Tải bản đầy đủ

Phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh tại ngân hàng TMCP phương nam

Phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh tại
Ngân hàng TMCP Phương Nam -

Hãy cho biết có những yếu tố bên ngoài nào tác động đến hoạt động sản
xuất và tác nghiệp hiện nay tại công ty/ tổ chức của anh/ chị? Các yếu tố
này tác động như thế nào?
Trong quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh
nghiệp chịu nhiều yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động
sản xuất kinh doanh, bao gồm một số yếu tố cơ bản sau đây:
1. Các yếu tố kinh tế.
- Chính sách tiền tệ, khả năng cung cấp tín dụng, lãi suất. Thực hiện
chính sách kiềm chế lạm phát của Chính phủ, thời gian vừa qua việc ngân
hàng hạn chế cho vay và áp dụng mức lãi suất cho vay cao làm ảnh
hưởng đến việc vay vốn phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp
- Giá trị của đồng tiền trên thị trường, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái.
- Chi tiêu của Chính phủ.
- Các chính sách về thuế, các qui định về xuất nhập khẩu.
2. Các yếu tố về dân cư, địa lý ,văn hóa, xã hội chủ yếu.
- Mật độ dân cư, trình độ học vấn, lối sống, các mối quan tâm đối với
các vấn đề đạo đức, xã hội.

- Thói quen mua hàng, thái độ, tiết kiệm, đầu tư vào công việc.
3. Các yếu tố chính trị, luật pháp của Nhà nước.
Các yếu tố chính trị, luật pháp của Nhà nước có tác động trực tiếp
đến các doanh nghiệp. Đối với các ngành, các doanh nghiệp phải phụ


thuộc nhiều vào các hợp đồng, trợ cấp của chính phủ, những tác động về
chính trị có thể là phần quan trọng nhất của các yếu tố bên ngoài tác động
đến hoạt động của doanh nghiệp. Sự thay đổi về bằng sáng chế, luật
chống độc quyền, thuế suất và các nhóm gây sức ép ngoài hành lang có
thể ảnh hưởng rất nhiều đến các doanh nghiệp. Sự lệ thuộc lẫn nhau mỗi
lúc một tăng lên trên phạm vi toàn quốc giữa các nền kinh tế, thị trường,
chính phủ các tổ chức đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét đến các ảnh
hưởng tác động về chính trị đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp như:
- Sự thay đổi về chính trị, chính phủ và luật pháp quan trọng.
- Các thay đổi của Luật thuế.
- Các qui định xuất nhập khẩu, thuế xuất nhập khẩu.
- Luật bảo vệ môi trường, Luật chống độc quyền.
- Mức trợ cấp của chính phủ.
4. Các khía cạnh về kỹ thuật.
Những thay đổi và phát minh kỹ thuật mang lại những đổi thay lớn
về kỹ thuật siêu dẫn, kỹ thuật điện toán, người máy, truyền thông không
gian, mạng lưới vệ tinh, sợi quang. Các ảnh hưởng của công nghệ cho
thấy những cơ hội và mối đe dọa mà doanh nghiệp phải xem xét trong
quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Sự tiến bộ kỹ thuật có
thể tác động sâu sắc lên những sản phẩm dịch vụ, thị trường, nhà cung
cấp, nhà phân phối, người cạnh tranh, khách hàng, quá trình sản xuất,
thực tiễn tiếp thị và vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Tiến bộ kỹ thuật có thể tạo ra những thị trường mới, kết quả là sự
sinh sôi của những sản phẩm mới, cải tiến thay đổi những vị trí giá cả
cạnh tranh có quan hệ trong một ngành, khiến cho những sản phẩm, dịch
vụ hiện có lỗi thời. Hiện nay, không có doanh nghiệp, ngành công nghiệp
nào tự cách ly với những phát triển công nghệ mới. Trong công nghệ kỹ


thuật cao, sự nhận dạng, đánh giá những cơ hội và mối đe dọa mang tính
công nghệ trọng yếu có thể là phần quan trọng nhất của việc kiểm soát
các yếu tố bên ngoài trong hoạt động quản lý chiến lược.
5. Các yếu tố về thị trường.


Các thông tin có liên quan đến cạnh tranh, thiết kế sản phẩm, sở
thích của khách hàng, các khía cạnh khác của thị trường.
6. Các nguồn lực ban đầu.
Các yếu tố phục vụ trực tiếp cho việc sản xuất, phân phối sản phẩm
hay dịch vụ. Đây là các nhân tố về nguyên vật liệu, nhân sự, vốn bằng
tiền, vốn bằng hàng hóa, các tiện ích khác.
CÂU HỎI 2:
Theo anh/ chị các lựa chọn ưu tiên cạnh tranh thích hợp nhất cho
doanh nghiệp hiện nay là gì? Vì sao?
Các loại hình sản xuất kinh doanh, qui mô, đối tượng phục vụ mà
các doanh nghiệp, nhà cung cấp có thể lựa chọn các mục tiêu cạnh tranh
phù hợp với đặc thù của họ. Các doanh nghiệp sản xuất thường lựa chọn
mục tiêu cạnh tranh bằng chi phí, chất lượng sản phẩm. Các nhà cung cấp
hàng hoá dịch vụ cho khách hàng là những người có thu nhập cao, ổn
định thì lựa chọn hình thức cạnh tranh bằng chất lượng. Trong lĩnh vực
ngân hàng theo học viên lựa chọn mục tiêu cạnh tranh bằng sự đa dạng
sản phẩm mà chính Ngân hàng TMCP Phương Nam là đơn vị học viên
đang làm việc và quản lý thực hiện mục tiêu là ngân hàng bán lẻ hàng đầu
ở Việt Nam . Hiện đại hóa ngân hàng bán lẻ, đa dạng các dịch vụ là ưu
tiên trong giai đoạn hiện nay. Vì lợi nhuận từ kinh doanh gặp phải cạnh
tranh quyết liệt. Muốn tăng lợi nhuận gia tăng, chỉ có cách tăng thu từ
dịch vụ, thanh toán, tư vấn.


Kinh tế Việt Nam đang lộ trình hội nhập vào nền kinh tế quốc tế đã
đặt ra những thách thức lớn. Đặc biệt lĩnh vực ngân hàng thương mại chịu
áp lực mạnh nhất, sự tham gia của các tập đoàn đa quốc gia có tiềm lực
tài chính, kinh nghiệm, nhân sự, kỹ thuật và công nghệ hàng đầu thế giới.
Hệ thống các tổ chức tín dụng ở Việt Nam gồm 5 Ngân hàng thương mại
Nhà nước, 1 Ngân hàng Phát triển, 1 Ngân hàng chính sách, 6 ngân hàng
liên doanh, 41 Ngân hàng thương mại cổ phần, 47 chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, 4 Ngân hàng 100% vốn nước ngoài và hàng trăm tổ chức tài
chính khác. Nói về số lượng, sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế
giới WTO, các Ngân hàng trong nước vẫn có nhiều lợi thế lớn thị trường
nội địa, với thị phần huy động vốn chiếm tỷ trọng lớn, khoảng hơn 90%.
Tuy nhiên các lợi thế hiện tại sẽ không mang tính quyết định trong lĩnh
vực cạnh tranh ở ngành này, khi Việt Nam phải mở cửa toàn bộ lĩnh vực
dịch vụ tài chính vào năm 2010, thực hiện đầy đủ những cam kết với
WTO trong lĩnh vực này. Theo thống kê, tốc độ phát triển dịch vụ ngân
hàng đạt từ 50% đến 70% /năm. Việt Nam được các tổ chức tài chính
nước ngoài đánh giá là thị trường tiềm năng về phát triển dịch vụ ngân
hàng. Trước hội nhập ngày càng sâu, tiềm năng không phải của riêng các
ngân hàng nội, là cuộc cạnh tranh khốc liệt các ngân hàng nội với nhau,
ngân hàng nội với ngân hàng nước ngoài. Các ngân hàng nước ngoài có
trình độ quản lý, kinh nghiệm cao có nhiều ưu thế trong lĩnh vực cung
cấp các sản phẩm dịch vụ phi truyền thống. Họ có thể mở rộng thị phần
thông qua việc cấp tín dụng với các điều kiện ưu đãi hơn về lãi suất do
được sử dụng nguồn vốn rẻ từ ngân hàng mẹ chuyển sang. Các khuyến
cáo của Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng nội muốn cạnh tranh với sự
vượt trội của các ngân hàng ngoại phải tăng cường cạnh tranh bằng dịch
vụ thay vì cạnh tranh bằng lãi suất, bằng hoạt động ngân hàng truyền
thông hiện nay. Theo sự thừa nhận, các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng
nội không nhiều, tính tiện lợi chưa cao, chất lượng phục vụ kém. Thể hiện


điều này qua cơ cấu thu nhập phí lãi/tổng thu nhập của ngân hàng còn rất
khiêm tốn 5%.
Thời điểm này, ngân hàng nào mở rộng việc cung cấp dịch vụ ngân
hàng bán lẻ cho lượng lớn dân cư khổng lồ đang đói các dịch vụ tài chính
ở các nước đang phát triển, sẽ trở thành những gã khổng lồ trong tương
lai. Nếu dịch vụ ngân hàng bán buôn là việc cung cấp dịch vụ thông qua
trung gian tài chính, thì dịch vụ ngân hàng bán lẻ cung cấp trực tiếp cho
người tiêu dùng doanh nghiệp, các cá nhân. Kinh tế tăng trưởng cao liên
tục khoảng 7-8% năm ở các năm gần đây, cùng với việc đẩy mạnh cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhu cầu vay vốn của hơn 350.000
doanh nghiệp nhỏ và vừa, hơn 17.000 hợp tác xã, 320.000 tổ hợp hợp tác
xã, với hơn 85 triệu dân trong đó có hơn 40 triệu người dân ở độ tuổi lao
động, một thị trường lớn để các ngân hàng thực hiện bán lẻ: dịch vụ tiền
gửi, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm rút lãi và gốc linh hoạt, tiết kiệm kết
hợp với bảo hiểm; dịch vụ tín dụng tiêu dùng, cho vay trả góp, mua ôtô,
mua nhà, đất; đối với người lao động phát triển dịch vụ trả tiền qua thẻ
ATM, thẻ POS, điện thoại, internet.
Kinh tế - xã hội, dịch vụ ngân hàng bán lẻ thúc đẩy nhanh quá trình
luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn trong các tầng lớp
dân cư chưa khai thác hết để phát triển kinh tế, hạn chế thanh toán không
dùng tiền mặt, tiết kiệm thời gian cho ngân hàng và khách hàng.
Dịch vụ ngân hàng bán lẻ mang lại nguồn thu ổn định, chắc chắn,
hạn chế những rủi do bởi các nhân tố bên ngoài, giữ vai trò quan trọng
trong việc mở rộng thị truờng, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo nguồn
vốn trung và dài hạn chủ yếu cho ngân hàng, góp phần đa dụng hoá hoạt
động ngân hàng.
Với khách hàng, dịch vụ ngân hàng bán lẻ đem đến sự thuận tiện,
an toàn, tiết kiệm cho khách hàng trong quá trình thanh toán và sử dụng
nguồn thu nhập của mình.


CÂU HỎI 3:
Xác định các điều kiện cần thiết bên trong của doanh nghiệp/tổ
chức để thực hiện các ưu tiên này? Hệ thống sản xuất và tác nghiệp đóng
góp như thế nào vào việc đạt được các ưu tiên cạnh tranh này?
Các điều kiện cần thiết bên trong của doanh nghiệp/tổ chức để thực
hiện các ưu tiên này là:
- Yếu tố con người: Doanh nghiệp/tổ chức phải có Ban lãnh đạo, đội
ngũ nhân viên giỏi, tinh gọn, phù hợp, đủ sức điều hành sản xuất và sẵn
sàng tham gia cạnh tranh.
- Yếu tố vật lực: Doanh nghiệp/tổ chức phải có nguồn vật lực đủ mạnh
để tham gia vào cạnh tranh. Yếu tố vật lực bao gồm và không hạn chế
nguồn vốn, máy móc, nhà xưởng, xe cộ.
- Yếu tố tầm nhìn và chiến lược kinh doanh: Doanh nghiệp cần xác định
rõ định hướng phát triển phù hợp, sau đó đề ra các bước đi cần thiết để
tham gia vào quá trình cạnh tranh và chiến thắng trong cạnh tranh.
- Xây dựng văn hoá doanh nghiệp, đặc biệt là xây dựng thương hiệu
doanh nghiệp.
Trong nhóm các yếu tố nền tảng, trình độ văn hóa doanh nghiệp, ta
dễ dàng nhận ra các yếu tố hữu hình của văn hóa như, kiến trúc trụ sở,
văn phòng, biển hiệu, tên gọi, khẩu hiệu, đồng phục nhân viên, ngôn ngữ
sử dụng đây là hình thức thể hiện bên ngoài của văn hóa. Tới thăm một
doanh nghiệp trụ sở to đẹp, biển hiệu, bảo vệ đứng hai bên, có nhiều
người ra vào ăn mặc lịch sự, nhiều người có thiện cảm và đánh giá đầu
tiên văn hóa doanh nghiệp ở mức cao.


Định nghĩa văn hóa doanh nghiệp là gì. Thì doanh nghiệp đều có
các yếu tố văn hóa doanh nghiệp một cách tự nhiên, các mức độ khác
nhau. Chắc chắn ban lãnh đạo doanh nghiệp đều quan tâm tới văn phòng,
nhà máy và không gian làm việc của nhân viên. Doanh nghiệp luôn có
điều lệ, quy định, nội quy ban hành văn bản, các phòng ban thực thi. Đây
là đòi hỏi bắt buộc của xã hội, của luật pháp đối với hoạt động của doanh
nghiệp, để đảm bảo doanh nghiệp kiếm được lợi nhuận. Nhưng cũng phải
thực hiện các nghĩa vụ, nộp thuế, đóng góp bảo vệ môi trường, tôn trọng
thuần phong mỹ tục.
Giá trị doanh nghiệp theo đuổi, doanh nghiệp và nhân viên đã nhận
thức tầm quan trọng các giá trị, gọi là giá trị gia tăng trong quá trình hợp
tác cùng làm việc, văn hóa hợp tác, văn hóa chia sẻ thông tin, kiến thức,
kinh nghiệm, quan hệ cộng đồng.
- Hành vi giao tiếp lời chào, hỏi chân thành, cái bắt tay lịch sự, ánh mắt
tôn trọng là các hành vi giao tiếp quan trọng thể hiện văn hóa các cá nhân
trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp thường có các quy định thành văn và
không thành văn về hành vi giao tiếp. Các hành vi giao tiếp này có ý
nghĩa quan trọng vì nó luôn để lại ấn tượng quan trọng về lần gặp đầu
tiên, nó thể hiện các hành động mang tính văn hóa. Do đó doanh nghiệp
cần có quy định thống nhất về hành vi giao tiếp trong nội bộ, khách hàng,
bạn hàng, cơ quan chức năng.
Sự tham gia của ban lãnh đạo và nhân viên
Cấp lãnh đạo cao trong doanh nghiệp, chủ tịch hội đồng quản trị,
tổng giám đốc (giám đốc), không tham gia dẫn dắt các hoạt động văn hóa
doanh nghiệp, không gương mẫu trong cuộc sống lẫn công việc, thì khó
duy trì và phát triển các giá trị nền tảng văn hóa. Lãnh đạo doanh nghiệp
thấy nhân viên ứng xử không văn hóa trong hội diễn, ca hát không ngăn
chặn, thì văn hóa doanh nghiệp tốt đẹp có thể bị hủy hoại trong thời gian
ngắn. Nó chứng tỏ vai trò lãnh đạo của chủ doanh nghiệp là rất quan


trọng trong mọi vấn đề của quản trị, kể cả việc quản lý văn hóa doanh
nghiệp.
Để đạt các ưu tiên cạnh tranh, đòi hỏi toàn bộ hệ thống sản xuất và
tác nghiệp phải tham gia tuân thủ nghiêm vào hệ thống quy định một
cách hiệu quả nhất .
CÂU HỎI 4:
Theo anh/ chị trong quá trình triển khai chiến lược cạnh tranh,
doanh nghiệp/ đơn vị có thể gặp phải các rào cản nào?
Quá trình triển khai chiến lược cạnh tranh. Phát triển dịch vụ ngân
hàng bán lẻ nói chung và ngân hàng TMCP Phương Nam nói riêng. Ngân
hàng gặp phải các rào cản:
Đặc thù dịch vụ ngân hàng bán lẻ là hướng tới đối tượng khách
hàng cá nhân, phần lớn dân cư chưa biết nhiều về dịch vụ ngân hàng nói
chung và dịch vụ ngân hàng bán lẻ nói riêng. Do thu nhập phần lớn dân
cư còn thấp, thói quen sử dụng tiền mặt, nên khả năng phát triển và mở
rộng ngân hàng bán lẻ còn hạn chế.
Môi trường pháp lý về hoạt động ngân hàng chưa thực sự phù hợp
với thực tế hiện nay. Các văn bản pháp qui về hoạt động ngân hàng chủ
yếu được xây dựng trên cơ sở các giao dịch thủ công với nhiều loại giấy
tờ và qui trình xử lý còn phức tạp. Trong khi đó phát triển dịch vụ ngân
hàng bán lẻ đòi hỏi phải áp dụng công nghệ mới, qui trình nghiệp vụ hiện
đại, nhanh chóng. Với tốc phát triển như hiện nay, nhiều qui định pháp lý
tỏ ra bất cập và không bao hàm hết các mặt nghiệp vụ, gây khó khăn cho
các ngân hàng thương mại khi triển khai dịch vụ mới.
Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ chưa phong phú, chưa đáp
ứng được nhu cầu của khách hàng. Các dịch vụ ngân hàng hiện đại được
triển khai chậm, dịch vụ thanh toán thẻ còn hạn chế về phạm vi sử dụng


và chưa phát triển được sâu rộng trong đại bộ phận dân chúng, các công
cụ thanh toán không dùng tiền mặt như séc cá nhân gần như không được
sử dụng, tiện ích thanh toán thẻ còn hạn chế. Các dịch vụ ngân hàng phục
vụ cho tầng lớp khách hàng có thu nhập cao chưa được triển khai rộng rãi
như tư vấn tài chính, tư vấn đầu tư, bảo quản tài sản.
Nhiều ngân hàng chưa có chiến lược tiếp thị rõ ràng, hoạt động
tiếp thị còn yếu và thiếu chuyên nghiệp, tỷ lệ khách hàng cá nhân tiếp cận
và sử dụng dịch vụ ngân hàng còn ít. Chính sách khách hàng kém hiệu
quả, chất lượng phục vụ chưa cao, các ngân hàng thương mại Việt Nam
về cơ bản chưa đáp ứng được nhu cầu dịch vụ của các nhóm đối tượng
khác nhau, qui trình nghiệp vụ còn mang nặng tính bảo đảm an toàn cho
ngân hàng, chưa thuận lợi cho khách hàng.
Bộ máy tổ chức chưa theo định hướng khách hàng, chưa có đội
ngũ cán bộ chuyên môn về ngân hàng bán lẻ. Trình độ công nghệ và ứng
dụng công nghệ của ngân hàng còn nhiều bất cập. Giá trị các phần mền
ứng dụng rất đắt. Do đó Ngân hàng TMCP Phương Nam nói riêng và hệ
thống ngân hàng thương mại nói chung. Đều phải thận trọng đầu tư về
công nghệ sao cho phù hợp với từng năng lực tài chính, nguồn nhân lực
hiện có.
Đây là một số ý kiến của học viên từ nghiên cứu, học tập và đang
triển khai thực tế tại đơn vị của học viên. Rất mong nhận được các ý kiến
phản hồi, cũng như sự góp ý tận tình của các thầy cô, cán bộ trung tâm
ETC và mọi người quan tâm tới đề tài nay.
Học viên xin trân trọng cám ơn!


TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Giáo trình Quản trị Hoạt động (Griggs university).
- Lãnh đạo trong tổ chức (Global Advanced MBA).
- Quản trị Marketing.
- Giáo trình tâm lý học - NXBGD Hà nội 1996.
- Tâm lý học QL dành cho người lãnh đạo(PGS.TS Nguyễn Bá Dương).
- Tài năng của người lãnh đạo, lãnh đạo và quản lý trong thế giới phẳng.
- Website: www.dantri.com.vn, www.vietnamnet.vn,


The End



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×