại giảm… Cứ như vậy
quy luật giá trị và quy luật cung-cầu tác động qua lại kích thích người mua kẻ bán cạnh tranh
nhau gay gắt.
Quy luật cung-cầu tác động khách quan và rất quan trọng. Nêu nhận thức được chúng thì
có thể vận dụng để tác động đến sản xuất kinh doanh theo chiều hướng có lợi cho quá trình tái
sản xuất xã hội.
Nhà nước có thể vận dụng quy luật cung-cầu thông qua các chính sách, các biện pháp kinh
tế như: giá cả, lợi nhuận, tín dụng, hợp đồng kinh tế, thuế, thay đổi cơ cấu tiêu dùng… để tác
động vào các hoạt động kinh tế theo quy luật cung-cầu, duy trì những tỷ lệ cân đối cung-cầu
một cách lành mạnh và hợp lý.
Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những người sản xuất kinh doanh nhằm giành
giật các điều kiện thuận lợi cho mình về sản xuất, tiêu thụ sản phẩm để tồn tại và phát triển.
Cạnh tranh là động lực, là một trong những nguyên tắc cơ bản không thể thiếu trong nền kinh tế
sản xuất hàng hóa. Mục tiêu cạnh tranh là giành lợi ích nhiều nhất cho mình. Cạnh tranh có
nhiều loại, cạnh tranh giữa người mua và người bán, cạnh tranh giữa người bán với nhau hoặc
người mua với nhau, cạnh tranh trong nội bộ ngành, giữa các ngành. Quy luật cạnh tranh đòi
hỏi:
Người sản xuất kinh doanh phải sản xuất sản phẩm tốt hơn, đẹp hơn, rẻ hơn thích hợp thị
hiếu hơn và phải dùng mọi biện pháp để giành ưu thế cho hàng hóa của mình trên thị trường
bán.
Người tiêu dùng phải tìm mua các mặt hàng cần thiết trong thời gian ngắn nhất, gần nhất,
chất lượng cao nhất, với giá cả hợp lý để giành ưu thế trên thị trường mua.
Quy luật cạnh tranh có vai trò nhất định trong nền sản xuất hàng hóa:
Tạo động lực cho sự phát triển sản xuất kinh doanh, buộc người sản xuất kinh doanh phải
chủ động, sáng tạo nhạy bén trong tổ chức quản lý và áp dụng khoa học công nghệ, hạ giá thành
đáp ứng nhu cầu thị hiếu của con người.
Bên cạnh vai trò to lớn của quy luật cạnh tranh, cũng có những tác hại như: các thủ đoạn,
lừa đảo, phi pháp, tàn bạo, ác liệt, của các cơn khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp.
Quy luật cạnh tranh có mối quan hệ với quy luật giá trị, quy luật cung-cầu. Từ quan hệ
cung-cầu biểu hiện thành giá cả, qua giá cả, các chủ thể kinh doanh cạnh tranh với nhau. Tác
động lẫn nhau làm cho nền sản xuất hàng hóa nhỏ chuyển biến thành nền sản xuất lớn tư bản
chủ nghĩa

11


CÂU 5: Phân biệt tiền với tư bản, từ đó rút ra những điều kiện chung cho sự tồn tại và
phát triển của nền kinh tế TBCN.
TRẢ LỜI:
a)- Phân biệt tiền với tư bản:
Tiền là một hình thái giá trị của hàng hóa, là sản phẩm của quá trình phát triển SX và
trao đổi hàng hóa .
Hình thái giá trị đầu tiên là hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên: hàng đổi lấy hàng. Khi
phân công lao động XH phát triển đến mức độ nào đó chủng loại lao động hàng hóa trao đổi
trên thị trường nhiều hơn thì một hàng hóa có thể gặp và trao đổi với nhiều hàng hóa khác
đây là hình thái giá trị mở rộng. Khi phân công lao động XH phát triển hơn nữa làm cho SX
hàng hóa phát triển, trao đổi hàng hóa trở nên thường xuyên phổ biến hơn, để trao đổi được
thuận lợi người ta chọn một hàng hóa nào đó làm vật ngang giá chung.
Khi SX và trao đổi phát triển hơn nữa, thị trường được mở rộng người ta chọn bạc,
vàng làm vật ngang giá chung và thuận lợi hơn cả, lúc đó hình thức tiền tệ của giá trị ra đời.
Khi bạc, vàng cùng được làm chức năng tiền tệ thì chế độ tiền tệ gọi là chế độ song kim.
Khi chỉ còn vàng được chiếm vai trò tiền tệ thì chế độ tiền tệ được gọi là là chế độ bản vị vàng.
Khi tiền tệ xuất hiện, thế giới hàng hóa phân hai cực: một phía là các hàng hóa thông
thường, một phía là hàng hóa đóng vai trò tiền tệ. Như vậy tiền tệ là một loại hàng hóa đặc
biệt dùng làm vật ngang giá chung cho tất cả các loại hàng hóa, đó là sự thể hiện chung của
giá trị và lao động XH, nó biểu hiện quan hệ SX giữa người SX hàng hóa do quá trình phát
triển lâu dài chính SX và trao đổi hàng hóa tạo ra.
Tiền là sản phẩm của lưu thông hàng hóa, đồng thời cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên
của tư bản. Trên thị trường tư bản được biểu hiện trước hết bằng một số tiền nhất định, mặc dù
không phải lúc nào tiền cũng là tư bản.
Tiền trong lưu thông hàng hóa giản đơn vận động theo công thức H-T-H.
Tiền với tính cách là tư bản vận động theo công thức T-H-T’.
Như vật ta so sánh hai công thức lưu thông nói trên để phân biệt tiền và tư bản.

Những điểm giống nhau là đều cấu thành bởi hai nhân tố hàng và tiền, đều chứa
đựng hai hành vi đối lập nhau là mua và bán, đều biểu hiện quan hệ KT giữa người mua và
người bán.

Nhưng giữa hai hình thức lưu thông trên có những điểm khác nhau về chất như
sau:

Lưu thông hàng hóa giản đơn bắt đầu bằng hành vi bán (H-T) vá kết thúc bằng
hành vi mua (T-H). Điểm xuất phát và kết thúc của quá trình đều là hàng hóa, tiền chỉ đóng
vai trò trung gian. Ngược lại lưu thông của tiền với tư cách là tư bản bắt đầu bằng hành vi
mua (T-H) và kết thúc bằng hành vi bán (H-T’), tiền vừa là điểm xuất phát vừa là điểm kết
thúc của quá trình, còn hàng hóa đóng vai trò øtrung gian.

Mục đích của lưu thông hàng hóa giản đơn là giá trị sử dụng nên các hàng hóa
trao đổi với nhau phải có giá trị sử dụng khác nhau. Còn mục đích của lưu thông tư bản là
giá trị và giá trị lớn hơn nên số tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra. Vậy với tính cách là
tư bản công thức vận động tiền là T-H-T’, trong đó T’ bằng T+t, t là số tiền trội hơn so với
số tiền ứng ra, số tiền trội hơn đó gọi là giá trị thặng dư và ký hiệu bằng m.
T-H-T’ (T’=T+m) đây là công thức chung của tư bản, vì mỗi tư bản cho dù là chúng
mang hình thái cụ thể nào cũng đều là mang lại giá trị thặng dư.

Trong lưu thông hàng hóa giản đơn, lưu thông chỉ là phương tiện để đạt mục
đích tiêu dùng nằm ngoài lưu thông, nên sự vận động của nó có giới hạn. Nó sẽ chấm dứt ở
12


giai đoạn thứ hai, khi T chuyển thành H. Còn mục đích của lưu thông tư bản là sự lớn lên
không ngừng của giá trị, là giá trị thặng dư, nên sự vận động của nó không có giới hạn.
b)- Theo công thức chung T-H-T’ làm cho người ta lầm tưởng rằng cả SX lẫn lưu
thông đều tạo ra giá trị và giá trị thặng dư, vậy lưu thông có tạo ra giá trị và làm tăng
thêm giá trị hay không.
Lưu thông là quá trình trong đó diễn ra các hành vi mua và bán. Nếu mua – bán ngang
giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái, từ tiền thành hàng hoặc từ hàng thành tiền. Còn tổng số
giá trị cũng như phần giá trị trong tay mỗi người tham gia trước và sau trao đổi vẫn không
thay đổi.
Trong trường hợp trao đổi không ngang giá, nếu hàng hóa được bán cao hơn giá trị, thì
người bán sẽ được lời, còn nếu hàng hóa bán thấp hơn giá trị thì người mua được lời. Nhưng
trong nền KT hàng hóa, mỗi người SX đều là vừa là người mua vừa là người bá, không thể
có người chỉ bán mà không mua và ngược lại. Vì vậy cái lợi mà họ thu được khi bán sẽ là
cái thiệt khi mua. Trong trường hợp có những kẻ chuyên mua rẽ bán đắt thì tổng giá trị toàn
XH không hề tăng lên, bởi vì số giá trị mà những người này thu được chẳng qua là sự ăn
chặn và đánh cắp số giá trị của người khác mà thôi. Qua sự phân tích trên cho thấy lưu thông
không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Nhưng rõ ràng nếu không có lưu thông, tức là tiền để
trong tủ sắt, hàng hóa để trong kho thì cũng không thể có được giá trị thặng dư.
Như vậy là giá trị thặng dư vừa sinh ra trong quá trình lưu thông lại vừa không thể sinh
ra trong quá trình lưu thông. Đó chính là mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản. Các
Mác là người đầu tiên phân tích giải quyết mâu thuẫn đó bằng lý luận về hàng hóa sức lao
động.
Tóm lại, qua phân tích trên ta thấy ý kiến cho rằng: “tư bản không thể xuất hiện từ
lưu thông và cũng không thể xuất hiện từ ngoài lưu thông, nó phải xuất hiện trong lưu
thông và đồng thời không phải trong lưu thông” là đúng và Các Mác là người đã phân
tích và giải quyết mâu thuẫn đó./.

13


CÂU 6: Cơ cấu cấu tạo của tư bản ứng trước, phân biệt sản xuất hàng hóa với sản xuất
TBCN.
TRẢ LỜI
Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản ứng ra một lượng tiền (T) để mua hàng hóa (H) ( tư
liệu sản xuất và sức lao động ), rồi biến hàng hóa này thành một lượng tiền (T’) lơn hơn số tiền
bỏ ra ban đầu. Số tiền bỏ ra ban đầu gọi là tư bản ứng trước.
T –H –T’
Trong đó: T’>T . suy ra: AT bằng T’ – T.
Số tiền dôi ra (AT) này được Mác gọi là giá trị thặng dư, ký hiệu là m.
Mọi tư bản đều xuất hiện từ một khối lượng tiền nhất định. Nhưng không phải tất cả tiền
đều là tư bản. Tiền chỉ trở thành tư bản khi nó ứng ra để thu về một lượng tiền lớn hơn bằng
cách chiếm hữu giá trị thặng dư do người làm thuê làm ra, tức là bằng cách bóc lột lao động
làm thuê.
Nhà tư bản ứng ra một lượng tiền để mua hàng hóa tư liệu sản xuất và sức lao động. Tư
bản để mua tư liệu sản xuất gọi là tư bản bất biến (ký hiệu bằng C). Tư bản dùng để mua sức
lao động gọi là tư bản khả biến (ký hiệu bằng V).
Trong sản xuất, công nhân sử dụng tư liệu sản xuất để chế tạo ra sản phẩm. Tư liệu sản
xuất có nhiều loại, có loại như nhà xưỡng, kho tàng, thiết bị, máy móc được sử dụng trong một
thời gian dài, hao mòn dần qua nhiều chúng kỳ sản xuất, nên giá trị của nó được chuyển dần
vào sản phẩm. Có loại như nguyên vật liệu, vật liệu phụ tiêu hao toàn bộ qua một chu kỳ sản
xuất , nên giá trị của nó được chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm mới.
Như vậy, dù giá trị tư liệu sản xuất được chuyển dần từng phần hay chuyển nguyên vẹn
ngay vào sản phẩm, bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất có đặc điểm chung là
giá trị của chúng được bảo tồn không có sự thay đổi về lượng và chuyển vào sản phẩm mới
trong quá trình sản xuất.
Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức sức lao động có tính chất khác với bộ phận tư bản
bất biến.
Trong quá trình sản xuất, bộ phận tư bản này có sự thay đổi về lượng, tăng lên về số lượng
giá trị, vì đặc điểm của giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là khi được đem tiêu dùng thì
nó tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó – gọi là tư bản khả biến (ký hiệu
bằng V).
Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến vạch rõ nguồn gốc của giá
trị thặng dư là do lao động làm thuê của công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không. Hiện
nay, giai cấp tư sản sử dụng máy móc hiện đại tự động hóa quá trình sản xuất đối với một số
sản phẩm. Trong điều kiện sản xuất như vậy, tư bản bất biến có vai trò quan trọng quyết định
việc tăng năng suất lao động, nhưng cũng không thể coi đó là nguồn gốc của giá trị thặng dư.
Suy đến cùng, bộ phận tư bản khả biến tồn tại dưới hình thức sức lao động (chân tay và trí óc)
mới là nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa.
Giá trị = C + V + m (TBBB + TBKB + GTTD).
Để thấy rõ điều này, ta có thí dụ: một nhà tư bản chi một lượng tư bản bằng tiền T = 500
để mua tư liệu sản xuất C = 400 và mua sức lao động V = 100. Sau đó sản xuất được tiến hành.
Đối với tư bản bất biến C sau quá trình sản xuất được chuyển nguyên vẹn vào giá trị sản phẩm,
C = 400. Nhưng đối với V thì hoàn toàn khác, nhà tư bản ứng ra một lượng tiền V để mua sức
lao động. Đây là khả năng lao động, tức là trước quá trình sản xuất V = 100. Khi sức lao động
V hoạt động để tạo ra sản phẩm, người công nhân phải tiêu hao một sức lao động có giá trị là
14


200. Đay là giá trị mới do lao động sống của công nhân sáng tạo ra trong quá trình sản xuất. Do
đó giá trị sản phẩm Ư = 400 + 200 = 600.
Như vậy sau quá trình sản xuất, bằng lao động trừu tượng của mình, người công nhân đã
tạo ra được một lượng giá trị mới = 200, không những bù đắp lại giá trị sức lao động do tư bản
đã chi trả cho công nhân ( V = 100), mà còn có bộ phận giá trị thặng dư cho nhà tư bản m = giá
trị mới sáng tạo – V , => (m=200-100=100). Từ đó cho thấy, bộ phận tư bản dùng để mua sức
lao động V đã có sự biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất. Chính nhờ sự biến đổi này của
V mà xuất hiện giá trị thặng dư m. nghĩa là V biến đổi nên V tạo ra giá trị thặng dư, còn C
không biến đổi, nên C không tạo ra giá trị thặng dư.
Từ đó cho thấy, nhở tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, nhờ phân biệt lao
động với phân biệt sức lao động và nhờ phân biệt tư bản bất biến với tư bản khả biến mà Mác
tìm ra nguồn gốc của giá trị thặng dư.
Sự ra đời của sản xuất hàng hóa gắn liền với sự phát triển của phân công lao động và trao
đổi. Sản xuất hàng hóa nó tồn tại trong chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa,
xã hội chủ nghĩa. Trước chủ nghĩa tư bản, sản xuất hàng hóa giản đơn chiếm ưu thế, phổ biến,
nó tiếp tục tồn tại và phát triển trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. do đó hàng hóa và
sản xuất hàng hóa là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện lịch
sử như sau:
Một là có sự phân công lao động xã hội. sự phân công lao động xã hội là sự phân chia lao
động xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất , tạo nên sự chuyên môn hóa lao động.
Do có sự phân công lao động, mỗi người chỉ sản xuất một thứ hay vài thứ sản phẩm, nên người
sản xuất này phải dựa vào người sản xuất khác , phải trđo mua bán sản phẩm của nhau. Tuy
nhiên, trong mỗi công xưởng ngày nay, có sự phân công lao động, nhưng không có sự trao đổi
mua bán của nhau, nên sản phẩm cũng không phải là hàng hóa. Chỉ có sản phẩm của lao động
tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như những hàng hóa. Vậy
sản xuất hàng hóa ra đời không phải chỉ có điều kiện phân công lao động mà còn điều kiện thứ
hai nữa.
Hai là, có sự tách biệt tương đối về kinh tế của những người sản xuất hàng hóa: sự tách
biệt này do lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau của những người sản xuất
hàng hóa. Đó là sự tách biệt do chế độ sở hữu quy định. Ngoài ra, sự tách biệt còn do chế độ sử
dụng, sự khác nhau giữa các loại lao động có ích với tư cách là công việc của những chủ thể sản
xuất độc lập, của những ngành nghề lao động khác nhau. Trong những điều kiện đó khi muốn
tiêu dùng sản phẩm của nhau họ phải thông qua mua bán sản phẩm, tức là phải trao đổi dưới
hình thức hàng hóa, làm cho sản xuất hàng hóa ra đời.
Trong kinh tế hàng hóa giản đơn, người sản xuất trực tiếp là người sở hữu tư liệu sản xuất,
hoặc thuê tư liệu sản xuất để sản xuất, làm cho sản xuất phát triển. Dưới sự trao đổi của quy
luật giá trị, sự biến động của giá cả, của cạnh tranh đã làm phân hóa những người sản xuất
nhành người giau, trở thành ông chủ, và những người nghèo trở thành người làm thuê. Thêm
vào đó, quá trình tích lũy ban đầu của tư bản bằng bạo lực đã tạo thêm điều kiện để người giàu
có đủ điều kiện để xây dựng nhà máy, mua nguyên vật liệu và thuê công nhân sản xuất nhằm
thu về lợi nhuận, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được hình thành.
Như vậy phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời từ sự chuyển kinh tế hàng hóa giản
đơn thành kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa phải có hai điều kiện: có sự tập trung một số tiền
lớn vào trong tất yếu một số ít người đủ để lập ra các xí nghiệp; có một lớp người tự do, không
phải là nô lệ, họ không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản.

15


Trong người sản xuất tư bản chủ nghĩa, người sản xuất trực tiếp là những công nhân làm
thuê, không phải là người sở hữu tư liệu sản xuất, còn tư liệu sản xuất thuộc nhà tư bản, sản
phẩm lao động do công nhân làm thuê tạo ra thuộc về chủ sở hữu tư liệu sản xuất.
Đối với nước ta, trước đổi mới, chúng ta chưa nhận thức đúng hai điều kiện của kinh tế
hàng hóa, phân công lao động bất cập, còn đối xử phân biệt giữa các hình thức sở hữu, có ích
sở hữu tư nhân là đối tượng cải tạo xã hội chủ nghĩa. Do đó làm cho kinh tế đất nước chậm phát
triển.
Sang thời kỳ đổi mới, chúng ta đã làm tốt hai điều kiện trên, với việc tổ chức phân công lại
lao động xã hội , với việc thực hiện tốt đa dạng hóa các hình thức sở hữu đang đóng góp tích
cực cho người sản xuất nước ta phát triển đi lên định hướng xã hội chủ nghĩa.

16


Câu 7: Phân biệt giá trị thặng dư và lợi nhuận, tỷ suất giá trị thặng dư với tỷ suất lợi
nhuận. Quá trình phân phối lợi nhuận cho các tư bản cá biệt. Ý nghĩa của việc hình
thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
TRẢ LỜI:
* Phân biệt giữa giá trị thặng dư (m) và lợi nhuận (p).
Giá trị thặng dư m là gì?
Nhà tư bản muốn SX ra hàng hóa phải bỏ ra một lượng chi phí về lao động SX bao
gồm: lao động vật hóa dưới hình thức máy móc, nguyên liệu và lao động sống là lao động
đang hoạt động với đúng giá trị hàng hóa.
Ví dụ: mua tư liệu SX 100 bông giá 100 đồng. Mua sức lao động 30 đồng. Trong quá
trình SX khấu hao máy móc 20 đồng chuyển vào hàng hóa.
Giai đọan một: chuẩn bị SX nhà tư bản đã đưa ra tư bản ứng trước là 150 đồng.
Giai đọan hai: SX.
Lần SX thứ nhất: chuyển tòan bộ tư bản ứng trước có giá trị 150 đồng gồm 100 đồng
Bông, 20 đồng khấu hao và 30 đồng sức lao động, nhưng cỉ hoạt động trong 4 giờ làm việc
(được nhà tư bản trả công sức lao động).
Lần SX thứ hai: sản phẩm làm ra cũng có giá trị 150 đồng nhưng tư bản ứng trước chỉ
gồm 120 đồng, gồm 100 Bông và 20 đồng khấu hao máy móc, còn 30 đồng công nhân
không được trả công của 4 giờ làm việc sau mà nhà tư bản thu lại.
Giá trị thặng dư (m) là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị hàng hóa sức lao động do công
nhân tạo ra bị nhà tư bản chiếm không.
Lợi nhuận (P) là gì?
Như phần trên nhà tư bản muốn SX ra hàng hóa phải bỏ ra một lượng chi phí về lao
động SX với đúng giá trị hàng hóa. Nhà tư bản chỉ cần bỏ ra một lượng chi phí về tư bản
(K). sau khi bán hàng hóa đó trên thị trường so sánh với chi phí bỏ ra, nhà tư bản thu được
một khoản lời gọi là lợi nhuận (P) và quan niệm lợi nhuận chính là chi phí sản xuất tư bản
đã tạo ra và thu được từ thị trường sau khi bán hàng hóa.
Giá trị hàng hóa là lao động XH của con người SX hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó.
G = C+V+m.
Chi phí SX TBCN là C+V=K suy ra G=K+m.
Nếu hàng hóa bán đúng giá trị thì G=K+m sẽ chuyển hóa thành G=K+P. Như vậy P=m
(lợi nhuận cũng chính là giá trị thặng dư)
Mới nhìn vào P=m có khác nhau thì chỉ là ở chỗ khi nói giá trị thặng dư là hàm ý so với
tư bản khả biến (V) còn khi nói lợi nhuận là hàm ý so sánh với tư bản ứng trước (C+V).
Về thực chất lợi nhuận là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư, lợi nhuận che dấu
bản chất bóc lột của CNTB. Vậy chúng ta khẳng định nguồn gốc của lợi nhuận chính là giá
trị thặng dư do lao động sống của công nhân làm thuê tạo ra, còn lợi nhuận là hình thức biểu
hiện của giá trị thặng dư.
Nhưng trong thực tế nhiều trường hợp cụ thể lợi nhuận và giá trị thặng dư có thể không
trùng khớp với nhau. Lợi nhuận có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị thặng dư do nó phụ
thuộc vào giá bán cao hay thấp do quan hệ cung cầu quyết định. Nhưng xét trên phạm vi
toàn XH, tổng số lợi nhuận bằng tổng số giá trị thặng dư.
Nếu xét về tỷ suất:
Tỷ suất lợi nhuận

m


x100% 
P 
C V


17




m



 m'  x100% 
Tỷ suất giá trị thặng dư
V



Tỷ suất lợi nhuận một mặt luôn luôn nhỏ hơn tỷ suất giá trị thặng dư, mặt khác tỷ suất
lợi nhuận làm mờ di mức độ bóc lột giữa tư bản với lao động và nó biểu hiện hiệu quả kinh

doanh của tư bản ta có công thức

m
 p' 

c

 1 

v



Từ công thức trên cho thấy giữa P’ và m’ có mối liên quan tỷ lệ thuận với nhau do đó
những yếu tố nào làm tăng m’ thì cũng chính là yếu tố làm tăng P’.  VC 1
Khi cấu tạo hữu cơ tư bản tăng lên sẽ làm cho P’ giảm xuống (cấu tạo hữu cơ
).
Xu hướng P’ giảm xuống khi cấu tạo hữu cơ tăng lên trong quá trình tích lủy trên thực
tế chỉ là một xu hướng giữa cấu tạo hữu cơ của tư bản và m’ không phải là 2 biến số đối lập
với nhau mà chúng mối quan hệ phụ thuộc vào nhau, cụ thể khi cấu tạo hữu cơ tăng lên có
nghĩa là cấu tạo kỹ thuật cao hơn, trình độ hiện đại hơn của máy móc làm cho năng suất lao
động tăng lên giá trị thặng dư tương đối được tạo ra nhiều hơn khiến mức độ tăng lên của m’
sẽ tăng hơn, nhanh hơn so với mức độ tăng của cấu tạo hữu cơ. Kết quả làm cho P’ vẫn tăng
lên. Qua biểu thức trên ta thấy rõ bản chất bóc lột của nhà tư bản.
Tóm lại, từ nhà tư bản che dấu sự bóc lột của mình dưới dạng thu lợi nhuận thông qua
thị trường sau bán hàng. Thực chất bản thân tiền dù ở ngoài hay trong lưu thông cũng không
tự nó lớn lên được, hay mua rẽ bán đắt cũng không làm tăng thêm giá trị nó không tạo ra giá
trị thặng dư. Chỉ có sức lao động của công nhân mới tạo ra phần dôi ra mà nhà tư bản chiếm
không đó là giá trị thặng dư. Bản chất của lợi nhuận cũng bóc lột sức lao động làm thuê,
chính tỷ suất giá trị thặng dư vạch rõ trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động làm
thuê.
Trong điều kiện KT tư bản, bản chất của lợi nhuận là giá trị thặng dư. Giá trị thặng dư
đó được phân phối cho các nhà tư bản cá biệt để hình thành giá trị lợi nhuận cho tư bản cá
biệt, lợi nhuận được phân phối thông qua quá trình cạnh tranh diễn ra hai xu hướng:
Xu hướng thứ nhất: sự cạnh tranh trong nội bộ ngành đó là việc các nhà tư bản cá biệt
tranh giành nhau các điều kiện thuận lợi về sản xuất và tiêu thụ trong một ngành kinh tế nào
đó. Kết quả của sự cạnh tranh đó sẽ hình thành giá trị thị trường trong ngành sản xuất đó.
Một mặt giá trị thị trường được coi là giá trị bình quân của các hàng hóa trong ngành
sản xuất đó, được xác định bằng tổng số giá trị được tạo ra chia cho tổng số hàng hóa trong
ngành sản xuất hàng hóa đó.
Mặt khác tùy theo quan hệ cung cầu mà giá trị thị trường sẽ chuyển dịch về giá trị cực
đại hay cực tiểu trong số những giá trị cá biệt ở ngành sản xuất đó.
Cung lớn hơn cầu thì giá trị cá biệt bình quân sẽ chuyển về giá trị cá biệt cực tiểu.
Cung nhỏ hơn cầu thì giá trị cá biệt bình quân sẽ chuyển về giá trị cá biệt cực đại.
Biện pháp cạnh tranh là tìm một cách để hạ thấp giá trị cá biệt của mình xuống.
Xu hướng thứ hai: sự cạnh tranh giữa các tư bản ở khác ngành về thực chất cạnh tranh
giữa các tư bản ở những ngành khác nhau chính là việc di chuyển tư bản giành nhau đầu tư
vào những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Việc cạnh tranh đó sẽ làm cho quan hệ cung cầu
trên thị trường biến đổi dẫn tới giá cả của hàng hóa sẽ biến động theo, từ đó xuất hiện tỷ suất
18


lợi nhuận bình quân là tỷ suất được xác định bằng tổng số lợi nhuận được tạo ra chia cho
tổng số các chi phí tư bản để từ đó hình thành lợi nhuận bình quân.
P’ = (P/K) 100%.
Pi = Ki x P’
Và giá cả sản xuất bằng chi phí tư bản cộng với lợi nhuận bình quân của tư bản đó.
G=K+P
Như vậy trên đã đề cập khi xuất hiện lợi nhuận bình quân thì giá trị của hàng hóa
chuyển thành giá cả của sản xuất, giá cả sản xuất là giá bán hàng hóa đựơc xác định bằng
chi phí sản xuất cá biệt.
Do đó các tư bản sẽ bán hàng hóa của mình theo giá cả sản xuất để từ đó sẽ được
hưởng lợi nhuận bình quân.
Theo Mác, khi xuất hiện lợi nhuận bình quân càng thể hiện rõ nguồn gốc để hình
thành lợi nhuận là giá trị thặng dư m của các tư bản ( không phân biệt là các ngành khác
nhau) đã gộp chung và phân phối cho các tư bản cá biệt. Điều đó cũng có nghĩa là toàn bộ
giai cấp tư sản bóc lột toàn bộ giai cấp công nhân.
Vì vậy ta có thể kết luận rằng: mỗi nhà tư bản cá biệt, cũng như toàn bộ nhà tư bản trong
mỗi lĩnh vực sản xuất riện biệt đều tham dự vào việc bóc lột toàn thể giai cấp công nhân./.

19


CÂU 8: Chu trình chu chuyển tư bản, những yếu tố ảnh hưởng tới tốc độ chu chuyển
của tư bản, vai trò của việc tăng nhanh tốc độ chu chuyển tư bản.
TRẢ LỜI
Tuần hoàn của tư bản:
Mọi tư bản sản xuất trong quá trình vận động đều qua ba giai đoạn, tồn tại dưới ba hình
thức và thực hiện ba chức năng rồi quay về hình thức xuất phát của nó:
Giai đoạn I, tư bản mang hình thức tiền tệ, thực hiện chức năng mua các yếu tố sản xuất:
tư liệu sản xuất và sức lao động:
T – H (TLSX + SLĐ )
Giai đoạn II, tư bản mang hình thức tư bản sản xuất, thực hiện chức năng sản xuất ra hàng
hóa và tạo ra giá trị thặng dưới:
H (TLSX + SLĐ ) … SX … H’
Giai đoạn III, tư bản mang hình thức tư bản hàng hóa với chức năng thực hiện giá trị và
giá trị thặng dư.
H’ – T’ (bán)
Tổng hợp khác giai đoạn:
T - H (TLSX + SLĐ ) … SX … H’ – T’
Sự vận động của tư bản qua ba giai đoạn, tồn tại dưới ba hình thức, thực hiện ba chức
năng rồi quay về hình thức xuất phát của nó, gọi là tuần hoàn của tư bản.
Trong quá trình vận động, các hình thức tư bản biến hóa liên tục. Ban đầu là tiền, rồi tiền
chuyển thành sản xuất, sau đó sản xuất chuyển thành hàng hóa và đến lượt mình, hàng hóa
biến trở lại thành tiền. Sư biến hóa lập đi lập lại như vậy của một hình thức tư bản gọi là
hình thái tuần hoàn của tư bản. Có ba hình thái tuần hoàn tư bản:
Tuần hoàn của tư bản tiền tệ:
T - H…..SX …..H’ – T’
Mở đầu và kết thúc đều là tiền, sản xuất và hàng hóa là trung gian. Tư bản tồn tại cả khác
hình thức: tiền, sản xuất, hàng hóa.
Tuần hoàn của tư bản sản xuất:
SX …..H’ – T’ – H ….SX
Mở đầu và kết thúc đều là sản xuất. Hàng hóa và tiền tệ là trung gian. Tư bản tồn tại cả ba
hình thức: sản xuất, hàng hóa, tiền.
Tuần hoàn của tư bản hàng hóa:
H’ – T’ – H ….. SX ….. H’
Mở đầu và kết thúc đều là hàng hóa. Tiền tệ, sản xuất là trung gian. Tư bản tồn tại cả ba
hình thức: hàng hóa, tiền, sản xuất.
Điều kiện bảo đảm tuần hoàn không ngừng của tư bản là: toàn bộ tư bản phải phân ra ba
bộ phận, tồn tại đồng thời cả ba hình thức (trong két có tiền, trong các phân xưởng có tư liệu
sản xuất và công nhân, trong kho có hàng hóa); các hình thức tư bản đều thực hiện vòng
tuần hoàn của mình.
Chu chuyển của tư bản là sự tuần hoàn của tư bản sản xuất nếu xét nó là quá trình định kỳ
đổi mới, diễn ra liên tục. Chu chuyển của tư bản nói lên tốc độ vận động của tư bản nhanh
hay chậm. Thời gian chu chuyển của tư bản là khoảng thời gian từ khi tư bản ứng ra dưới
một hình thức nhất định đến khi nó trở về hình thức đó nhưng có thêm giá trị thặng dư. Tức
là thời gian chu chuyển của tư bản là thời gian vận động của tư bản trong một vòng tuần
hoàn. Như vậy, để chu chuyển một vòng, tư bản phải trải qua hai giai đoạn lưu thông và một
giai đoạn sản xuất.
20


Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực sản xuất. Thời gian sản xuất bao
gồm: thời gian lao động, thời gian gián đoạn và thời gian dự trữ sản xuất.
Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông. Thời gian lưu thông
gồm: thời gian mua và thời gian bán. Trong đó thời gian bán là quan trọng và có nhiều khó
khăn.
Tốc độ chu chuyển của tư bản thể hiện ở số vòng chu chuyển của tư bản trong một năm.
Số vòng chu chuyển của tư bản (n) được xác định như sau:
n = CH / ch
(vòng/ năm)
Trong đó:
CH: thời gian một năm.
Ch: thời gian tư bản chu chuyển một vòng.
Tư bản được ứng ra để mua máy móc thiết bi, nguyên vật liệu …( C) , sức lao động (V).
Theo ý nghĩa đó, tư bản ứng trước ( C+V) được gọi là tổng tư bản ứng trước. Tốc độ vận
động của tư bản ứng trước (N) được xác định theo công thức:
N = [(giá trị chu chuyển tư bản cố định một năm)+ (giá trị chu chuyển tư bản lưu động
một năm)]/ tổng tư bản ứng trước.
Tư bản cố định là bộ phận tham giành toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó
không chuyển hết một lần mà chuyển dần dần vào giá trị sản phẩm, số còn lại vẫn bị cố định
lại trong tư liệu lao động, phần còn lại này không ngừng giảm xuống cho tới khi nó được
chuyển hết giá trị vào sản phẩm. Tư bản cố định là bộ phận tư bản bất biến tồn tại dưới các
hình thức tư liệu lao động khác như: máy móc thiết bị, nhà xưởng…
Tư bản lưu động là bộ phận tư bản, khi tham gia vào sản xuất nó chuyển toàn bộ vào sản
phẩm. Đó là tư bản bất biến tồn tại dưới các hình thức khác nhau của đối tượng lao động
như nguyên liệu, vật liệu phụ… và kể cả lương công nhân.
Như vậy xét theo nguồn gốc tạo ra giá trị và giá trị thặng dư thì tư bản được chi thành tư
bản bất biến (C ) và tư bản khả biến ( V), còn xét theo phương thức di chuyển giá trị của tư
bản thì tư bản được chia thành tư bản cố định và tư bản lưu động.
Trong thực tế tư bản cố định bị hao mòn trong quá trình hoạt động gồm hao mòn hữu hình
( là sự hư hỏng dần dần làm giảm độ chính xác của tư liệu lao động cho đến khi bỏ đi. Đó là
sự hao mòn vật chất , có thể nhìn thấy được, đo được) và hao mòn vô hình (là hao mòn mà
vật chất vẫn giữ nguyên nhưng do tiến bộ khoa học kỹ thuật chế tạo ra các tư liệu lao động
hiện đại giá rẻ hơn do đó giảm giá trị.)
Tăng tốc độ chu chuyển tư bản hay rút gắn thời gian chu chuyển của tư bản có ý nghĩa sau
đây:
Tăng tốc độ chu chuyển tư bản cố định sẽ tiết kiệm được chi phí bảo quản, sửa chữa, cho
phép đổi mới nhanh máy móc thiết bị tránh được hao mòn hữu hình và vô hình.
Đối với tư bản lưu động tăng tốc độ chu chuyển cho phép tiết kiệm được tư bản ứng trước
khi qui mô sản xuất như cũ hay có thể mở rộng sản xuất mà không cần có tư bản phụ thêm.
Đối với tư bản khả biến, tăng tốc độ chu chuyển có ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm tăng
thêm tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư.
Do đó, muốn tăng tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm bớt thời gian lưu thông và thời
gian sản xuất của nó. Muốn giảm bớt thời gian lưu thông, phải có phương tiện giao thông
vận tải tốt, đầy đủ và thuận tiện; đồng thời, các sản phẩm sản xuất ra phải có giá trị sử dụng
cao, giá thành hạ, hợp thị hiếu người tiêu dùng. Muốn giảm bớt thời gian sản xuất phải tăng
năng suất lao động, giảm thời gian gián đoạn bằng cách ứng dụng khoa học kỹ thuật …
Nghiên cứu chu chuyển của tư bản, cần hiểu được việc chu chuyển hai bộ phận giá trị của
tư bản sản xuất là tư bản cố định và tư bản lưu động.
21


Nghiên cứu chu chuyển của tư bản là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn trong việc sử dụng tiền vốn
trong sản xuất và kinh doanh hợp lý, nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. Cần tăng tốc độ chu
chuyển tư bản cố định, tận dụng tối đa công suất máy móc, thiết bị. Phải đẩy nhanh tốc độ
xây dựng để đưa công trình vào sản xuất càng sớm càng tốt./

22


CÂU 9: Đặc điểm của CNTB độc quyền và độc quyền Nhà nước, những biểu hiện mới
của CNTB đương đại, vai trò lịch sử của nó.
TRẢ LỜI
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự kết hợp hay dung hợp sức mạnh của các tổ
chức độc quyền với sức mạnh của nhà nước tư sản thành một cơ chế thống nhất nhằm làm
giàu cho các tổ chức độc quyền và cứu nguy cho CNTB. CNTB độc quyền Nhà nước là một
nấc thang phát triển của CNTB hiện đại.
Theo Mác và Ăng Ghen: sự phát triển của lực lượng SX làm chuyển từ CNTB tự do
cạnh tranh sang CNTB độc quyền và độc quyền tư nhân tất yếu sẽ dẫn đến độc quyền Nhà
nước. Chẳng hạn, vào 1913 – 1917 (thời kỳ chiến tranh thế giới lần I) các nước Đức, Mỹ,
anh, Pháp phát triển CNTB độc quyền Nhà nước nhưng ở qui mô không lớn, cho đến xãy ra
cuộc đại khủng hoảng 1929 – 1933 và sau chiến tranh thế giới lần II thì CNTB độc quyền tư
nhân chuyển sang độc quyền Nhà nước.
Lê nin, trong bài viết “bánh mì và hòa bình” có nhận xét: CNTB sau khi phát triển
thành chủ nghĩa đế quốc, nghĩa là CNTB độc quyền, dưới sự ảnh hưởng của chiến tranh nó
chuyển hóa thành CNTB độc quyền Nhà nước. Theo quan niệm hiện nay, CNTB độc quyền
Nhà nước đó là cơ cấu tổ chức hỗn hợp giữa độc quyền tư nhân và bộ máy Nhà nước tư sản
và Nhà nước can thiệp vào KT thì lợi ích của tổ chức độc quyền.
Sự kết hợp tổ chức độc quyền tư nhân và bộ máy Nhà nước tư sản tạo ra cơ cấu thống
nhất để phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, trước hết là các tổ chức độc quyền. CNTB
độc quyền Nhà nước ra đời bắt nguồn từ XH hóa SX, vì XH hóa SX đưa đến tình hình lực
lượng SX phát triển trình độ cao, quan hệ SX TBCN có sự biến đổi và sự kết hợp giữa sở
hữu Nhà nước tư sản và sở hữu độc quyền tư nhân thành sở hữu tổng hợp. Nhà nước tư sản
trở thành nhà tư bản XH và Nhà nước tư sản đóng vai trò bằng bộ máy bóc lột. Như vậy,
CNTB độc quyền Nhà nước là quan hệ KT, quan hệ chính trị XH chứ không phải là chính
sách tồn tại trong giai đoạn TBCN.
Nền KT TBCN chịu tác động qui luật KT, trước hết là qui luật giá trị. Nhà nước tư sản
điều tiết bởi hai bàn tay Nhà nước hữu hình và bàn tay vô hình. Cơ chế thị trường tư bản độc
quyền Nhà nước là sự thống nhất của ba quá trình gắn bó chặt chẽ với nhau: tăng sức mạnh
của các tổ chức độc quyền ; tăng vai trò KT của Nhà nước tư sản ; kết hợp sức mạnh của độc
quyền tư nhân với sức mạnh của Nhà nước trong một cơ chế thống nhất và bộ máy Nhà
nước phụ thuộc vào các tổ chức độc quyền.
Như vậy, CNTB độc quyền Nhà nước là hình thức vận động mới của quan hệ SX
TBCN mà trong sự vận động đó, quan hệ SX TBCN có sự biến đổi cục bộ về chất, đó là sự
biến đổi quan hệ sở hữu, biến đổi quan hệ về tổ chức quản lý và biến đổi về quan hệ phân
phối lưu thông.
Nguyên nhân ra đời CNTB độc quyền Nhà nước:
Một là, tích tụ và tập trung tư bản càng lớn thì tích tụ và tập trung SX càng cao, do đó,
đẻ ra những cơ cấu KT to lớn đòi hỏi sự điều tiết XH đối với SX và lưu thông, đòi hỏi một
sự kế hoạch hóa tập trung từ một trung tâm.
Hai là, sự phát triển của phân công lao động XH làm xuất hiện một số ngành mà ngành
không thể hoặc không muốn kinh doanh vì đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm và ít lợi nhuận, nhất
là các ngành thuộc kết cấu hạ tầng như: năng lượng, vận tải, bảo vệ môi trường, giáo dục,
nghiên cứu khoa học cơ bản … vì vậy, đòi hỏi Nhà nước tư sản phải đừng vốn ngân sách để
đầu tư vào các ngành đó, đảm bảo tạo ra môi trường pháp lý, môi trường XH để KT tư nhân
hoạt động.
23


Ba là, sự thống trị của độc quyền đưa đến kết quả làm sâu sắc thêm mâu thuẫn đối
kháng giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Để giữ cho XH được
ổn định, Nhà nước tư bản phải có những chính sách làm dịu đi mâu thuẫn XH, tạm thời hòa
hoãn những mâu thuẫn đó như: trợ cấp thất nghiệp, phúc lợi XH, điều tiết thu nhập quốc dân

Bốn là, cùng với xu hướng quốc tế hóa đời sống KT và sự bành trướng của công tất yếu
xuyên quốc gia vấp phải những hàng rào quốc gia dân tộc. Trên thị trường thế giới thì gặp
xung đột lợi ích với các đối thủ. Trong tình hình đó đòi hỏi Nhà nước tư sản phải có sự điều
tiết các quan hệ KT quốc tế, trong đó có một bộ phận KT đối ngoại.
Ngoài ra, còn có những nguyên nhân khác như: việc thi hành chủ nghĩa thực dân mới
và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa XH hiện thực và sự tác động của cuộc CM khoa học và
công nghệ cũng đòi hỏi sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước.
Những hình thức biểu hiện chủ yếu của CNTB độc quyền Nhà nước:
Một là, sự kết hợp nhân sự giữa tổ chức độc quyền và Nhà nước tư sản. Sự kết hợp này
thông qua các Đảng phái tư sản. Nhà nước tư sản phụ thuộc vào các tổ chức độc quyền. Các
tổ chức độc quyền tìm cách xâm nhập vào các cơ quan Nhà nước để bảo vệ lợi ích của mình,
bằng hai cách xâm nhập: cử người đại diện của mình vào một số chức vụ trong Chính phủ và
Quốc hội ; hậu thuẫn về KT cho các Đảng đang cầm quyền. Thông qua đó tổ chức độc
quyền tạo sức ép đối với Chính phủ trong việc hoạch định chính sách đối nội và đối ngoại.
Mặt khác, quan chức và nhân viên chính phủ được cài vào các ban quản trị của các tổ chức
độc quyền nắm giữ những chức vụ trọng yếu chính thức hoặc danh dự hoặc trở thành những
người đỡ đầu các tổ chức độc quyền.
Sự thâm nhập lẫn nhau này đã tạo ra những biểu hiện mới trong mối quan hệ giữa các
tổ chức độc quyền và cơ quan Nhà nước từ TW đến địa phương.
Hai là, sự hình thành và phát triển của sở hữu tư bản độc quyền Nhà nước.
CNTB độc quyền Nhà nước xâm nhập vào mọi lĩnh vực đời sống XH, nhưng nét nổi
bật là sức mạnh của Nhà nước và tổ chức độc quyền kết hợp với nhau trong lĩnh vực KT và
Nhà nước tư sản can thiệp trực tiếp vào tái SX XH. Muốn can thiệp có hiệu quả, Nhà nước
phải có lực lượng vật chất, lực lượng KT trong tay, do đó đòi hỏi Nhà nước hình thành
doanh nghiệp Nhà nước, sở hữu tư bản độc quyền Nhà nước.
Sở hữu tư bản độc quyền Nhà nước là sở hữu tập thể của giai cấp tư sản độc quyền, nó
có được từ nguồn thu nhiều cách khác nhau: thuế ; phát hành công trái ; tiết kiệm trong dân
cư trong doanh nghiệp có lợi nhuận tích lũy ; ngân sách Nhà nước phân phối lại …
Sở hữu tư bản độc quyền Nhà nước biểu hiện không những sở hữu Nhà nước tăng lên,
còn nói lên tăng cường quan hệ giữa sở hữu Nhà nước và sở hữu tư bản độc quyền tư nhân
tăng cường mạnh mẽ, chúng quyện vào nhau trong chu chuyển tư bản.
Sở hữu tư bản độc quyền Nhà nước bao gồm các đối tượng: động sản và bất động sản
phục vụ hoạt động bộ máy Nhà nước như công sở cơ quan, các doanh nghiệp Nhà nước
trong các lĩnh vực công, nông, thương mại dịch vụ, lĩnh vực kết cấu hạ tầng.
Sở hữu tư bản độc quyền Nhà nước hình thành từ 4 con đường khác nhau, như đầu tư
xây dựng mới bằng vốn Nhà nước ; quốc hữu hóa các XN tư nhân bằng cách mua lại ; Nhà
nước mua cổ phiếu của các doanh nghiệp tư nhân ; mở rộng doanh nghiệp Nhà nước đã có
bằng vốn của doanh nghiệp tư nhân.
Sở hữu tư bản độc quyền Nhà nước ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành các
ngành thuộc lĩnh vực kinh doanh của Nhà nước. Việc kinh doanh của Nhà nước thực hiện
một số chức năng quan trọng như: mở rộng SX TBCN và đảm bảo địa bàn rộng lớn cho phát
triển tư bản tư nhân, có ý nghĩa đối với các ngành thiếu vốn, làm ăn thua lỗ, ngành cần trang
24


bị công nghệ ; giải phóng tư bản của các tổ chức độc quyền từ ngành có ít lợi nhuận sang
đầu tư ngành làm ăn có hiệu quả ; các doanh nghiệp Nhà nước là chỗ dựa để Nhà nước điều
tiết KT tư bản tư nhân theo chương trình nhất định.
Tuy nhiên, không phải Nhà nước tư sản nào cũng muốn mở rộng các doanh nghiệp Nhà
nước, sở hữu Nhà nước. Việc này tùy thuộc vào lợi ích của giai cấp tư sản thống trị ma trước
hết là lợi ích tập đoàn tư bản độc quyền.
Ba là, sự điều tiết KT của Nhà nước tư sản. Đây là một trong những hình thức biểu hiện
quan trọng nhất của CNTB độc quyền Nhà nước.
Trong giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh, Nhà nước dùng cơ chế thị trường để điều tiết.
Trong thời kỳ độc quyền, Nhà nước kết hợp hai cơ chế: cơ chế tự do thị trường cạnh tranh
và cơ chế độc quyền tư nhân. Sang giai đoạn CNTB độc quyền Nhà nước, lực lượng SX phát
triển cao mang tính chất quốc tế, kéo theo xã hội hóa SX thì sự điều tiết phải từ trung tâm,
có nghĩa là từ sự điều tiết của Nhà nước. Cơ chế điều tiết của Nhà nước tư sản gồm ba bộ
phận: cơ chế thị trường tự do cạnh tranh ; cơ chế độc quyền tư nhân, và cơ chế điều tiết của
Nhà nước. Sở dĩ có sự kết hợp bởi vì cơ chế điều tiết có mặt tích cực và tiêu cực. Sự điều
tiết của Nhà nước nói chung có nhiều mặt tích cực và cũng có nhiều khuyết tật như: bộ máy
Nhà nước ngày càng phình to ra ; căn bệnh quan liêu ngày càng tăng ; độc quyền Nhà nước
trong nhiều trường hợp loại trừ hoàn toàn cạnh tranh, loại trừ động cơ, kích thích sự phát
triển của độc quyền dẫn tới độc đoán, đẻ ra ôn dịch hoành hành khắp nơi trên thế giới đó là
nạn Maphia ; hoạt động của Nhà nước thường đem lại kết quả ngược với mục đích ban đầu
vì trong quá trình thực hiện nó bị bóp méo, biến của cải Nhà nước thành của riêng, đục
khoét ; đưa chiến tranh KT thành chiến tranh động lực và dễ mở cửa cho các căn bệnh mệnh
lệnh, duy ý chí chủ quan.
Phương thức điều tiết của Nhà nước tư sản có nhiều cách và sử dụng nhiều công cụ
khác nhau: pháp luật, hành chính ; thực hiện chương trình kế hoạch KT dài hạn, trung hạn ;
thông qua các dự án, nhất là sử dụng công cụ KT: thuế, tín dụng, công cụ tài chính tiền tệ,
chính sách chống thất nghiệp, chính sách XH.
Những biểu hiện mới hiện nay của CNTB độc quyền Nhà nước: một là, sự điều tiết của
Nhà nước tư sản kết hợp với cơ chế thị trường tự do và tính năng động của độc quyền tư
nhân được biểu hiện là Nhà nước tư sản có xu hướng giảm sở hữu độc quyền Nhà nước,
giảm sự can thiệp của Nhà nước vào KT. Họ coi trọng phát huy tính năng động của KT tư
nhân theo phương châm Nhà nước ít hơn, tư nhân nhiều hơn. Thực tế cho thấy Nhà nước
hạn chế quan liêu hóa trong điều tiết, các nước tư bản hiện nay rất coi trọng luật KT, đơn
giản hóa thủ tục hành chính. Hai là, xác định lại mức trợ cấp của doanh nghiệp Nhà nước.
Nhìn chung, giảm mức trợ cấp cho doanh nghiệp Nhà nước, nhưng tùy theo tính chất mặt
hàng mà xác định mức trợ cấp. Ba là, tư nhân hóa khu vực KT Nhà nước, bởi vì các doanh
nghiệp Nhà nước khả năng cạnh tranh kém, đại bộ phận làm ăn thua lỗ, hoạt động SX kinh
doanh kém hiệu quả. Việc tư nhân hóa không phải là Nhà nước từ bỏ sự độc quyền. Bốn là,
phương thức điều tiết của Nhà nước tư sản có linh hoạt mềm dẻo và phạm vi rộng hơn.
Chẳng hạn điều tiết bằng chương trình, bằng kế hoạch, thông qua hợp đồng ; điều tiết tiến
bộ khoa học – công nghệ bằng cách tăng ngân sách cho nghiên cứu và phát triển ;điều tiết
thị trường lao động vì do ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới cơ cấu KT nên dẫn đến thất
nghiệp. Phạm vi điều tiết mở rộng ra lĩnh vực tài chính, tiền tệ, chống lạm phát, điều tiết giá
cả, điều tiết đối ngoại, tài chính quốc tế. Toóm lại, sự điều tiết của Nhà nước tư sản tạm thời
làm dịu đi mâu thuẫn vốn có chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, sự ra đời của CNTB độc quyền
Nhà nước là sự vận động mới của quan hệ SX TBCN, thúc đẩy quá trình XH hóa SX, thúc
đẩy lực lượng SX XH phát triển. Trong quá trình điều tiết KT của Nhà nước tư sản hướng
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×