Tải bản đầy đủ

Các yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng vietinbank chi nhánh vĩnh phúc

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TRỰC TIẾP VÀ GIÁN TIẾP ĐẾN
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG VIETINBANK
CHI NHÁNH VĨNH PHÚC

Hiện tại tôi đang công tác tại Văn phòng UBND tỉnh Vĩnh Phúc với chức
năng tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh, người đứng đầu cơ quan hành pháp
cao nhất của tỉnh, điều hành bộ máy hành chính, sự nghiệp và quản lý nhà nước
đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh… trên địa bàn tỉnh. Quá trình làm
việc tôi tiếp xúc và tìm hiểu sâu về hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng
chuyên doanh trên địa bàn. Sau đây tôi đi sâu vào việc đánh giá những yếu tố tác
động, những ưu tiên cạnh tranh, các điều kiện cần thiết bên trong để thực hiện
các ưu tiên; hệ thống sản xuất và tác nghiệp đóng góp vào việc đạt được các ưu
tiên cạnh tranh này; các rào cản gặp phải trong quá trình triển khai các chiến
lược cạnh tranh của ngân hàng công thương chi nhánh Vĩnh Phúc. Tôi trình bày
từng vấn đề bài cho như sau:
Câu 1. Những yếu tố bên ngoài tác động đến hoạt sản xuất và tác nghiệp
hiện nay tại công ty/tổ chức của anh/chị? Yếu tố này tác động như thế nào?
Trong bối cảnh của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, các doanh
nghiệp thương mại nhà nước nói chung, các doanh nghiệp khác đang đứng trước
những thách thức hết sức gay go, hoạt động trong môi trường kinh doanh với sự
cạnh tranh quyết liệt, cùng với nó là những tiến bộ về mặt công nghệ, các chính



sách mở cửa kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài đã làm cho hoạt động trên thị
trường càng trở nên sôi động. Trước tình hình đó, một vấn đề bức xúc đặt ra là
làm thế nào để hoạt động kinh doanh có hiệu quả đối với mỗi doanh nghiệp.
Thực tế cho thấy trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay, để phát triển
một chiến lược kinh doanh thành công là một hoạt động hết sức khó khăn việc
đạt được lợi thế về cạnh tranh cũng như lợi nhuận qua hoạt động kinh doanh
ngày càng trở nên khó khăn. Các chiến lược kinh doanh sẽ không có hiệu quả và
dẫn đến bị đối thủ cạnh tranh vượt qua nếu như không có những biện pháp cải
tiến mới, hữu hiệu. Do vậy, các doanh nghiệp phải tập trung chú trọng vào công
tác quản trị nói chung và quản trị nói riêng để từ đó có một cách nhìn tổng thể và
đưa ra những chiến lược phù hợp với xu thế vận động của thị trường.
Vĩnh Phúc nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, những năm qua
với vị trí thuận lợi và đi cùng là các chính sách hấp dẫn trong thu hút đầu tư của
Tỉnh, Vĩnh Phúc đã rất thành công trong thu hút đầu tư, phát triển kinh tế, xã
hội, nhất là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Hiện trên địa bàn tỉnh có 140
doanh nghiệp FDI, trên 300 doanh nghiệp DDI và hơn 2.000 doanh nghiệp dân
doanh với tổng số vốn đăng ký gần 2 tỷ USD và 20 ngàn tỷ VND; được phân bố
tại 03 khu Công nghiệp lớn và 6 cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh; GDP của
Vĩnh Phúc chủ yếu là sản phẩm công nghiệp, giá trị sản xuất công nghiệp năm
sau luôn cao hơn năm trước.


Đối với Ngân hàng Công thương Chi nhánh Vĩnh Phúc (VietcomBank
Vĩnh Phúc)với quy mô 01 Hội sở chính, 03 phòng giao dịch (Phúc Yên, Bình
Xuyên, Vĩnh Yên), một quỹ tiết kiệm Chợ Vĩnh Yên. Các địa điểm giao dịch
thuận tiện nằm tại trung tâm tỉnh, khu công nghiệp Bình Xuyên, Phúc Yên và
Khu Công nghiệp Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên nơi trung tâm công nghiệp,
trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của tỉnh. Thời gian qua cũng như các doanh
nghiệp và ngân hàng khác trên địa bàn đều phải chịu sự tác động chung của nền
kinh tế thế giới đang trong giai đoạn suy thoái, chưa có dấu hiệu phục hồi, mà
Vĩnh Phúc lại đang có rất nhiều doanh nghiệp FDI, nên càng chịu sự chi phối
của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu này. Bên cạnh đó
Vĩnh Phúc có nhiều Ngân hàng thương mại khác (đối thủ cạnh tranh) như: Ngân
hàng đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Vĩnh Phúc (BIDV) AgriBank,
VietinBank, HabuBank, Maritime Bank, TeckcomBank, AnBinh Bank, DongA
Bank và chính các ngân hàng cùng cấp khác trong hệ thống.
Mặc dù trên địa bàn có rất nhiều doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, nhu
cầu vốn là rất to lớn, nó đảm bảo yếu tố đầu vào và đầu ra cho hoạt động sản


xuất kinh doanh của ngân hàng. Nhưng với thị trường hẹp tỉnh Vĩnh Phúc bị
cạnh tranh gay gắt bởi trên 10 Ngân hàng thương mại cả quốc doanh và cổ phần,
đồng thời còn bị cạnh tranh bới các Ngân hàng ở địa bàn Hà Nội và Phú Thọ,
Bắc Ninh nên hoạt động kinh doanh của VietcomBank gặp phải không ít khó
khăn và cần thiết phải luôn đổi mới nâng cao hơn nữa công tác dịch vụ... Với


chiến lược đúng đắn năm 2008 thị phần VietcomBank Vĩnh Phúc đã chiếm 27%
tổng thị phần Vĩnh Phúc. Bên cạnh các yếu tố nêu trên còn các yếu tố khác như:
Công nghệ của các Ngân hàng thương mại gần như tương đồng nhau; nhu cầu
đầu tư dài hạn nhiều, số vốn lớn, khó trong cân đối nguồn vốn dài hạn. Chính
những yếu tố này tác động mạnh đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngân
hàng VietcomBank Vĩnh Phúc, một ngân hàng có bề dày, uy tín. Tuy nhiên, với
hàng loạt các ngân hàng thương mại khác đang có biện pháp thu hút vốn nhàn
rỗi, tiếp thu kiến thức, công nhệ mới nhất và cạnh tranh thu hút khách hàng thì
VietcomBank Vĩnh Phúc càng phải cải tiến và tăng cường quản trị hoạt động
hơn nữa trong hoạt động kinh doanh của mình.
Về đối thủ ngoài địa bàn (đặc biệt là Hà Nội): Trên địa bàn Vĩnh Phúc chỉ
mới có ít các Ngân hàng ngoài địa bàn lấn sân đầu tư tại đây, và họ cũng chỉ đầu
tư đối với một lượng khách hàng rất hạn chế, chủ yếu là đầu tư vào các Công ty
con đóng tại Vĩnh Phúc mà Công ty mẹ đã có quan hệ truyền thống với họ. Tuy
nhiên đây cũng là nguy cơ tiềm ẩn đối với các Ngân hàng thương mại trên địa
bàn Vĩnh Phúc trong đó có VietcomBank Vĩnh Phúc. Họ chuyên nghiệp hơn, có
kinh nghiệm và tiềm lực lớn hơn,… Về lâu dài nếu thị trường Vĩnh Phúc có cơ
hội thuận lợi họ sẽ mở Chi nhánh hoặc Phòng giao dịch tại Vĩnh Phúc để cạnh
tranh mạnh với các Ngân hàng hiện hữu tại thị trường nay.
2. Các lựa chọn ưu tiên cạnh tranh thích hợp nhất cho doanh nghiệp hiện
nay là gì? Vì sao?


Với bối cảnh thị trường nêu trên VietcomBank Vĩnh Phúc đã chọn những
chiến lược kinh doanh sau:
* Tạo sự khác biệt:
- VietcomBank Vĩnh Phúc cung cấp sản phẩm trọn gói: tiền gửi, tiền vay,
cung cấp ngoại tệ cho các hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu, thanh toán đơn
hàng cho khách hàng và cung cấp bảo hiểm hàng hoá, bảo hiểm tài sản do
VietcomBank đầu tư và các bảo hiểm khác (Công ty bảo hiểm của
VietcomBank) cho khách hàng với chi phí thấp hơn các hãng bảo hiểm khác
cung cấp khi mua sản phẩm đơn lẻ.
- Xây dựng hình ảnh thân thiện với khách hàng ngày từ các phòng giao
dịch với phong thái gần gũi khách hàng. Nâng cao đạo đức nghề nghiệp, loại trừ
hoàn toàn các hành vi tiêu cực, đòi hỏi ngoài các yêu cầu hợp pháp, xoá bỏ mặc
cảm mà các khách hàng nghĩ đến đầu tiền lâu nay là: Muốn giao dịch với Ngân
hàng phải có lót tay thì mọi việc mới suôn sẻ.
* Khai thác triệt để các phân đoạn thị trường:
- Thực hiện các chính sách khách hàng linh hoạt đối với từng nhóm khách
hàng tạo sự đồng nhất trong quan hệ ứng xử với khách hàng. Tập trung phát
triển mạnh các khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh (98% khách hàng
hiện hữu tại VietcomBank Vĩnh Phúc là DN ngoài quốc doanh), khách hàng là
DN vừa và nhỏ. Điều này phù hợp với xu thế chung hiện nay của nền kinh tế và
đặc thù của tỉnh Vĩnh Phúc.


- Đưa ra gói sản phảm tiền gửi lãi suất linh hoạt, tiền gửi bậc thang lãi
suất hấp đẫn đi kèm cung cấp “Bảo hiểm con người kết hợp” của VietcomBank
với chi phí rẻ để thu hút khách hàng là các hộ gia đình các nhân để tăng huy
động nguồn nhàn rỗi có tính chất ổn định. Thực tế việc này đã làm giúp
VietcomBank chiếm 35% thị phần huy động vốn dân cư trên địa bàn tỉnh.
* Đi trước đối thủ: Cung cấp các sản phẩm trước khi đối thủ đưa ra được
sản phẩm tương tự. Ví dụ như: VietcomBank Vĩnh Phúc Nghiên cứu Quyết định
131/QĐ-TTg của Thủ tưởng Chính và thông tư 02/TT-NHNN về cấp bù lãi suất
để mạnh dạn áp dụng trong thực tế ngay khi văn bản có hiệu lực, đi trước các
đối thủ khác khi họ còn đang bỡ ngỡ, chưa dám áp, từ đó tranh thủ cơ hội đáp
ứng sớm – nhanh chóng nhu cầu, mong muốn của khách hàng, giúp khách hàng
sớm tiếp cận được nguồn vốn rẻ. Từ đây cũng duy trì được mối quan hệ bền
vững giữa VietcomBank Vĩnh Phúc và khách hàng.
* Các lựa chọn ưu tiên cạnh tranh thích hợp: Để lựa chọn ưu tiên cạnh
tranh thích hợp cần phải xác định được điểm mạnh, điểm yếu, thực trạng của
doanh nghiệp và các yếu tố khác. Do đó, đứng trước viêc lựa chọn các mục tiêu
cạnh tranh như: Cạnh tranh bằng chi phí, cạnh tranh bằng chất lượng, cạnh tranh
bằng tốc độ cung cấp, cạnh tranh bằng sự đa dạng, trên cơ sở điểm mạnh, yếu và
bối cảnh thị trường thì VietcomBank Vĩnh Phúc thực hiện kết hợp hài hoà các
bước đi để đạt được tất cả các mục tiêu này. Trước mắt, trong lúc nền kinh tế
đang suy thoái hiện nay, VietcomBank cần lựa chọn mục tiêu cạnh tranh bằng


chi phí làm trọng tâm kết hợp với sự đa dạng và chất lượng phục vụ, như thế sẽ
hấp dẫn với khách hàng mới và duy trì, củng cố được mối quan hệ tốt hơn, bền
vững hơn với các khách hàng hiện hữu.
Như đã nói ở trên VietcomBank đưa ra các gói sản phẩm kết hợp với tổng
chi phí nhỏ hơn rất nhiều so với sử dụng sản phẩm riêng lẻ. Ví dụ như khi khách
hàng vay thường xuyên được áp dụng mức phí chuyển tiền thấp, sản phẩm được
VietcomBank đầu tư khi khách hàng mua bảo hiểm sản phẩm này sẽ được
VietcomBank áp dụng mức phí bảo hiểm giảm 20% trên tổng phí phải trả…Phần
thắng sẽ thuộc về những doanh nghiệp nào có năng lực quản lý chi phí tốt.
Ngân hàng là đơn vị kinh doanh đặc biệt, cho nên mục tiêu chất lượng
luôn được đặt lên hàng đầu. Hoạt động của các Ngân hàng ảnh hưởng to lớn đến
nền kinh tế quốc gia. Từ giữa năm 2008 đến nay chúng ta đã chứng kiến những
vụ việc của các định chế tài chính như AIG, M… gây ảnh hưởng to lớn đến nền
kinh tế không chỉ riêng nước Mỹ mà mức độ ảnh hưởng còn lớn hơn nhiều.
Về dài hạn mục tiêu của các Ngân hàng nói chung va VietcomBank Vĩnh
Phúc nói riêng là chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm với giảm chi phí bằng
cách áp dụng hệ thống sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ JIT (Just In Time).
Loại bỏ các hành động không cần thiết, loại bỏ hàng tồn trong quá trình
vận hành cung cấp sản phẩm dịch vụ, loại bỏ hàng tồn trong khâu vận chuyển,
nâng cao chất lượng và độ tin cậy, ví dụ: VietcomBank Vĩnh Phúc xây dựng kế
hoạch giải ngân – thu tiền hàng ngày, hàng tuần, tháng đến từng phòng sau đó


đưa ra lượng tồn quỹ cuối ngày phù hợp. Số tiền không có kế hoạch dùng được
nộp về Ngân hàng nhà nước hàng ngày nhằm giảm tồn tiền mặt tại VietcomBank
Vĩnh Phúc đồng thời giảm được chi phí vay vốn qua đêm, từ đây cũng giảm
được chi phí chung của Chi nhánh rất nhiều.
3. Xác định các điều kiện lựa chọn ưu tiên cạnh tranh thích hợp /tổ chức
để thực hiện các ưu tiên này. Hệ thống sản xuất và tác nghiệp đóng góp như thế
nào vào việc đạt được các ưu tiên cạnh tranh này?
* Điều kiện ựa chọn ưu tiên cạnh tranh thích hợp để thực hiện ưu tiên
trên.
Để thực hiện chiến lược ưu tiên trên cần loại bỏ các lãng phí xảy ra trong
quá trình sản xuất từ đó cho phép cải thiện hệ thống sản xuất tối ưu, tinh gọn,
doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, tăng sản lượng đầu ra, và rút ngắn thời gian
sản xuất, cụ thể:
1. Lãng phí: Sử dụng văn phòng phẩm lãng phí, nhiều nhân viên khi soạn
thảo Hợp đồng, văn bản không soát xét kỹ đã in ra phải sửa đi, sửa lại nhiều lần
gây lãng phí văn phòng phẩm, lãng phí thời gian.
Để làm giảm lãng phí ở khâu này, yêu cầu đặt ra là mỗi nhân viên phải tự
là một người kiểm soát, tất cả các hợp đồng đều phải được đọc lãi kỹ càng trước
khi in và trình ký các cấp có thẩm quyền.
2. Mức tồn kho: Quá trình lập, xét duyệt hồ sơ ở từng khâu mất nhiều
thời gian, việc tồn hồ sơ chưa được phê duyệt để cấp tín dụng, bảo lãnh cho


khách hàng đọng nhiều ở khâu xét duyệt của lãnh đạo phòng. Từ đó nhân viên
cứ chờ lãnh đạo duyệt khoản cũ mà không giải quyết cho khách hàng tiếp theo
được.
Để giải quyết vấn đề này, Chi nhánh thực hiện uỷ quyền theo phân cấp để
xử lý công việc nhanh chóng, tránh tình trạng một người quá nhiều việc gây ùn
tắc hồ sơ tại nút cổ chai
Để chấm dứt triệt để việc này, tránh lặp lại các lần sau chi nhánh nên kết
hợp sử dụng mô hình quản lý nội bộ, trình duyệt thông qua mạng LAN, mỗi
nhân viên và từng lãnh đạo các cấp được cấp user/pass word riêng. Nhân viên
khi trình hồ sơ sẽ chọn người lãnh đạo mà mình cần trình ký sau đó đẩy file kèm
theo đến để lãnh đạo duyệt. Khi hồ sơ được chấp nhận duyệt thì có thông báo lại
qua LAN cho nhân viên và như vậy tránh được tồn đọng.
3. Năng suất lao động: Có 1 số nhân viên ở bộ phận tổ chức hành chính
nhàn rỗi đến mức chơi Game trong giờ làm việc. Đây là những lái xe, và bảo vệ.
Hiện tại Ngân hàng đã thuê Công ty bảo vệ chuyên nghiệp nhưng số bảo vệ cũ
lại chưa được Ngân hàng xếp việ hợp lý, hàng ngày chỉ có 1 việc là đi bảo vệ
tiền điều chuyển đầu giờ sáng và cuối giờ chiều, còn lại thì rỗi.
Biện pháp giải quyết đơn giản nhất là chấm dứt hợp đồng với đội ngũ
nhân viên thừa. Tuy nhiên một doanh nghiệp nhà nước sa thải nhân viên là điều
khó khăn. Có thể giải quyết bằng cách khác là kết hợp công việc của bảo vệ điều
chuyển và nhân viên kho quỹ tại hội sở chính. Đầu giờ và cuối giờ thực hiện


điều chuyển, sau đó về hội sở thực hiện công việc của nhân viên kiểm ngân,
đóng bó tiền.
Như đã nói ở trên về dài hạn mục tiêu của VietcomBank Vĩnh Phúc là
chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm với giảm chi phí bằng cách áp dụng hệ
thống sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ JIT (Just In Time). Loại bỏ các hành
động không cần thiết, loại bỏ hàng tồn trong quá trình vận hành cung cấp sản
phẩm dịch vụ, loại bỏ hàng tồn trong khâu vận chuyển, nâng cao chất lượng và
độ tin cậy. Với Thị phần VietcomBank Vĩnh Phúc đang chiếm 27% tổng thị
phần Vĩnh Phúc; công nghệ của các Ngân hàng thương mại gần như tương đồng
nhau; nhưng với cải tiến phong cách phục vụ, chi nhánh đã tạo được hình ảnh tốt
đối với khách hàng và các cơ quan chính quyền. Với nguồn lực bên trong: Đội
ngũ nhân viên trẻ có năng lực, có khả năng tiếp cận công nghệ Ngân hàng hiện
đại và khả năng phân tích-dự báo tốt, thích ứng tốt để đưa ra phong cách phục
vụ nhanh chóng, chuyên nghiệp, tư vấn hiệu quả. Từ đó đã tạo sự khác biệt với
các Ngân hàng khác khi mà họ chậm thay đổi, phục vụ chậm, tạo cảm giác bị
nhũng nhiễu cho khách hàng. Đây là một lợi thế để VietcomBank thực hiện
chiến lược của mình và ngân hàng VietcomBank Vĩnh Phúc sẽ thực hiện thành
công các chính sách khách hàng linh hoạt đối với từng nhóm khách hàng tạo sự
đồng nhất trong quan hệ ứng xử với khách hàng. Đảm bảo việc tập trung phát
triển mạnh các khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh (98% khách hàng


hiện hữu tại VietcomBank Vĩnh Phúc là DN ngoài quốc doanh), khách hàng là
DN vừa và nhỏ. Điều này ngân hàng đã và đang triển khai thành công.
4. Trong quá trình triển khai chiến lược cạnh tranh, doanh nghiệp/đơn vị
có thể gặp phải các rào cản nào?
Bất kỳ tổ chức/doanh nghiệp nào nào, dù thành công đến đâu cũng luôn
luôn phải có ý thức cảnh giác gỡ bỏ những rào cản có thể xuất hiện ngăn trở
những kế hoạch kinh doanh, quyết định đầu tư của tổ chức/doanh nghiệp.
VietcomBank Vĩnh Phúc trong quá trình triển khai kế hoạch cạnh tranh
thường gặp những rào cản sau:
1. Rào cản xuất phát từ nội tổ chức/doanh nghiệp:
Các rào cản này xuất phát từ nguồn lực bên trong của doanh nghiệp, tập
trung chủ yếu ở phần nhân lực. Trong tổ chức, có khá nhiều vấn đề rắc rối phát
sinh từ hoạt động giao tiếp giữa con người với nhau, được chia ra thành các loại
sau:
a. Cảm xúc:
Lòng tham và sự sợ hãi xuất hiện trong mỗi con người làm trong doanh
nghiệp, đây chính là những thứ đã ngăn họ đi đến những quyết định đầu tư đúng
đắn. Từ đó họ thường đưa ra các quyết định sai lầm hoặc bị chi phối bởi vật chất
để đưa ra các quyết định sai lầm dẫn đến thua lỗ và mất tiền và như thế đã ngăn
doanh nghiệp đạt được mục tiêu giảm chi phí do phải trích dự phòng rủi ro để
khắc phục hậu qua do đưa ra quyết định đầu tư sai làm mất vốn.


VietcomBank Vĩnh Phúc có thế mạnh về nguồn nhân lực trẻ, có tri thức,
có khả năng tiếp cận các ký năng hiện đại nhưng thiếu kinh nghiệm do đó cũng
phải đối mặt với vấn đề này để ngăn ngừa sự xuất hiện của nó trong
VietcomBank Vĩnh Phúc.
b. Thiếu hiểu biết:
Các cá nhân, thành viên trong doanh nghiệp đôi khi chưa đủ kiến thức để
có thể giúp họ đưa ra một quyết định đầu tư thành công. Như vậy sẽ dẫn đến hậu
quả như đối với trường hợp bị cảm xúc chi phối.
c. Bỏ qua cái nhìn toàn cảnh:
Các hoạt động đầu tư bị chi phối bởi nhiều yếu tố: Kinh tế vĩ mô, hành
lang pháp lý, quy hoạnh chiến lược kinh tế vùng, khả năng tiêu thị của thị
trường...Không có cái nhìn toàn cảnh, đầu tư tràn lan theo trào lưu dẫn đến vượt
quá cầu của thị trường, doanh nghiệp gặp khó khăn, Ngân hàng có khả năng
không thu hồi được vốn, chất lượng tín dụng giảm, từ đó làm tăng chi phí Ngân
hàng.
Ví dụ như đầu tư vào ngành gạch Ceramic, kính xây dựng những năm
trước cho đến nay, do nhìn thấy lợi nhuận trước mắt mà không tính đến nhu cầu
của thị trường, đến nay khả năng cung cấp vượt quá tổng nhu cầu của thị trường
trong nước, thị trường nước ngoài giảm do suy thoái, doanh nghiệp tồn kho
nhiều, không bán được hàng, đóng cửa sản xuất, gặp khó khăn về tài chính, khả


năng trả nợ giảm và Ngân hàng lãnh trọn hậu quả bởi không thu hồi được vốn
đầu tư vào DN.
2. Các rào cản pháp lý:
Các chính sách pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh
nghiệp. Như năm 2008 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam liên tục tăng lãi suất cơ
bản để kìm chế lạm phát, làm cho các Ngân hàng phải huy động-cho vay với lãi
suất cao, nhưng đến năm 2009 Ngân hàng Nhà nước lại giảm lãi suất cơ bản
trong khi các Ngân hàng chưa kịp điều chỉnh nguồn vốn dẫn đến nguy cơ thua
lỗ, phải tăng chi phí khác để bù lỗ.
3. Rào cản gia nhập:
Các rào cản này đến từ các đối thủ cạnh tranh, làm giảm khách hàng đến
với VietcomBank Vĩnh Phúc, khiến VietcomBank Vĩnh Phúc phải tiếp cận với
những yếu tố đầu vào (huy động vốn, mua ngoại tệ,…) với chi phí cao hơn làm
cho chi phí đầu ra cũng tăng theo, ảnh hưởng đến mục tiêu của VietcomBank
Vĩnh Phúc.
Hai là rào cản từ ngân hàng cấp trên, hiện VietcomBank Trung ương chỉ
cho phép các Chi nhánh VietcomBank cho vay trong địa bàn của mình mà
không được cho vay ngoài địa bàn, làm cho VietcomBank Vĩnh Phúc phải từ
chối nhiều khách hàng tốt đến từ Hà Nội, Bắc Ninh, phải bỏ qua các khoản thu
nhập tốt mà đáng ra VietcomBank Vĩnh Phúc có thể làm được nếu không bị hạn
chế bởi quy định của VietcomBank Trung ương.


4. Rào cản đến từ khách hàng:
Không phải lúc nào, khách hàng nào cũng hợp tác với Ngân hàng, nhiều
khi chính khách hàng gây nhiễu thông tin, gây khó khăn cho Ngân hàng trong
cung cấp sản phẩm dịch vụ, làm gia tăng chi phí của Ngân hàng.




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×