Tải bản đầy đủ

gdmaugiao mgbe lananh mn20 10 doc

MÃ SKKN:
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIÊN TIẾN NHẰM
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI CHẬM PHÁT
TRIỂN NGÔN NGỮ

Lĩnh vực: Giáo dục mẫu giáo
Cấp học: Mầm non
Tài liệu kèm theo: phụ lục.

NĂM HỌC 2015-2016
MỤC LỤC
1


2. Mục đích nghiên cứu:........................................................................................4
Nghiên cứu lý luận, tìm hiểu thực trạng và đề xuất một số biện pháp nhằm phát
triển khả năng giao tiếp cho trẻ 3-4 tuổi chậm ngôn ngữ, từ đó góp phần nâng
cao chất lượng hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ................................................4

3. Đối tượng nghiên cứu:.......................................................................................4
4. Đối tượng khảo sát thực nghiệm:......................................................................4
Sáng kiến được thực hiện dựa trên khảo sát thực nghiệm trên các bé khối mẫu
giáo bé , trường mầm non chất lượng cao thành phố Hà Nội................................4
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ........................................................................5
1. Cơ sở lý luận:.....................................................................................................5
2. Thực trạng vấn đề............................................................................................11
3. Áp dụng các biện pháp nhằm phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ 3- 4 tuổi
chậm ngôn ngữ....................................................................................................13
3.1. Nhóm biện pháp của cán bộ quản lý:...........................................................13
3.2. Nhóm biện pháp của giáo viên Mầm non.....................................................14
3.3. Nhóm biện pháp của phụ huynh...................................................................26
4. Đánh giá chung về kết quả thử nghiệm các biện pháp phát triển khả năng giao
tiếp cho trẻ 3 – 4 tuổi chậm ngôn ngữ.................................................................33
III. Kết Luận và Kiến Nghị..................................................................................35
1. Kết luận...........................................................................................................35
2. Kiến nghị.........................................................................................................35
IV. PHỤ LỤC......................................................................................................37
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………… …….40

I . ĐẶT VẤN ĐỀ.
Như chúng ta đã biết, giao tiếp có vai trò rất quan trọng trong đời sống
cũng như sự phát triển của con người nói chung và của trẻ em nói riêng. Giao
2


tiếp là điều kiện để con người lĩnh hội tri thức, bồi bổ tâm hồn, thiết lập cho
mình những mối quan hệ với thế giới xung quanh. Nó là tiền đề cần thiết cho sự
hình thành và phát triển tâm lí, nhân cách của trẻ sau này. Bản chất của con
người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Chính vì vậy, nếu không có giao tiếp
thì con người không thể tham gia vào xã hội, không thể trở thành người.
Khi sinh ra phần lớn trẻ em dường như đã sẵn sàng hoà nhập với xã hội và
phát triển khả năng giao tiếp. Từ những ngày đầu tiên của cuộc sống chúng đã
hết sức vui thích đặc biệt với những biến động của khuôn mặt ai đó tiến lại gần
nó. Trẻ dường như nhận ra rằng con người là rất quan trọng, tìm sự an ủi để chia
sẻ những khoảnh khắc vui sướng. Nhưng đối với trẻ bị chậm ngôn ngữ thì như
thế nào? Chúng cho dù có muốn thể hiện một cái gì đó cũng khó có thể diễn đạt
hết những điều mình mong muốn, cũng như khả năng hoà nhập không cao, do
không hiểu được nội dung truyền tải để có phản ứng hợp lí. Điều đó dẫn đến
những tâm lí tiêu cực như sự tức giận hoặc căng thẳng. Chậm ngôn ngữ không


thể giao tiếp với người khác có thể làm cho trẻ có những vấn đề về hành vi và
giao tiếp xã hội. Nó làm suy giảm trí tuệ, ảnh hưởng tới công việc học hành của
trẻ sau này. Khiếm khuyết về ngôn ngữ là một vấn đề rất đáng lo ngại. Trẻ gặp
khó khăn trong vấn đề tiếp nhận và diễn đạt ngôn ngữ, trong việc hiểu ngôn ngữ
qua ánh mắt, nét mặt, cử chỉ cơ thể. Chính vì vậy, việc phát triển ngôn ngữ cũng
như khả năng giao tiếp cho trẻ chậm ngôn ngữ là một vấn đề rất quan trọng và
đáng được quan tâm.
Trong điều kiện phát triển của xã hôi hiện nay, trẻ em đang được quan tâm
nhiều hơn với những loại hình giáo dục. Ngành giáo dục nói chung và giáo dục
Mầm Non nói riêng cũng có nhiều đổi mới cả về nội dung cũng như phương
pháp, tạo điều kiện cho trẻ em được phát triển tốt hơn. Bản thân tôi được công
tác tại một trường mần non chất lượng cao, đây là ngôi trường đầu tiên được bộ
Giáo dục và Đào tạo tin tưởng giao nhiệm vụ làm thí điểm chương trình quốc tế
với phương pháp dạy học tiên tiến do trường UNIS hướng dẫn. Tôi may mắn
được Ban Giám Hiệu tin tưởng phân công vào lớp thí điểm và Ban Giám Hiệu
đã tạo mọi điều kiện để tôi được đi kiến tập dự giờ ở trường UNIS. Sau khi
được tiếp cận phương pháp tiên tiến tôi nhận thấy phương pháp này giúp trẻ dễ
dàng khám phá môi trường xung quanh trẻ, giúp trẻ phát huy được năng lực chủ
động sáng tạo, kích thích trẻ ham học hỏi, tìm tò, khám phá. Hơn thế nũa tôi
thấy có rất nhiều hoạt động ở trường UNIS kích thích sự phát triển ngôn ngôn
ngữ cho trẻ rất hiệu quả không chỉ đối với trẻ bình thường mà nó tạo cơ hội và
thành công cho cả những trẻ chậm phát triển ngôn ngôn ngữ. Bản thân trong lớp
tôi cũng có những bạn ngôn ngữ còn hạn chế so với các bạn trong lớp và cùng
độ tuổi.
3


Xuất phát từ các lí do trên, tôi chọn đề tài “Áp dụng một số hoạt động dạy
học tiên tiến nhằm phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ 3 – 4 tuổi chậm ngôn
ngữ”.

2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu lý luận, tìm hiểu thực trạng và đề xuất một số biện pháp
nhằm phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ 3-4 tuổi chậm ngôn ngữ,
từ đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc – giáo dục
trẻ.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu bài tập, trò chơi nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo bé 3 – 4
tuổi chậm phát triển ngôn ngữ.

4. Đối tượng khảo sát thực nghiệm:
Sáng kiến được thực hiện dựa trên khảo sát thực nghiệm trên các
bé khối mẫu giáo bé , trường mầm non chất lượng cao thành phố
Hà Nội.
5. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu và áp dụng của sáng kiến giới hạn trong độ tuổi 3-4 tuổi .
Các nghiên cứu rộng hơn sẽ được thực hiện mở rộng trên cơ sở kết quả thực
nghiệm của sáng kiến này.
6. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu, các báo cáo; phân tích,
tổng hợp các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại: Trao đổi, lấy ý kiến của một số giáo viên
dạy lớp thí điểm, xin ý kiến của chuyên viên hướng dẫn thực hiện chương trình
quốc tế bên trường UNIS về việc áp dụng một số bài tập, trò chơi của phương
pháp dạy học tiên tiến nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo bé 3- 4 tuổi
chậm phát triển ngôn ngữ
+ Đàm thoại trao đổi, phối kết hợp với các giáo viên trong lớp và phụ huynh học
sinh.
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động chơi của trẻ và điều chỉnh
- Phương pháp thống kê: Xử lý các kết quả thu được

4


PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận:
Khoa học đã nghiên cứu về đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi chúng ta thấy
trẻ 3 tuổi phát triển rất nhanh về thể lực và tâm lý, ngôn ngữ ngày càng đóng vai
trò quan trọng với trẻ. Trẻ có thể sử dụng lời nói để trao đổi với mọi người xung
quanh.
Sự phát triển của ngôn gắn liền với sự phát triển của tư duy đã giúp trẻ có
khả năng nhận thức thế giới bên ngoài, do đó ở trẻ luôn xuất hiện câu hỏi “ tại
sao ở chúng ta”.
Ngôn ngữ của trẻ tiến bộ nhanh hay chậm tùy thuộc vào điều kiện môi
trường sống, quan hệ giao tiếp với những người xung quanh.
Các khái niệm về giao tiếp được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau:
Giao tiếp là một phạm trù trung tâm của Tâm lí học. Tư tưởng về giao tiếp
được đề cập từ thời cổ đại, qua thời kì phục hưng đến giữa thế kỉ XX thì hình
thành nên một chuyên ngành Tâm lí học giao tiếp. Ngay từ khi còn là các tư
tưởng về giao tiếp đến khi xuất hiện Tâm lí học giao tiếp thì các khái niệm, bản
chất chưa bao giờ thống nhất hoàn toàn. Mỗi tác giả đề cập đến một mặt, một
khía cạnh của hoạt động giao tiếp.
Theo “Tâm lí học xã hội” của Trần Thị Minh Đức (chủ biên): Giao tiếp là
sự tiếp xúc, trao đổi thông tin giữa người với người thông qua ngôn ngữ, cử chỉ,
tư thế, trang phục...
Trong “Tâm lí học”, Phạm Minh Hạc, (1997), NXBGD định nghĩa: “Giao
tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người - người để hiện thực
hoá các quan hệ xã hội người ta với nhau”.
Trong giáo trình “Tâm lí học đại cương”, Nguyễn Quang Uẩn, (NXB
ĐHQGHN, 2000) định nghĩa: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người với
người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, tri giác
lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau. Hay nói khác đi, giao tiếp xác
lập và vận hành các quan hệ người - người, hiện thực hoá các quan hệ xã hội
giữa chủ thể này với chủ thể khác”.
Theo tiến sĩ Tâm lí Lê Xuân Hồng: “Giao tiếp có thể hiểu là một quá trình,
trong đó con người trao đổi với nhau các ý tưởng, cảm xúc và thông tin nhằm
xác lập và vận hành các mối quan hệ giữa người với người trong xã hội vì
những mục đích khác nhau”.
Như vậy, chúng ta thấy có rất nhiều khái niệm khác nhau về giao tiếp, hầu
hết các tác giả đều hiểu giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người với người
5


nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… Giao tiếp là phương thức tồn tại
của con người.
Dựa trên các ý kiến của các tác giả chúng tôi lấy quan điểm giao tiếp trong
“Tâm lí học đại cương” của Trần Thị Minh Đức: “Giao tiếp là quá trình tiếp xúc
giữa con người với con người nhằm mục đích nhận thức, trao đổi với nhau về
thông tin, về cảm xúc, sự ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau”. Khái niệm này
nói lên được bản chất của giao tiếp là sự tác động hai chiều giữa chủ thể với nhau.
Khả năng giao tiếp là một mặt rất quan trọng trong tiến trình phát triển của
trẻ. Khả năng này sẽ dần được hoàn thiện trong năm đầu, từ việc bé sử dụng
toàn bộ cơ thể để diễn tả các cảm xúc cho đến việc bé biết dùng những câu đơn
giản để diễn tả những gì mình mong muốn và giao tiếp với những người xung
quanh là cả một bước tiến dài trong sự phát triển của bé.
Khả năng là gì?
Theo triết học Mac - Lenin thì khả năng là “cái hiện chưa có” nhưng bản
thân khả năng có tồn tại, đó là một sự tồn tại đặc biệt tức là cái sự vật được nói
tới trong khả năng chưa tồn tại, song bản thân khả năng thì tồn tại. Khả năng
không tự nhiên mà có mà nó được hình thành, phát triển trong quá trình tiếp xúc
với loài người trong xã hội.
Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục
đích nhận thức, trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, sự ảnh hưởng tác
động qua lại lẫn nhau.
Như vậy, khả năng giao tiếp là gì?
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khả năng giao tiếp: Khả năng giao tiếp
là khả năng bắt chước người khác khi nhìn thấy hoạt động đó nhiều lần, học hỏi
mọi thứ xung quanh rất nhanh, khả năng tìm tòi, tò mò.
Khả năng giao tiếp là khả năng hiểu biết và khả năng ngôn ngữ, biết sử
dụng các từ ngữ khác nhau trong giao tiếp.
Có ý kiến cho rằng “Khả năng giao tiếp là khả năng hòa đồng, thân thiện
với mọi người”.
Ý kiến khác lại cho rằng “Khả năng giao tiếp là sự tiếp xúc, trao đổi qua
lại giữa các cá thể với nhau”.
Bà Mạc Thị Vân cho rằng “Khả năng giao tiếp là khả năng chú ý lắng
nghe luân phiên, bắt chước, vui chơi, hiểu biết cử chỉ, điệu bộ”.
Cũng có ý kiến khác “Khả năng giao tiếp là khả năng lôi cuốn, thu hút
người khác vào cuộc nói chuyện”.
Theo PGS. TS. Đặng Đình Bôi “Khả năng giao tiếp là khả năng biểu đạt
bằng lời nói, thể hiện qua khẩu ngữ để truyền đạt thông tin, biểu đạt tâm tư,
tình cảm”.
6


Hay “Khả năng giao tiếp là khả năng nói chuyện lưu loát và có tính biểu
cảm”.
Từ các khái niệm trên chúng ta thấy mỗi người có một cách hiểu khác nhau
về khái niệm khả năng giao tiếp. Mỗi một cách hiểu chỉ nói lên được một mặt
hay một khía cạnh, chưa thể hiện đầy đủ khả năng giao tiếp của con người nói
chung, của trẻ nói riêng. Tuy nhiên có điểm chung đó là đều nói đến khả năng
thu hút, nghe hiểu và diễn đạt.
Theo các cách hiểu trên về khả năng giao tiếp, chúng tôi có thể hiểu “Khả
năng giao tiếp là khả năng nghe hiểu lời nói trong giao tiếp, khả năng sử dụng
lời nói để diễn tả những mong muốn hay suy nghĩ của mình về các vấn đề xung
quanh”.
Con người từ khi sinh ra đã có nhu cầu liên lạc, giao tiếp và ứng xử với
môi trường và những người xung quanh để tồn tại và phát triển. Vì thế, khả
năng giao tiếp phát triển một cách bình thường là một trong những kiến thức
nền tảng của con người.
Hầu hết mọi người đều đồng ý rằng những năm đầu đời của trẻ là những năm
quan trọng nhất cho sự phát triển toàn diện của đứa trẻ và ngôn ngữ cũng là một
quá trình tâm lý diễn ra rất mạnh ở trẻ. Ở giai đoạn này trẻ học và nắm được tiếng
mẹ đẻ của mình, do vậy mà phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ là rất quan trọng
vì nó sẽ ảnh hưởng đến tư duy và quá trình học sau này.
Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều
hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến
hoàn thiện hơn. Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc
hậu.
Vậy phát triển khả năng giao tiếp là gì?
Có ý kiến cho rằng “Phát triển khả năng giao tiếp là phát triển các phương
thức giao tiếp, bao gồm giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ”.
Hay “Phát triển khả năng giao tiếp là phát triển khả năng nghe âm thanh
ngôn ngữ, phát âm lại các âm đã được nghe”.
Cũng có ý kiến cho rằng “Phát triển khả năng giao tiếp là phát triển khả
năng hiểu nghĩa của lời nói, sử dụng lời nói trong các tình huống giao tiếp”.
Hoặc “Phát triển khả năng giao tiếp là phát triển lời nói đúng cấu trúc, giúp
cho lời nói của trẻ có nội dung thông báo rõ ràng, logic”.
Ý kiến khác cho rằng “Phát triển khả năng giao tiếp là phát triển cho lời
nói của trẻ có nội dung thông báo rõ ràng, đầy đủ, khi nói trẻ diễn đạt rõ ràng,
có sắc thái biểu cảm”.
Như vậy, có một số ý kiến khác nhau về phát triển khả năng giao tiếp, mỗi
một ý kiến đề cập đến một khía cạnh, một nội dung riêng.
7


Tuy nhiên, để hiểu đầy đủ hơn về phát triển khả năng giao tiếp, chúng tôi
xin đưa ra khái niệm về phát triển khả năng giao tiếp như sau: “Phát triển khả
năng giao tiếp là phát triển khả năng nghe hiểu lời nói, khả năng sử dụng lời
nói trong giao tiếp, biết sử dụng lời nói để diễn đạt những điều mình biết và
mong muốn, giúp trẻ chủ động và hòa nhập trong giao tiếp với mọi người”.
Khái niệm này thể hiện được đầy đủ nội dung phát triển khả năng giao tiếp cho
trẻ 3 – 4 tuổi chậm ngôn ngữ. Vậy theo bạn chậm ngôn ngữ là gì?
Chậm ngôn ngữ là một hiện tượng rối loạn ngôn ngữ ở trẻ nhỏ. Về vấn đề
chậm ngôn ngữ ở trẻ có các định nghĩa khác nhau.
Theo cuốn sách “Tâm bệnh học trẻ em”, Tủ sách tâm lí, đưa ra định nghĩa:
Chậm ngôn ngữ đôi khi còn được gọi là chậm ngôn ngữ đơn thuần, nghĩa là cái mà
chúng ta giả định: sự chậm này là riêng biệt, không có chậm khôn.
Rất nhiều mô tả chậm ngôn ngữ muốn chi tiết hóa các ngôn ngữ của những
trẻ bị, đã nhấn mạnh các đơn giản hóa phát âm của chúng, đã nhắc lại cái hay ho
của ngữ pháp kém và cấu trúc lời nói kém.
Theo đó, chậm ngôn ngữ ở trẻ kết hợp theo các cách khác nhau:
- Chậm cấu âm hoặc chậm phát âm, nhưng có thể rất ít hoặc không có
- Chậm ngữ pháp và ngôn ngữ, khá quan trọng.
- Những khó khăn có thể có về sau, đôi khi kết hợp với vấn đề kém các âm
vị khi thử nghiệm nhắc lại các từ dài
- Hiếm gặp các rối loạn hiểu.
Theo Tiến sĩ Trần Thị Thu Hà, Phó trưởng khoa phục hồi chức năng (Bệnh
Viện Nhi Trung Ương): Chậm ngôn ngữ là một tình trạng rối loạn phát triển
ngôn ngữ, không được gọi là một bệnh.
Theo một số nghiên cứu cho rằng: Trẻ chậm ngôn ngữ là những trẻ chưa có
khả năng trao đổi những điều thông thường khi đã 3 tuổi.
Chậm ngôn ngữ (nói lắp, nói từng từ một...) là biểu hiện một khiếm khuyết
của giác quan trong trường hợp trẻ bị điếc hay trong hội chứng tự kỉ, chậm
khôn.
Chậm ngôn ngữ là một rối loạn trong việc diễn tả ngôn ngữ chỉ xuất hiện
khi nói với người khác, là một rối loạn chức năng giao tiếp bằng lời, chậm ngôn
ngữ là tình trạng phát âm không chuẩn một hay một nhóm âm vị.
Theo Thạc sĩ Ngôn ngữ trị liệu Nguyễn Tường Anh, chậm phát triển ngôn
ngữ được mô tả như sau:
+ Không diễn tả tư tưởng mạch lạc.
+ Không ghi nhớ được chi tiết mà người khác nói.
+ Không nhớ để lặp lại một câu nói.
+ Không biết đặt câu hỏi.
8


+ Không biết trả lời các câu hỏi, không biết nhiều từ vựng.
+ Yếu khả năng hiểu nghĩa bóng, thành ngữ.
+ Không có khả năng kể một câu chuyện quen thuộc.
Chậm ngôn ngữ đơn thuần khác với chậm ngôn ngữ của hội chứng tự kỷ,
trẻ có thể hiểu được lời nói và một số mệnh lệnh đơn giản của người khác. Trẻ
chậm ngôn ngữ có nhiều biểu hiện khác nhau, có trẻ chỉ phát ra những tiếng vô
nghĩa, lặp đi lặp lại không dứt, có trẻ phát âm rõ ràng nhưng chỉ nói từ đơn,
không có khả năng ghép hai từ hay nhiều hơn hai từ thành một câu.
Một số ý kiến cho rằng chậm ngôn ngữ là sau 6 tháng trẻ chưa nói được từ
đơn, sau 24 tháng trẻ chưa nói được câu 2 – 3 từ. Trẻ có thể bắt đầu nói muộn
hơn khi bắt đầu nói từng từ đơn lúc 4 – 5 tuổi. Những từ đầu tiên của trẻ nhiều
khi không rõ, ngọng ngiụ.
Như vậy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về trẻ chậm ngôn ngữ, theo quan
điểm chúng tôi thì trẻ chậm ngôn ngữ là những trẻ vẫn có khả năng giao tiếp
nhưng khó khăn, chậm hơn so với những trẻ bình thường cùng trang lứa, trẻ
không đạt được các ngưỡng phát triển ngôn ngữ thông thường và thường chậm
hơn so với những trẻ bình thường cùng lứa tuổi ít nhất một năm.
Chậm ngôn ngữ ở trẻ là một trong những hiện tuợng rối loạn về ngôn ngữ.
Nếu không được phát hiện sớm và can thiệp sớm có thể để lại những hậu quả vô
cùng nghiêm trọng sau này đối với bản thân trẻ, với gia đình có trẻ chậm ngôn
ngữ và cả cộng đồng xã hội vì mất đi một chủ nhân tương lai hay một nguồn lực
của đất nước
Nó là một hiện tượng ảnh hưởng trực tiếp lên tất cả các mặt sinh hoạt, tác
động lên cá nhân trẻ, mất hứng thú học tập, dòng tư duy chậm chạp, kém hiệu
quả, hành vi, thái độ không phù hợp với cả bản thân trẻ và các chuẩn mực đạo
đức mà xã hội đặt ra. Nó không chỉ ảnh hưởng đến bản thân trẻ mà còn ảnh
hưởng tới những người xung quanh, người thân của trẻ vì những cảm giác, tâm
trạng buồn chán.
“Bản chất của con người là tổng hoà các mối quan hệ của xã hội” (C.Mac).
Giao tiếp là một hoạt động xã hội, giúp con người trở thành một thành viên tích
cực của xã hội. Mà ngôn ngữ là công cụ của giao tiếp. Chính vì thế, trẻ bị chậm
ngôn ngữ kéo theo nguy cơ không hoà nhập được trong hoàn cảnh xã hội và
không tạo lập được cho mình một mối quan hệ tích cực trong môi trường xung
quanh. Khi không hoà nhập được trong xã hội thì khả năng giao tiếp của trẻ với
mọi người xung quanh bị hạn chế. Kéo theo sự chậm chạp trong nhận thức cũng
như sự phát triển trí tuệ, ảnh hưởng tới quá trình học tập của trẻ sau này.
Dù do nguyên nhân nào gây ra thì chậm ngôn ngữ cũng sẽ để lại hậu quả
nghiêm trọng. Chính vì thế, nó cần có các biện pháp tác động và được chữa trị
9


kịp thời, vì càng để lâu càng khó chữa trị hơn. Nếu để trẻ phát triển tự nhiên trong
khi ngôn ngữ của trẻ có những khó khăn thì trẻ sẽ có khó khăn về mặt phát triển
tâm lí: chậm nhận thức so với bạn bè cùng lứa tuổi, khó khăn trong diễn đạt ngôn
ngữ, dẫn đến có tâm lí mặc cảm, tự ti, không phát triển được các mối quan hệ
trong giao tiếp, bị bạn bè trêu chọc, đánh mắng, bị cô lập, ám sợ đám đông,
trường học. Vì thế, có thể biểu hiện ra ngoài như: ít giao tiếp, nhút nhát, tự ti,
chơi một mình hay có trẻ lại mất tập trung, chạy nhảy quá mức, không chịu phản
ứng hồi đáp bằng ngôn ngữ với người khác, nghịch ngợm hay cáu gắt, nói ra một
tràng âm không có nghĩa, nhắc lại lời của người khác một cách nguyên vẹn. Nếu
không chữa trị và can thiệp sớm sẽ rất khó để khắc phục. Nó không chỉ ảnh
hưởng tới bản thân trẻ mà còn ảnh hưởng đến xã hội. Vì vậy, trách nhiệm của mỗi
người là hiểu biết về nó và có sự can thiệp sớm, đúng hướng để trẻ 3 – 4 tuổi
chậm ngôn ngữ phát triển khả năng giao tiếp như những trẻ bình thường
Phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ 3 – 4 tuổi chậm ngôn ngữ là một việc
làm rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển và thành công của
trẻ trong tương lai sau này. Tuy nhiên, để phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ
chúng ta phải làm như thế nào, bằng phương pháp nào và phát triển những nội
dung gì còn là một câu hỏi khó đối với các giáo viên Mầm non cũng như phụ
huynh có con chậm ngôn ngữ. Dưới đây chúng tôi xin đưa ra một số nội dung
phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ 3 – 4 tuổi chậm ngôn ngữ:
* Phát triển khả năng nghe, hiểu lời nói của trẻ.
Một số trẻ em chậm ngôn ngữ do không nghe được, không hiểu được ý
nghĩa, nội dung câu chuyện hay không hiểu, không tiếp thu được những lời
người khác nói.
Khi trẻ tập nói, trẻ thường nói theo cách rất cụ thể, chẳng hạn dùng câu nói
để diễn tả nhu cầu của bản thân. Chúng thường lặp lại những từ, câu và dùng
các từ hay câu này, hoặc chỉ đơn giản là lặp lại những gì chúng nghe được. Trẻ
chỉ hiểu nghĩa đen của câu nói. Không hiểu những kiểu nói đùa, suy luận hay tu
từ, khi có ai đó nói đùa đôi khi trẻ hay nhầm lẫn, và còn có thể phát cáu, bực
bội. Trẻ gặp khó khăn khi cố gắng tìm hiểu ngôn ngữ cơ thể, điệu bộ cơ thể,
những cách phản ứng hay cảm xúc của người khác.
Một số trẻ không hiểu những gì người khác hỏi, khi được hỏi hay nhắc lại
câu hỏi của người khác hoặc không biết cách trả lời, hoặc khi được hỏi thì nói ra
một tràng mà người nghe không hiểu gì cả. Một số trẻ hiểu nội dung câu hỏi và
làm một cách rất tốt nhưng lại không tự nói được, khi được mớm lời trẻ vẫn có
thể nói được.
Để giúp trẻ có thể nghe và hiểu được lời nói của người khác chúng ta xây
dựng các bài tập lắng nghe, tiếp thu và hiểu biết ý nghĩa của một số tình huống
10


trong cuộc sống hàng ngày. Vì vậy, phát triển khả năng nghe, hiểu lời nói trong
giao tiếp là một trong những nội dung vô cùng quan trọng của việc phát triển
khả năng giao tiếp cho trẻ 3 – 4 tuổi chậm ngôn ngữ.
* Phát triển khả năng diễn đạt trong lời nói của trẻ
Khả năng diễn đạt ý kiến rõ ràng bằng lời là khả năng sử dụng ngôn ngữ
bằng lời một cách lưu loát, trôi chảy, không vướng mắc, nói ngọng, nói lắp.
Tuy nhiên, đối với những trẻ chậm ngôn ngữ ở độ tuổi 3 – 4 tuổi thì khả
năng nói hay diễn đạt ý kiến của mình bị hạn chế. Như chúng ta đã biết, chậm
ngôn ngữ ở trẻ là hiện tượng ngôn ngữ không phát triển bình thường như những
trẻ khác cùng lứa tuổi.
Trẻ không biết nói bi bô, líu lo, không có khả năng bắt chước tiếng kêu của
người lớn. Đôi khi trẻ nói một cách kì lạ, không đúng tình huống, trả lời không
đúng câu hỏi, ngữ pháp lộn xộn, cụt lủn.
Không tìm từ đúng ngữ cảnh, sử dụng từ không đúng ngữ cảnh, đôi khi
dùng từ chung chung không cụ thể, trẻ không nhìn ra được các lỗi trong ngôn
ngữ, kém trí nhớ. Có trẻ thì luôn tỏ thái độ hay trả lời là không biết nhưng thật
ra là trẻ không hiểu câu hỏi, có khiếm khuyết xử lí thông tin từ câu hỏi. Có trẻ
thì luôn lặp lại câu hỏi của người khác.
Khi trẻ tập nói, trẻ thường nói theo cách rất cụ thể, chẳng hạn dùng câu nói
để diễn tả nhu cầu của bản thân. Chúng thường lặp lại những từ, câu và dùng
các từ hay câu này, hoặc chỉ đơn giản là lặp lại những gì chúng nghe được. Trẻ
chỉ hiểu nghĩa đen của câu nói. Không hiểu những kiểu nói đùa, suy luận hay tu
từ, khi có ai đó nói đùa đôi khi trẻ hay nhầm lẫn, và còn có thể phát cáu, bực
bội. Trẻ gặp khó khăn khi cố gắng tìm hiểu ngôn ngữ cơ thể, điệu bộ cơ thể,
những cách phản ứng hay cảm xúc của người khác. Chính vì vậy cần thiết phải
phát triển khả năng diễn đạt trong lời nói cho trẻ.
Như vậy, khi tổ chức bất kì hoạt động nào cho trẻ 3 – 4 tuổi chậm ngôn
ngữ cần phải chú ý đến 2 nội dung trên và cần thực hiện chúng ở tất cả các hoạt
động trong ngày.

2. Thực trạng vấn đề
* Thận lợi : Trong những năm học vừa qua, được sự quan tâm của các cấp lãnh

đạo Quận Hoàn Kiếm và Thành phố Hà Nội nên cứ vào đầu mỗi năm học là
trường lại tổ chức khám sàng lọc tâm lý cho tất cả các trẻ trong trường nên khi
trẻ nào có nhu cầu đặc biệt sẽ được TS.Nguyễn Kim Quý đánh giá và lên kế
hoạch can thiệp cá nhân cho trẻ đó. Bên cạnh đó tất cả các cháu đều được học
bộ môn phát triển tâm vận động và các giác quan” đây là một dạng thực hành
lấy cơ thể làm trung tâm để thúc đẩy chức năng cảm giác, vận động, trương lực
11


cơ, sự trải nghiệm cảm xúc và sự tưởng tượng của trẻ. Sự thực hành này dựa
trên quan điểm về sự thống nhất biện chứng của thể chất và tâm lý con người.
" Phát triển tâm vận động và các giác quan " là một phương pháp giáo dục
dựa vào sự quan sát và xử dụng các giác quan một cách hợp lý để kích thích các
khả năng của trẻ em. Thông qua sự vận động trong các trò chơi, các em dần dần
hoàn thiện những kỹ năng còn yếu của mình. Phương pháp này dựa trên sự
hứng thú, vui vẻ và tự nguyện của trẻ qua các trò chơi.
Trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo tin tưởng giao nhiệm vụ làm thí
điểm chương trình quốc tế với phương pháp dạy học tiên tiến do trường UNIS
hướng dẫn. Ban Giám Hiệu tin đã tạo mọi điều kiện để giáo viên được đi kiến
tập dự giờ ở trường UNIS. Sau khi được tiếp cận phương pháp tiên tiến giáo
viên nhận thấy phương pháp này giúp trẻ tiếp nhận thông tin một cách dễ dàng,
giúp trẻ phát huy được năng lực chủ động sáng tạo, kích thích trẻ ham học hỏi,
tìm tò, khám phá. Hơn thế nũa tôi thấy có rất nhiều hoạt động ở trường UNIS
kích thích sự phát triển ngôn ngôn ngữ cho trẻ rất hiệu quả không chỉ đối với trẻ
bình thường mà nó tạo cơ hội và thành công cho cả những trẻ chậm phát triển
ngôn ngôn ngữ.
* Khó khăn :
- Do mới được tiếp cận phương pháp dạy học mới nên trong quá trình tổ chức
các hoạt động cho trẻ chậm ngôn ngữ còn hạn chế, khả năng nắm bắt cũng như
việc vận dụng các biện pháp trong quá trình tổ chức hoạt động chưa linh hoạt:
- Việc sử dụng đồ dùng, đồ chơi trong quá trình tổ chức các hoạt động của giáo
viên chưa được linh hoạt, còn nhiều hạn chế, đôi khi sử dụng không đúng mục
đích phát triển đối với trẻ nên chưa đem lại hiệu quả cao.
Qua việc khảo sát các kỹ năng năng nghe, hiểu lời nói, diễn đạt trong lời
nói của trẻ đầu năm tôi thấy:
- 40% Trẻ hiểu được câu hỏi, trả lời rõ ràng.
- 35% Trẻ nói đủ câu, không nói ngọng.
Tỉ lệ phần trăm trẻ có các kỹ năng nghe hiểu, trả lời câu đây đủ là rất thấp.
Vì vậy, trong năm học 2015 – 2016 để rèn luyện kỹ năng nghe hiểu, trả lời
câu đây đủ cho trẻ, tôi đã trao đổi, thảo luận với các giáo viên trong lớp, tham
khảo ý kiến của Ban giám hiệu nhà trường để áp dụng một sốphương pháp dạy
học tiên tiến vào trong các hoạt động nhằm phát triển kỹ năng nghe hiểu, trả lời
câu đây đủ cho trẻ.
Đối với phụ huynh
- Phụ huynh lo làm ăn kinh tế nên không có nhiều thời gian dành cho con:
Đa số những trẻ chậm ngôn ngữ đều rơi vào các gia đình mải làm ăn kinh tế, ít
có thời gian dành cho con. Họ cho rằng chỉ cần lo cho con một cuộc sống đầy
12


đủ, cái gì cũng có là được mà không biết rằng trẻ nhỏ cần sự quan tâm âu yếm
từ người thân mà đặc biệt người mẹ như thế nào. Họ đi làm kiếm tiền và thuê
giúp việc về nhà chăm con hoặc thuê gia sư về nhà dạy con nhưng giúp việc
không bao giờ có thể thay thế được người mẹ hay những người thân trong gia
đình. Khi trẻ không cảm nhận được sự yêu thương quan tâm từ cha mẹ, ít được
trò chuyện, vui chơi cùng cha mẹ sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới tâm lí của trẻ,
nếu trẻ bị ảnh hưởng về mặt tâm lí có thể dẫn đến ít nói và dần dần sẽ rơi vào
tình trạng chậm nói.
- Sử dụng các biện pháp tác động chưa phù hợp, không thường xuyên: Hầu
hết các phụ huynh đều không có kiến thức trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ
chậm ngôn ngữ . Chính vì vậy, khi có con chậm ngôn ngữ họ không có hoặc ít
có các biện pháp tác động phù hợp với sự phát triển của trẻ. Mặt khác, nếu đưa
ra được các biện pháp tác động thì cũng không thường xuyên và sử dụng chưa
có sự linh hoạt, sáng tạo, cũng có các biện pháp chỉ sử dụng một hai lần do
không có kết quả nên thôi. Vấn đề này đánh vào nhận thức chưa đúng của phụ
huynh. Rất ít gia đình có con chậm ngôn ngữ mà cả nhà ở nhà chăm con không
đi làm vì họ nghĩ nếu không đi làm sẽ không cho con một cuộc sống đầy đủ.
Việc con bị thiếu về mặt vật chất cha mẹ sẽ cảm thấy rất có lỗi với con. Điều
này làm ảnh hưởng tới sự phát triển của con cái.

3. Áp dụng các biện pháp nhằm phát triển khả năng giao tiếp cho
trẻ 3- 4 tuổi chậm ngôn ngữ.
3.1. Nhóm biện pháp của cán bộ quản lý:
Bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên Mầm non
Đội ngũ giáo viên là lực lượng đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển
của trẻ nói chung, trẻ chậm ngôn ngữ nói riêng. Trong tất cả các trường Mầm
non nào cũng có những trẻ chậm ngôn ngữ vì vậy để nâng cao công tác chăm
sóc – giáo dục trẻ chậm ngôn ngữ học hòa nhập đội ngũ giáo viên cần có sự am
hiểu chuyên sâu về lĩnh vực này. Điều này đòi hỏi các cán bộ quản lí trường
Mầm non cần phải có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao năng lực cho các giáo viên
trong trường, hơn thế nữa cán bộ quản lý thường xuyên tạo điều kiện cho giáo
viên được đi tham quan kiến tập tại tường UNIS tiếp cận với phương pháp dạy
học tiên tiến để giáo viên có thể áp dụng phương pháp dạy học này trong quá
trình chăm sóc giáo dục trẻ.
Đây là một biện pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực tổ chức của các
giáo viên Mầm non về phát triển ngôn ngư cho trẻ thông qua phương pháp giáo
dục tiên tiến .Các cán bộ quản lí nhà trường Mầm non chú ý đến vấn đề này để
13


tạo niềm tin và sự tin tưởng cho những phụ huynh có con chậm ngôn ngữ gửi
vào trường.
Lên kế hoạch cử giáo viên đi tham quan kiến tập tại trường UNIS , để từ
đó xây dựng được các biện pháp tác động phù hợp, khoa học giúp trẻ chậm
ngôn ngữ phát triển khả năng giao tiếp, xây dựng các mối quan hệ xã hội, cộng
đồng với mọi người xung quanh.

3.2. Nhóm biện pháp của giáo viên Mầm non
a. Thường xuyên trò chuyện với trẻ mọi lúc, mọi nơi.
Tạo sự vui vẻ, gần gũi giữa cô và trẻ, từ đó trẻ cảm nhận được mình đang
sống trong một môi trường an toàn và dễ dàng thổ lộ, dãi bày những điều trẻ
muốn nói, trên cơ sở đó cô giáo kích thích sự phát triển khả năng giao tiếp của
trẻ.
Đó là hình thức nói miệng đơn giản nhất được sử dụng để trao đổi thông
tin, tình cảm, ý nghĩa của người lớn đối với trẻ và giữa trẻ đối với người lớn
trong sinh hoạt hàng ngày. Khi nói chuyện với trẻ, ngoài ngôn ngữ còn sử dụng
các phương tiện biểu cảm như: cử chỉ, nét mặt, giọng nói... Khi nói chuyện với
trẻ chậm ngôn ngữ thì ngôn ngữ cô sử dụng thường đơn giản, kèm theo những
lời giảng giải để trẻ dễ hiểu và cô. Trong khi giao tiếp, cô có thể yêu cầu cả
những trẻ bình thường cùng nói chuyện, cùng bàn bạc một vấn đề nào đó để
kích thích trẻ chậm ngôn ngữ nói.
Cô tổ chức trò chuyện thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoạt
động, mọi hoàn cảnh. Cô chuẩn bị trước về mặt chủ đề trò chuyện, ghi ngắn gọn
nội dung trò chuyện. Khi trò chuyện phải dựa trên sự hiểu biết của chính những
trẻ chậm ngôn ngữ để kích thích trẻ hứng thú và nói nhiều hơn.
Khi trẻ nói, cô phải để cho trẻ tự do suy nghĩ, tự do nói, tạo không khí tâm
lí thoải mái, vui tươi, an toàn, ấm áp giữa trẻ với cô và trẻ với trẻ. Trong quá
trình trò chuyện không nên làm trẻ mất hứng, giọng nói, nét mặt của cô phải thu
hút trẻ. Trẻ sẽ ngại nói, ngại giao tiếp nếu như bầu không khí trở nên căng
thẳng, khó chịu. Đặc biệt đối với trẻ chậm ngôn ngữ thì điều đó càng khó khăn
hơn. Chính vì vậy, cần gần gũi trẻ, yêu thương trẻ, cô phải giống như một người
mẹ trong gia đình, một người bạn tin tưởng để trẻ có thể nói chuyện bất cứ lúc
nào. Bên cạnh đó, cô cần phải có mối quan tâm đặc biệt đối với những câu hỏi
của trẻ, cho dù đó là những câu hỏi như thế nào. Việc quan tâm và sẵn sàng trả
lời các câu hỏi của trẻ tạo điều kiện cho việc giao tiếp của trẻ trong cuộc sống
rất cao.
Giờ đón trẻ: khi cô thấy trẻ đến lớp cô nhẹ nhàng ân cần đón trẻ bằng lời
nói, cử chỉ ân cần, nhẹ nhàng, có khi cô ôm trẻ vào lòng tạo niềm tin yêu cho
14


trẻ. Khi trẻ chưa chào cô, cô có thể nhẹ nhàng chào trẻ để trẻ bắt trước cô mà
không bị gượng ép.
Một điều cũng không kém phần quan trọng đó là khi trò chuyện phải kết
hợp trực quan để kích thích trẻ và nên trò chuyện dựa trên hoạt động chính của
trẻ hàng ngày.
Trò chuyện có tác dụng rất lớn trong việc rèn luyện và phát triển giao tiếp
cho trẻ, đặc biệt là đối với những trẻ chậm ngôn ngữ, đồng thời cũng có tác
dụng mở rộng hiểu biết cho trẻ.
Khi trò chuyện, cô giáo kích thích các trẻ nói chuyện với trẻ chậm ngôn
ngữ. Cô hỏi trẻ về sinh hoạt hàng ngày, các công việc mà trẻ chậm ngôn ngữ
làm ở nhà, trên lớp, với bạn bè... Để kích thích trẻ tư duy và sử dụng ngôn ngữ
để nói. Cô nên sử dụng, phối hợp các thủ thuật khen ngợi, yêu cầu trẻ nói lại...
để kích thích trẻ.
Việc trò chuyện, tạo bầu không khí tâm lí thoải mái giúp cô và trẻ chậm
ngôn ngữ, trẻ chậm ngôn ngữ với trẻ bình thường được gần gũi hơn, sẽ phát huy
tốt khả năng giao tiếp cho trẻ chậm ngôn ngữ.
Trong giờ trò chuyện buổi sáng: Cuối buổi học hôm trước cô đưa cho trẻ
em búp bê và nói với trẻ.
- Cô Giáo: Hôm nay bạn Uyên Thư học rất ngoan nên em búp bê rất muốn
về nhà bạn Uyên Thư chơi, bạn Uyên Thư có đồng ý để em búp bê về nhà chơi
cùng mình không?và sáng mai con và em búp bê đến lớp con hãy kể cho cô và
các bạn nghe về những việc mà con và em búp bê đã cùng nhau làm ở nhà nhé!
- Trẻ Uyên Thư: Vâng ạ.
Sáng hôm sau trẻ cùng em búp bê đến lớp.
- Cô Giáo: Cô mời bạn Uyên Thư lên đây kể cho cô và các bạn nghe về
những việc mà bạn đã cùng em búp bê làm ở nhà nào?
- Trẻ Uyên Thư: Con chơi cùng bạn em búp bê ạ.
- Cô Giáo: Con đã chơi gì với em búp bê?
- Trẻ Uyên Thư: con chơi xếp hình.
- Cô Giáo: Tiếp theo con đã làm gì với em búp bê nữa?
Cứ như vậy cô đặt các câu hỏi để khơi gợi các câu trả lời của trẻ, cô
khuyến khích động viên trẻ. Nếu một số câu trẻ nói không rõ ý, trẻ không diễn
tả được thì cô sẽ gợi ý để trẻ nói cùng cô .Cô nhờ cô phụ chụp lại hình ảnh mà
trẻ đang kể với cô và các bạn về các công việc mà mình đã làm ở nhà với bạn
mèo và lưu lại ở quyển ảnh sản phẩm của trẻ và cô ghi lại những lời bạn kể ở
bên dưới tấm ảnh đó. Những tấm ảnh này sẽ rất có ý nghĩa với trẻ và gia đình
trẻ, sau đó cô có thể ghi lại những lời của trẻ dán xung quanh bức ảnh đó.
( tranh 1)
15


Hay khi cô đưa ra một bức tranh để cô và trẻ cùng tìm hiểu thì cô nên đưa
bức tranh có ít chi tiết và hình ảnh rõ ràng, và lần lượt cô gợi ý giúp trẻ tìm hiểu
bức tranh. Cô động viên khuyến khích những trẻ ngôn ngữ chậm hơn các bạn
lên trả lời câu hỏi dễ trước.
Con nhìn thấy gì trong tranh?
Con nghĩ đến điều khi nhìn vào tranh?
Con muốn biết điều gì? Cô gọi ý để trẻ có thể đặt được câu hỏi cho bức
tranh tao sự thành cô cho trẻ. Cuối hoạt động cô dùng dấu cô khen , khen
thưởng trẻ để động viên khuyến khích trẻ, để trẻ cố gắng hơn tròn các hoạt
động khác.
( Tranh 2)
b. Tổ chức các giờ đọc chuyện, kể chuyện cho trẻ nghe
Việc cho trẻ tiếp xúc với các tác phẩm văn học sẽ tạo cơ hội cho trẻ chậm
ngôn ngữ học cách giao tiếp một cách tự nhiên, không ép buộc
Kể chuyện, đọc chuyện cho trẻ nghe cũng là một phương pháp rất tốt trong quá
trình phát triển giao tiếp cho trẻ chậm ngôn ngữ. Cô có thể đọc, kể trong các giờ học,
mọi lúc, mọi nơi. Thông qua kể chuyện, đọc chuyện cô kích thích trẻ tham gia vào
trả lời các câu hỏi liên quan đến nội dung câu chuyện, bài thơ, phát triển ngôn ngữ
và khả năng trao đổi, đàm thoại giữa cô và trẻ.
Trước khi đọc, kể giáo viên cho trẻ xem tranh, chơi trò chơi để khơi gợi
hứng thú của trẻ. Khi kể cô chú ý sử dụng điệu bộ, cử chỉ, sử dụng các thủ thuật
để thu hút sự chú ý của trẻ. Cô kể chuyện kèm theo tranh minh họa. Cô hướng trẻ
đến bức tranh, miêu tả những chi tiết trong tranh nhằm giúp trẻ hiểu và trả lời
đúng các câu hỏi cô đặt ra nếu trẻ khó khăn trong việc đưa ra các câu hỏi và câu
trả lời cô có thể gợi ý thêm để trẻ có thể hoàn thành nhiệm vụ cảu mình tạo sự
thành cô cho trẻ, hay khi trẻ khó phát âm, hay nói ngọng một từ nào đó cô có thể
nói từ đó để trẻ nhìn vào khẩu hình miệng mình và bắt trước theo từ 2-3 lần. Nếu
trẻ cảm thấy thích thú bức tranh cô nên dành thời gian cho trẻ thảo luận, tranh thủ
cơ hội này, phát triển ngôn ngữ và khả năng giao tiếp cho trẻ. Ngoài ra trong khi
kể cô hướng trẻ đến những lời đối thoại trong câu chuyện. Khi kể, đọc xong cô
nên đặt các câu hỏi xoay quanh câu chuyện để trẻ trả lời. Ví dụ như “Cô vừa kể
cho con nghe câu chuyện gì?”, “Câu chuyện có những nhân vật nào?”...
Cô tạo điều kiện kích thích trẻ chậm ngôn ngữ với các trẻ khác được tranh
luận, thảo luận về các nhân vật trong câu chuyện. Cô hướng dẫn cho trẻ bình
thường đặt những câu hỏi đối với trẻ chậm ngôn ngữ và ngược lại. Cô để cho trẻ
tự do nói lên suy nghĩ của mình về các nhân vật. Và liên hệ thực tế để trẻ trả lời
được chính xác hơn.
16


Cô kể đi kể lại nhiều lần và sau đó cô có thể cùng trẻ đóng vai theo nội
dung câu chuyện. Cô cho trẻ đóng vai nhân vật mà trẻ thích. Thông qua việc
đóng vai, sử dụng các câu nói của vai, trẻ giao tiếp với cô và các bạn. Cô cùng
trẻ thảo luận về vai diễn. Cô tạo điều kiện cho trẻ được nhận vai mà trẻ thích, vì
như thế mới có thể kích thích trẻ học nói. Sau khi nhận vai diễn, cô giúp trẻ nhớ
lại nội dung lời thoại của nhân vật mình sẽ đóng. Tham gia vào việc đóng vai trẻ
được hóa thân vào nhân vật, được nói bằng ngôn ngữ của nhân vật trong truyện.
Đặc biệt, cần kích thích trẻ bằng các đạo cụ sân khấu, hóa trang,.. tạo sự thích
thú, ham thích ở trẻ. Cô hướng dẫn trẻ về từng lời nói, cử chỉ, điệu bộ, hành
động của vai diễn. Nếu trong quá trình đóng vai trẻ có những câu nói sáng tạo,
tưởng tượng giáo viên cần kịp thời khen thưởng, động viên để trẻ thích thú và
tiếp tục phát huy.
Phương pháp cho trẻ nghe tác phẩm văn học là cung cấp cho trẻ dạng ngôn
ngữ và cách biểu cảm khác hoàn toàn ngôn ngữ trẻ nghe thấy hàng ngày. Đọc
sách, kể chuyện cho trẻ nghe sẽ giúp trẻ được làm quen với nhiều mẫu câu, từ
mới và cách chuyển câu khéo léo. Những câu chuyện cổ tích, truyện đồng
thoại... sẽ giúp trẻ phát triển khả năng kể chuyện, đóng kịch. Trong quá trình
tham gia kể chuyên trẻ học cách diễn đạt, biểu cảm thông qua giọng nói. Đó
cũng là một sáng tạo không nhỏ của trẻ trong quá trình phát triển ngôn ngữ.
Đồng thời, khi đóng kịch, không những trẻ cần nhập vai, nhớ lời nhân vật mà trẻ
còn học cách diễn đạt ngôn ngữ bằng điệu bộ, nét mặt... diễn đạt phi ngôn ngữ
càng làm trình độ giao tiếp của trẻ phát triển ở nấc thang cao hơn đó là diễn đạt
có cảm xúc hơn, tinh tế hơn và có phong cách riêng. Những trẻ có khó khăn về
ngôn ngữ khi tiếp xúc với tác phẩm văn học còn giúp trẻ tự tin hơn, mạnh dạn
hơn trong khi sử dụng lời nói.
Hay giáo viên và trẻ cùng sáng tác ra một câu chuyện theo sự gợi ý và trí
tưởng tượng của trẻ:
Cô bật một bản nhạc không lời, trầm thi thoảng có tiếng thú kêu, tiếng
đêm. Giá viên đua ra một chiếc chìa khóa và dẫn dắt trẻ vào câu truyện.
Cô có một chiếc chìa khóa chúng mình cùng nhắm mắt tưởng tượng xem
chiếc chìa khóa này nó được làm từ chất liệu gì và nó có hình dáng như thế nào?
- Trẻ: Chiếc chìa khóa này to, dài, nó bằng sắt.
- Cô: Theo chúng mình chiếc chìa khóa này dùng để làm gì?
- Trẻ: chìa khóa dùng để mở của ngôi nhà.
- Cô: Ngôi nhà đó ở đâu?
- Trẻ: Ngôi nhà đó ở trong rừng.
- Cô: Chúng mình cùng tưởng tưởng tượng xem đường đi đến ngôi nhà đó
như thế nào?
17


- Trẻ: Trên đường có nhiều cây, có nhiều con thú, có cả mạng nhện.......
Cứ như vậy cô và trẻ cùng tưởng tượng ra một câu truyện.

Cô và trẻ cùng tưởng tượng ra một câu chuyện
Như vậy, việc cho trẻ tiếp xúc với các tác phẩm văn học sẽ tạo cơ hội cho
trẻ chậm ngôn ngữ học cách giao tiếp một cách tự nhiên, không ép buộc.
( Tranh 3)
c. Sử dụng đồ dùng, đồ chơi có tính chất đặc biệt.
Việc lựa chọn và sử dụng đồ dùng, đồ chơi cho phù hợp với nhu cầu của
trẻ chậm ngôn ngữ có vai trò rất lớn đối với việc hình thành các kiến thức, kĩ
năng cũng như khả năng ngôn ngữ của trẻ. Trước tiên đồ dùng, đồ chơi kích
thích trẻ hoạt động với chúng. Độ tuổi 2 – 3 tuổi hoạt động chủ đạo của trẻ là
hoạt động với đồ vật, lên Mẫu giáo bé, nhu cầu chơi với đồ vật, đồ chơi vẫn còn
rất lớn. Chính vì thế, việc sử dụng đồ dùng, đồ chơi kích thích trẻ học nói có vai
trò rất quan trọng.
Giáo viên lựa chọn đồ dùng, đồ chơi phù hợp với sở thích của trẻ và trên
cơ sở đó cùng trẻ trao đổi, thảo luận về các món đồ chơi và các mối liên hệ giữa
đồ chơi với các trò chơi.
Giáo viên có thể cho trẻ chậm ngôn ngữ chơi với các loại đồ chơi trong bất
kì lúc nào trẻ muốn. Khi trẻ chơi, giáo viên hướng dẫn trẻ cách chơi, cách sử
dụng để trẻ hiểu, sử dụng theo đúng mục đích của nó. Đặc biệt, cô giáo nên kích
thích trẻ bình thường cùng chơi với trẻ chậm ngôn ngữ để trẻ có cơ hội cùng bàn
bạc, thảo luận với nhau về tên gọi, màu sắc, công dụng, chức năng và cách sử
dụng của chúng. Vừa thiết lập được các mối quan hệ giữa trẻ với nhau vừa tạo
bầu không khí thoái mái cho trẻ chậm ngôn ngữ học nói.
Khi lựa chọn đồ dùng, đồ chơi cần đảm bảo tính an toàn, thẩm mỹ, đa dạng
phong phú về màu sắc, chủng loại và hơn hết tất cả trẻ đều phải được chơi. Vì
không như thế trẻ sẽ nhàm chán, điều đó làm hạn chế ngôn ngữ của trẻ. Trong
khi trẻ chơi, cô tạo các tình huống để trẻ giải quyết. Thường xuyên trao đổi, đàm
thoại với trẻ về về cách chơi, cách sử dụng đồ dùng, đồ chơi. Ví dụ như khi trẻ
đang chơi với quả bóng cô có thể hỏi trẻ “Con đang chơi với cái gì đó”, “Quả
bóng dùng để làm gì”... Khi hỏi trẻ cô phải hướng trẻ nhìn vào mặt của mình
vừa là để trẻ chú ý câu hỏi của cô để trả lời vừa rèn luyện cho trẻ hành vi giao
tiếp có văn hoá.
Sử dụng các đồ dùng, đồ chơi có chức năng và được thiết kế đặc biệt giúp
trẻ phát triển thể chất bình thường. Thông qua đó giúp điều hoà năm giác quan
để khắc phục các “lỗi” trong quá trình truyền dẫn thông tin (đầu vào) - phản ánh
- xử lí và phản hồi thông tin (đầu ra) để việc hiểu và phản ứng (diễn đạt) của trẻ
trong từng tình huống đạt mức chuẩn mực.
18


Khi cô đưa ra một bức tranh để cô và trẻ cùng tìm hiểu thì cô nên đưa bức
tranh có ít chi tiết và hình ảnh rõ ràng, và lần lượt cô gợi ý giúp trẻ tìm hiểu bức
tranh. Cô động viên khuyến khích những trẻ ngon ngữ chậm hơn các bạn lên trả
lời câu hỏi dễ trước.
Con nhìn thấy gì trong tranh?
Con nghĩ đến điều khi nhìn vào tranh?
Con muốn biết điều gì? Cô gọi ý để trẻ có thể đặt được câu hỏi cho bức
tranh tao sự thành cô cho trẻ. Cuối hoạt động cô dùng dấu cô khen , khen
thưởng trẻ để động viên khuyến khích trẻ, để trẻ cố gắng hơn tròn các hoạt
động khác. ( Tranh 4)
Hơn thế nữa cô tạo cơ hội cho trẻ tiếp cận với công nghệ thông tin qua ống
kính máy ảnh và cô khuyến khích trẻ nói về hình ảnh mà mình đã chụp được: trẻ
sẽ rất hào hứng chụp những hình ảnh thật qua ống kính kỳ diệu và hơn thế trẻ sẽ
rất hứng thú nói về các hình ảnh mà mình đã chụp được, mặt khác khi trẻ được
tiếp cận với công nghệ thông tin sẽ kích thích tính tò mò của trẻ và tạo thành
công cho trẻ.
Như vậy, trong quá trình phát triển giao tiếp cho trẻ chậm ngôn ngữ cần
phát huy vai trò tích cực của việc sử dụng đồ dùng, đồ chơi.
d. Thông qua trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 – 4 tuổi chậm ngôn ngữ
Đối với trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ chậm phát triển ngôn ngữ thì trò chơi chính
là cuộc sống thực của chúng, nếu không có trò chơi thì đứa trẻ chỉ tồn tại chứ
không phải sống. Hoạt động vui chơi trở thành hoạt động chủ đạo của trẻ và nó
chi phối tất cả các hoạt động khác của trẻ. Vì vậy, muốn phát triển giao tiếp
bằng lời cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ cần thực hiện dưới hình thức vui chơi
“Học mà chơi, chơi mà học”.
Việc tổ chức trò chơi nhằm phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ, đặc biệt là
trẻ chậm ngôn ngữ là một phương pháp rất tốt, quan trọng. Giáo viên sử dụng
các thủ thuật kích thích trẻ hứng thú tham gia các hoạt động cùng cô, kích thích
trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động. Tổ chức trò chơi giữa trẻ chậm ngôn
ngữ với các trẻ khác để thiết lập các mối liên hệ trong trò chơi, dạy trẻ cách
nghe hiểu trò chơi và sử dụng ngôn ngữ nói trong quá trình chơi, trên cở sở đó
phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ chậm ngôn ngữ 3 – 4 tuổi.
Đặc biệt, lứa tuổi này đã xuất hiện loại trò chơi đóng vai theo chủ đề, chính
vì vậy, cần tích cực phát huy vai trò, tác dụng của nó. Mặc dù mới chỉ xuất hiện
ở dạng sơ khai, chưa hoàn chỉnh nhưng nếu biết tổ chức một cách khoa học, hợp
lí thì khả năng ngôn ngữ của trẻ sẽ có thay đổi tích cực. Khi tham gia vào trò
chơi đóng vai theo chủ đề, có sự phối hợp giữa các thành viên với nhau, nghĩa là
phải có bạn bè cùng chơi và các bạn sẽ chơi với nhau từng nhóm nhỏ. Khi có sự
19


phối hợp giữa các thành viên, trẻ có sự học hỏi lẫn nhau, ảnh hưởng nhân cách
của nhau và phát triển các chức năng tâm lí. Nhưng điều quan trọng là giáo viên
phải tổ chức như thế nào để phát huy vai trò, tác dụng của loại trò chơi này.
Trước khi tổ chức trò chơi, trước tiên giáo viên cần phải xác định trò chơi,
cách chơi và đặc biệt nó phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ. Khi tổ
chức, giáo viên đàm thoại, trò chuyện với trẻ về nội dung chơi, chỉ dẫn cho trẻ
cách chơi. Và đặc biệt trong quá trình chơi cô cần tăng cường hoạt động của trẻ,
chú ý đến trẻ chậm ngôn ngữ nhiều hơn so với những trẻ khác. Luôn đặt câu hỏi
và hướng trẻ đến câu hỏi của mình và yêu cầu trẻ trả lời.
Ví dụ trò chơi : “ bán hàng ” cô hỏi trẻ: “ bác bán hàng ơi, bác bán cho
tôi một chai nước ạ”. ‘ chai này bao nhiêu tiền đấy ạ’ Cô để cho trẻ tự trả lời,
nếu trẻ không trả lời được cô có thể hướng dẫn trẻ trả lời. Trong khi trẻ đang
chơi cô có thể lại gần và hỏi trẻ “Con bán gì đấy ? ”, “ khi có khách đến mua
hành con cần làm gì ?” Cô động viên trẻ trả lời câu hỏi nếu trẻ chua trả lời được
cô có thể gợi ý để trẻ trả lời, tạo thành công cho trẻ... Nếu trẻ đang chơi với bạn
cô có thể khuyến khích trẻ cùng chơi nói chuyện với bạn, hỏi bạn vừa là để tạo
môi trường thân thiện giữa trẻ với nhau, vừa phát huy khả năng giao tiếp cho
trẻ. Cô không nên tổ chức trò chơi để trẻ tự chơi một mình mà cần thường
xuyên bên cạnh trẻ, giao tiếp, đối đáp với trẻ. Cô cần tạo được bầu không khí
tâm lí thoải mái, cởi mở với trẻ, để trẻ tự tin, mạnh dạn hơn. Tránh thái độ quát
mắng, doạ nạt vì như thế sẽ làm trẻ sợ, không dám nói và điều đó không những
không có lợi mà còn có hại đối với trẻ, Cô có thể chụp lại những bức ảnh khi trẻ
đang chơi dán những bức ảnh đó vào quyển nhật ký của trẻ và ghi lại bên dưới
bức ảnh những lời nói của trẻ trong khi chơi. ( Tranh 5)
Việc tổ chức trò chơi không những giúp phát triển giao tiếp đối với trẻ
chậm ngôn ngữ mà còn phát huy tính tích cực giao tiếp của những trẻ bình
thường.
Khi tổ chức trò chơi cho trẻ chậm ngôn ngữ, đặc biệt là trò chơi đóng vai theo
chủ đề cần chuẩn bị một môi trường có lợi cho khả năng đóng vai của trẻ.
Ngoài ra, các trò chơi như trò chơi dân gian, trò chơi đóng kích, trò chơi xây
dựng – lắp ghép… cũng có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển khả
năng giao tiếp cho trẻ Mầm Non nói chung, trẻ chậm ngôn ngữ nói riêng.
Trò chơi dân gian là một loại hoạt động văn hoá dân gian dành cho trẻ em
nhằm thoả mãn nhu cầu vui chơi, giải trí và giáo dục trẻ em một cách tinh tế,
nhẹ nhàng. Những trò chơi này được tổ chức nhằm tạo những cảm giác thoải
mái, hứng thú, phát triển vận động kết hợp lời nói. Hầu hết các trò chơi dân
gian gắn liền với các bài đồng dao với đặc điểm ngôn ngữ của đồng dao mang
tính giản dị, mộc mạc, vô tư, hồn nhiên, vui tươi và ngộ nghĩnh. Có thể là những
20


câu vè ngắn gọn, có nhịp điệu, âm thanh dễ thuộc, dễ nhớ. Thường được sử
dụng khi chơi các trò chơi như: “Dung dăng dung dẻ”, “Lộn cầu vồng”, ‘Rồng
rắn lên mây”, “Kéo cưa lừa xẻ”…
Chẳng hạn trong trò chơi “Lộn cầu vồng”, khi chơi trò chơi này trẻ sẽ xếp
thành từng đôi một, cầm tay nhau, đứng quay mặt vào nhau, vừa vung tay sang
hai bên vừa đọc theo nhịp bài đồng dao:
* Lộn cầu vồng
Nước trong nước chảy
Có cô mười bảy
Có chị mười ba
Hai chị em ta
Ra lộn cầu vồng
Mỗi tiếng là một lần vung tay sang ngang một bên. Đến câu cuối cùng hai
người cùng giơ tay lên và lộn ra đằng sau. Thường cô chơi cùng trẻ chậm ngôn
ngữ hoặc một trẻ chậm ngôn ngữ chơi với một trẻ bình thường.
+ Cô giới thiệu tên trò chơi, cách chơi.
+ Cô tổ chức cho trẻ chơi : Cô cho trẻ chơi cùng nhau, vừa chơi vừa đọc
bài đồng dao. Cô có thể ở ngoài hướng dẫn hoặc chơi cùng trẻ.
Không gian chơi có thể trong lớp hoặc ngoài trời, tuỳ thuộc số lượng trẻ và
không gian lớp học.
+ Ban đầu cô cũng dùng thủ thuật lôi cuốn trẻ đến trò chơi, đặc biệt khi nói,
cô chú ý đến trẻ chậm ngôn ngữ để lôi cuốn trẻ có ý muốn tham gia trò chơi.
+ Cô giới thiệu tên trò chơi, cách chơi.
+ Cô tổ chức cho trẻ chơi cô cho trẻ chơi với nhau, cô trực tiếp cùng chơi
với trẻ chậm ngôn ngữ. Với những trẻ này, do khả năng ngôn ngữ của trẻ chậm
hơn so với các bạn nên khi chơi, cô hướng dẫn trẻ thật từ từ, một cách tỉ mỉ,
từng tí một cho đến khi nào trẻ có thể hiểu và có thể làm theo. Cô cùng trẻ đọc
đi đọc lại nhiều lần bài đồng dao, số lần hướng dẫn trẻ có thể gấp hai, gấp ba lần
so với những trẻ bình thường khác. Khi chơi, cô hướng dẫn trẻ đọc từng từ một
một cách chậm rãi, cô giải thích các từ khó hơn một cách dễ hiểu để trẻ vừa
được nghe, vừa hiểu đựơc nội dung bài đòng dao. Chơi một lần trẻ chưa biết, có
thể chơi lần hai, cô chơi cùng trẻ bất cứ lúc nào trẻ thích. Trước khi chơi cùng
trẻ chậm ngôn ngữ cô có thể chơi mẫu với một vài trẻ bình thường trong lớp để
kích thích trẻ cùng chơi
Hay trong trò chơi Chi chi chành chành
* Chi chi chành chành
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
21


Con ngựa đứt cương
Ba vương ngũ đế
Cấp kế đi tìm
Ù à ù ập
Ngồi thụp xuống đây
- Cách chơi: Một trẻ làm cái, các trẻ khác vừa đọc đồng dao vừa chỉ ngón
tay trỏ vào lòng bàn tay của trẻ làm cái đến tiếng “ập’ thì trẻ làm cái nắm tay lại,
tất cả trẻ phải rút ngón tay trỏ của mình ra thật nhanh, trẻ nào rút chậm bị nắm lại
thì thua cuộc và thay trẻ làm cái xoè tay để trẻ khác tiếp tục chơi.
Cách tổ chức:
+ Cô cũng dùng thủ thuật hấp dẫn, lôi cuốn trẻ có ý muốn tham gia trò chơi
cùng cô và các bạn.
+ Cô giới thiệu tên trò chơi, cách chơi
+ Cô tổ chức cho trẻ chơi: Ban đầu cô cho trẻ chậm ngôn ngữ làm nhân vật
cái để kích thích trẻ hứng thú tham gia trò chơi. Sau đó, khi trẻ hứng thú rồi, cô
có thể làm cái, các trẻ khác vừa đọc đồng dao vừa chỉ ngón tay vào lòng bàn tay
cô. Trong quá trình trẻ đọc, cô chú ý hơn đến trẻ chậm ngôn ngữ, hướng dẫn trẻ
đọc từng từ một. Cô chơi cùng trẻ nhiều lần. Với trò chơi này có thể chơi một
nhóm bạn, cũng có thể chỉ chơi riêng cô và trẻ chậm ngôn ngữ để cô có cơ hội
được hướng dẫn trẻ tỉ mỉ hơn. Cô và trẻ chậm ngôn ngữ thay nhau làm cái để
thay đổi không khí của trò chơi. Khi trẻ đọc được từ nào cô phải khen thưởng trẻ
kịp thời.
Cho trẻ tiếp xúc với những bài đồng dao có vần, vì đây là thể loại trẻ rất
thích. Cho trẻ đọc những bài đồng dao có vần sẽ giúp trẻ học cách phát âm một
cách tự nhiên. Đặc biệt đối với trẻ chậm ngôn ngữ thì thể loại này càng phát huy
tác dụng.
Cho trẻ đọc đồng dao kết hợp vận động càng làm trẻ thích thú hơn và có
hứng thú cùng tham gia.
Trò chơi đóng kịch cũng góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển ngôn
ngữ bằng lời cho trẻ chậm ngôn ngữ. Nó là một dạng trò chơi mà đa số trẻ rất
hào hứng. Trẻ em rất thích tham gia đóng vai vào các nhân vật trong câu
chuyện. Chính vì vậy, việc tổ chức trò chơi đóng kịch cho trẻ chậm ngôn ngữ
tham gia là rất quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên, khi lựa chọn câu chuyện để
chuyển thể sang trò chơi đóng kịch cho trẻ nói chung, trẻ chậm ngôn ngữ nói
riêng cần phải lựa chọn các tác phẩm có chứa nhiều mâu thuẫn, cốt truyện mạch
lạc, các tình tiết hấp dẫn, kịch tính, thu hút, hấp dẫn trẻ, có tuyến nhân vật rõ
ràng và quan trọng phải có hệ thống ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu. Khi chơi trò
chơi đóng kịch bằng ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm, giúp trẻ nắm được
22


ngôn ngữ dân gian có nội dung phong phú và có sức diễn cảm, từ đó giúp trẻ
cảm thụ được sự giàu có của ngôn ngữ, nắm được phương tiện thể hiện ngôn
ngữ. Tất cả những điều này ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển ngôn ngữ và
khả năng giao tiếp bằng lời của trẻ.
Trò chơi vận động và một số bài tập thể dục giúp hình thành ở trẻ tính
mạnh dạn, tự tin. Trẻ chậm ngôn ngữ không có khả năng chơi sáng tạo, mặt
khác thường rất rụt rè, nhút nhát, vì thế cần khuyến khích trẻ tham gia vào
những trò chơi, bài tập thể dục sôi nổi, vui vẻ, mang lại sự thích thú. Từ đó hình
thành ở trẻ tính mạnh dạn, tự tin khi tha gia các hoạt động tập thể. Một số trò
chơi vận động có kết hợp lời nói, khi chơi trò chơi vận động vừa phát triển thể
chất vừa phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Ví dụ như cho trẻ cùng tập thể dục với lớp
kết hợp với lời bài hát. Khi trẻ tập cô yêu cầu các trẻ vừa tập vừa hát theo lời bài
hát. Đối với trẻ chậm ngôn ngữ cô nên cho trẻ đứng hàng đầu để quan sát trẻ tập
và hát, cô có thể lại gần và hướng dẫn trẻ vừa tập vừa hát. (Tranh 6)
Như vậy, ta thấy trò chơi đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát
triển khả năng giao tiếp cho trẻ chậm ngôn ngữ. Tuy nhiên, khi tổ chức các trò
chơi thì không phải trò chơi nào cũng phát huy hết tác dụng của nó mà cần có sự
phối hợp, lồng ghép, đan xen các trò chơi một cách linh hoạt.
Cô tạo cơ hội khuyến khích trẻ vào góc tạo hình tạo ra các sản phẩm của
mình và cô đặt câu hỏi gọi ý khuyến khích trẻ nói về sản phẩm của mình: khi trẻ
vào góc chơi này trẻ có cơ hội phát triển kỹ năng tạo hình, óc sáng tạo, trí tưởng
tượng và quan trọng hơn hết ngôn ngữ trẻ phát triển hơn qua hoạt động nói cho
cô và các bạn biết về sản phẩm tạo hình của mình, những nét vẽ ngộ nghĩnh có
ý nghĩa với trẻ tạo sự thanh công cho trẻ và cô giúp trẻ ghi lại những hình ảnh
của mình vào. ( Tranh 7)
e. Xây dựng một môi trường dạy và học thân thiện
Trẻ chậm ngôn ngữ có nhu cầu giao tiếp rất thấp (có trẻ không có). Do đó,
việc kích thích trẻ bằng những thứ trẻ thích và có nhu cầu để làm cho trẻ dần
dần cảm thấy muốn và cần giao tiếp là một việc hết sức quan trọng và có ý
nghĩa vô cùng lớn lao đối với bản thân trẻ. Muốn làm được điều này, giáo viên
cần xây dựng một môi trường dạy và học thân thiện, vui vẻ.
Đây là biện pháp có ý nghĩa quan trọng trrong việc giúp trẻ học giao tiếp.
Giáo viên thông qua đó dạy trẻ biết cách yêu cầu, tạo cho trẻ những khó khăn và
yêu cầu trẻ sử dụng ngôn ngữ nói để nói.
Công việc cần làm:
- Hồi đáp khi nghe gọi tên
- Nghe lệnh ngồi xuống ghế (1 – 20 giây)
- Nhìn cô (1 – 20 giây)
23


- Kết hợp các lệnh đơn giản
Thiết lập cho trẻ bản năng nghe lời. Cắt trạng thái “thăng” của trẻ, không
để cho trẻ có thời gian rảnh rỗi. Luôn làm cho trẻ bận rộn để trẻ không có cơ hội
rơi vào thế giới riêng, chơi một mình.
Gieo mầm đối thoại hay tương tác hai chiều ở trẻ. Tập cho trẻ có nhu cầu
đối thoại. Mỗi khi trẻ chơi một mình, giáo viên phải lại hỏi trẻ và đối đáp với trẻ
như thể hai người đang đối thoại. Hình thức thấp nhất của đối thoại là điền từ
còn trống vào câu nói, bài hát, bài thơ. Như vậy, dần dần trẻ sẽ có thói quen cần
đối tượng để chơi, đây chính là nhu cầu đối thoại ở trẻ. Ngôn ngữ đối thoại
trong ứng xử, mức đơn giản nhất bao giờ cũng là một vòng tròn khép kín, do đó
phải luôn cùng trẻ khép kín vòng tròn.
Dạy cho trẻ biết yêu cầu (đòi hỏi những thứ trẻ muốn với thái độ đúng
mực), để người khác biết mình muốn gì, mình thích gì. Với cách làm này, kích
thích nâng cao nhu cầu giao tiếp ở trẻ. Yêu cầu là hình thức ngôn ngữ duy nhất
ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của trẻ. Qua “yêu cầu” trẻ biết được tác dụng
của ngôn ngữ và có động lực để tiếp thu ngôn ngữ tốt hơn. Tuy nhiên, không
cung cấp cho trẻ những gì trẻ thích một cách vô điều kiện mà bắt trẻ phải nêu ra
yêu cầu rồi mới đáp ứng và yêu cầu trẻ đưa ra yêu cầu của mình bằng lời nói.
Chẳng hạn: Nếu như trẻ muốn đi dép mà chỉ chỉ vào đôi dép, giáo viên
không vội đáp ứng yêu cầu của trẻ mà yêu cầu trẻ nói ra “yêu cầu” của mình
bằng lời nói như yêu cầu trẻ nói từ “đi dép” hoặc “con muốn đi dép”.
Sau đó, nâng cao số lượng những yêu cầu của trẻ bằng việc “đặt chướng
ngại vật”. Đây là cách làm tăng ý muốn giao tiếp và nuôi dưỡng ý muốn đó
thông qua những thứ trẻ thích.
Hay trẻ muốn uống nước thì chướng ngại vật sẽ là: Ra đằng sau – lấy cốc
uống nước – vặn vòi nước trong bình – lấy nước – uống.
Đưa ra các giải pháp lựa chọn khác nhau. Đó là trẻ có quyền được lựa chọn
giữa các vật thể, sự kiện hoặc hoạt động khác nhau dựa trên mối quan tâm của
trẻ.
Khi trẻ muốn chơi đồ chơi thì trước khi lấy đồ chơi cho trẻ giáo viên đưa ra
cho trẻ các phương án lựa chọn khác nhau:
+ Con có muốn chơi không?
+ Cô chơi cùng với con hay các bạn?
+ Con muốn chơi đồ chơi gì?
+ Con muốn chơi đồ chơi nào?
Gây cho trẻ những khó khăn khi trẻ muốn lấy đồ vật mà trẻ muốn hay
muốn tham gia vào hoạt động mà trẻ muốn, đặt đồ vật đó ngoài tầm với của trẻ
hoặc ngăn chặn những hành động của trẻ.
24


Nếu như trẻ muốn đi uống nước giáo viên cầm tay trẻ dắt trẻ vào trong phòng
ngủ, đợi trẻ nói ra nhu cầu của mình rồi khi đó dắt trẻ ra uống nước. Tiếp tục hỏi
trẻ: “Con có muốn uống nước không?”, “Con dùng gì để uống nước?,…
Cần làm cho việc yêu cầu thành một việc dễ dàng đối với trẻ, trẻ cảm thấy
lời nói hoặc cử chỉ của mình có uy lực hơn là tiếng khóc hoặc một ứng xử xấu,
tạo cho trẻ niềm vui khi bày tỏ yêu cầu bằng lời nói.
Bên cạnh đó cần phải xây dựng một môi trường ngôn ngữ tốt. Điều đó có
nghĩa là phải coi trẻ là trung tâm trong quá trình giảng dạy. Ngôn ngữ dạy cho trẻ
phải xuyên suốt trong các hoạt động hàng ngày của trẻ, mọi lúc mọi nơi như: ăn
uống, vệ sinh, vui chơi, các tiết học, đón trẻ, trả trẻ, chơi tự do, ngủ… Giáo viên
cần nắm bắt được cơ hội mà trẻ có thể sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp. ( Tranh
8,9,10)
Những sản phẩm, mà trẻ taoh ra được cô chụp lại và lưu giữ ở quyển nhật
ký cá nhân của trẻ
Như vậy, xây dựng một môi trường dạy và học thân thiện trong trường Mầm
Non là một biện pháp rất hữu ích trong quá trình phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ
chậm ngôn ngữ và cần được sử dụng một cách thường xuyên, liên tục.
f. Hỗ trợ thông qua nhóm bạn cùng chơi
Xây dựng nhóm bạn cùng chơi cho trẻ chậm ngôn ngữ trong lớp học hòa
nhập sẽ giúp cho trẻ có cơ hội giao tiếp, vui chơi, sinh hoạt trong môi trường
lớp học. Nhóm bạn sẽ giúp trẻ cảm thấy tự tin hơn trong quá trình giao tiếp với
mọi người, không nhút nhát, e dè trong khi giao tiếp, vấn đề từ chối giao tiếp
với người khác sẽ hạn chế dần…
Nhóm bạn cùng chơi hỗ trợ trẻ tham gia vào các hoạt động vui chơi – học
tập trong lớp học. Nhóm bạn cùng chơi tạo cơ hội cho trẻ được giao tiếp với
nhau, tạo cơ hội cho các thành viên chia sẻ, thảo luận về mối quan tâm trong trò
chơi, nhất là khi tham gia vào trò chơi đóng vai theo chủ đề. Cần xây dựng mối
quan hệ tích cực giữa trẻ với nhau, phát triển tính tích cực giao tiếp của những trẻ
bình thường để trẻ có thể thúc đẩy quá trình giao tiếp của trẻ chậm ngôn ngữ. Bởi
vì thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề, nhóm bạn cùng chơi dễ có xu hướng
ảnh hưởng, bắt chước lẫn nhau.
Việc phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ 3 – 4 tuổi chậm ngôn ngữ không
chỉ có các chuyên gia hỗ trợ, các giáo viên đứng lớp mà còn có nhóm bạn cùng
chơi. Nhóm bạn này sẽ giúp trẻ chậm ngôn ngữ trong các hoạt động học tập, vui
chơi hàng ngày. Nhóm bạn cùng chơi khoảng 5 – 6 bạn, có khả năng giao tiếp
tốt, nhiệt tình giúp đỡ bạn bè, yêu thương bạn bè, dễ hòa nhập, nhanh nhẹn.
Nhóm bạn cùng chơi có nhiệm vụ hỗ trợ trẻ chậm ngôn ngữ tham gia vào mọi
hoạt động học tập và vui chơi trong lớp.( Tranh 11)
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×