Tải bản đầy đủ

Bài thu hoạch về quá trình phát triển giáo dục ở new zealand

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA GIÁO DỤC

Môn học: Giáo dục Đại học thế giới và Việt Nam

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở
NEW ZEALAND

GVHD: TS. Dương Minh Quang
Nhóm thực hiện: nhóm 11
Lớp: NVSP K34

1
2
3
4
5.

Danh sách nhóm

Nguyễn Trần Phú
Lê Hoàng Phúc
Ngũ Thị Diễm Hằng
Lê Đỗ Ngọc Hằng (K31)
Nguyễn Huy Chương


GVHD: TS. Dương Minh Quang

Thực hiện: Nhóm 11 – NVSP K34
Mục Lục

Phần 1: NỀN GIÁO DỤC Ở ĐẤT NƯỚC NEW ZEALAND..........................................................1
1.1

Tổng quan về đất nước New zealand..................................................................................1

1.2

Tổng quan về Giáo dục Newzeland......................................................................................2

1.3

Giáo dục đại học ở Newzeland............................................................................................3

1.3.1

Hệ thống giáo dục đại học ở New Zealand........................................................................3

1.3.2

Các tổ chức giáo dục đại học (Tertiary education organisations –TEOs)..........................3

1.4

Mục tiêu của chính phủ cho giáo dục đại học......................................................................7

1.4.1

Hệ thống giáo dục đại học New Zealand...........................................................................7



1.4.2

Các cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm về giáo dục.......................................................8

1.4.3

Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa các thành phần chính yếu trong hệ thống giáo dục

đại học ..........................................................................................................................................10
1.4.4


Phương thức vận hành của hệ thống giáo dục đại học New Zeland.............................11
Chỉ đạo hệ thống giáo dục....................................................................................................12

1.5

Cục quản lý chất lượng văn bằng New Zealand (NZQA).....................................................15

1.6

Những thay đổi lớn trong giáo dục đại học trong những năm qua tại New Zealand..........17

1.7

Những chú trọng trong tương lai......................................................................................18

Phần 2: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM................................................................19
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................................20

1


MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT :
- ACE (Adult and Community Education): Tổ chức giáo dục cộng đồng và người trưởng
thành
- CoEs (Colleges of education) : Các trường cao đẳng
- ITOs (Industry Training Organizations): Tổ chức đào tạo ngành công nghiệp
- ITPs (Institutes of technology and polytechnics): Học viện kỹ thuật và bách khoa
- GTE (Government Training Establishment) : Tổ chức đào tạo của Chính phủ.
- MSD (Ministry of Social Development): Bộ phát triển xã hội.
- NQF (National Qualifications Framwork): Khung văn bằng quốc gia.
- NZVCC (New Zealand Vice-Chancellors’ Committee) : Ủy ban Vice-Chancellors New
Zealand.
- NZQA (New Zealand Quality Authority): Cục quản lý chất lượng văn bằng New
Zealand.
- PTEs (Private Training Establishments): Cơ sở đào tạo tư thục
- TEC (Tertiary Education Commission): Ủy ban giáo dục đại học.
- TES (Tertiary Education Strategy): Chiến lược giáo dục đại học.
- TEO (Tertiary Education Organisation): Tổ chức giáo dục đại học.
- TEP (Tertiary Education Provider): nhà cung cấp giáo dục đại học.
- TEIs (public tertiary education institutions): Tổ chức giáo dục đại học công lập
- Wānanga: trường đại học dạy về phong tục tập quán Mãori, thông thường giảng dạy
bằng tiếng Mãori.


GVHD: TS. Dương Minh Quang

Thực hiện: Nhóm 11 – NVSP K34

Phần 1: NỀN GIÁO DỤC Ở ĐẤT NƯỚC NEW ZEALAND
1.1

Tổng quan về đất nước New zealand
New Zealand là một đảo quốc tại khu vực Tây Nam Thái Bình Dương, gồm hai đại lục

chính là đảo bắc và đảo nam và các đảo nhỏ hơn có tổng diện tích 270.534 km2. New Zealand
nằm cách khoảng 1.500 km về phía đông của Úc qua biển Tasman . Do có vị trí cách biệt,
New Zealand nằm trong số những đại lục cuối cùng có người đến định cư. Thủ đô của New
Zealand là Wellington, thành phố đông cư dân nhất là Auckland.
Người Polynesia định cư tại New Zealand vào năm 1250–1300 CN và phát triển văn
hóa Maori đặc trưng. Năm 1642, nhà thám hiểm Abel Tasman là người châu Âu đầu tiên
trông thấy New Zealand. Đến năm 1840, Hoàng gia Anh Quốc và người Maori ký kết Hiệp
định Waitangi, biến New Zealand thành một thuộc địa của Anh Quốc. Ngày nay, đa số trong
dân số 4,5 triệu của New Zealand có huyết thống châu Âu; người Maori bản địa là dân tộc
thiểu số đông dân cư nhất, tiếp đến là người châu Á và người các đảo Thái Bình Dương. Do
vậy, văn hóa New Zealand chủ yếu bắt nguồn từ người Maori và những người định cư Anh
Quốc ban đầu, và gần đây được mở rộng do nhập cư gia tăng. Các ngôn ngữ chính thức là
tiếng Anh, tiếng Maori và ngôn ngữ ký hiệu New Zealand, trong đó tiếng Anh chiếm ưu thế.
Với chế độ chính trị quân chủ lập hiến dân chủ đại nghị có một dân chủ nghị viện.
Trên phương diện quốc gia, quyền lập pháp được trao cho một Nghị viện đơn viện được bầu
cử, trong khi quyền chính trị hành pháp do Nội các thi hành, đứng đầu là Thủ tướng. Nữ
vương Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia, đại diện cho bà là một Toàn quyền. Ngoài ra, New
Zealand được tổ chức thành 11 hội đồng khu vực và 67 cơ quản lãnh thổ nhằm phục vụ mục
đích cai quản địa phương.
Dân số New Zealand khoảng 4,5 triệu. New Zealand là một quốc gia chủ yếu là đô thị, với
72% cư dân sống tại 16 khu vực đô thị chính và 53% cư dân sống tại 4 thành phố lớn
nhất: Auckland, Christchurch, Wellington, và Hamilton. Các thành phố của New Zealand
thường được xếp hạng cao trong các đánh giá đáng sống quốc tế.
1.2

Tổng quan về Giáo dục Newzeland
Giáo dục tiểu học và trung học là bắt buộc đối với thiếu niên từ 6 đến 16 tuổi, và đa số

nhập học từ 5 tuổi. New Zealand miễn học phí tại các trường công lập cho các các công dân
và các cá nhân có thị thực thường trú tại đất nước này với tổng thời gian được miễn học phí là
13 năm, được tính từ sinh nhật lần thứ 5 cho đến hết năm dương lịch của sinh nhật thứ 19.


Có khoảng 2500 trường công ở New Zealand. Hầu hết 80% học sinh đến tuổi đi học
đều theo học trường công gần nhà. Số còn lại thì theo học trường công kết hợp tôn giáo,
trường tư, hoặc được dạy tại nhà.
Một năm học ở New Zealand sẽ bắt đầu từ cuối tháng 1 đến giữa tháng 12, và được
chia làm bốn học kỳ. Chương trình quốc gia bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 10. Ngôn ngữ chính ở
hầu hết các trường là tiếng Anh, nhưng vẫn có một số trường dạy tiếng Mãori.
Tỷ lệ người lớn biết chữ đạt 99%, và trên một nửa dân số từ 15 đến 29 tuổi có một
trình độ đại học-cao đẳng. Có 5 loại học viện bậc đại học-cao đẳng thuộc sở hữu chính phủ:
đại học, cao đẳng giáo dục, trường bách nghệ, cao đẳng chuyên nghiệp, và wānanga, ngoài ra
còn có hệ thống giáo dục tư nhân. Trong số những người trưởng thành, có 14,2% dân số có
bằng cử nhân hoặc cao hơn, 30,4% có trình độ cao nhất tương đương tốt nghiệp cấp trung
học, và 22,4% không có bằng cấp chính thức. Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA)
của OECD xếp hạng hệ thống giáo dục của New Zealand tốt thứ 7 trên thế giới, trong đó học
sinh thể hiện đặc biệt tốt năng lực đọc, toán học, và khoa học.

Sơ đồ hệ thống giáo dục của New Zealand


GVHD: TS. Dương Minh Quang

Thực hiện: Nhóm 11 – NVSP K34

Hệ thống giáo dục New Zealand gồm ba cấp độ được phân chia như sau:
1. Mầm non (Early Childhood)
Giáo dục mầm non nghĩa là giáo dục và chăm sóc trẻ cho đến tuổi đi học. Đây là bậc
giáo dục đầu tiên. Ở New Zealand có đa dạng các loại trường mầm non như crèches,
kindergartens, centre or home-based education and care, playgroups, playcentre và Kohanga
Reo (là trường dạy bằng ngôn ngữ và văn hóa Maori).
Có 94% trẻ tham gia vào các loại hình của giáo dục mầm non kể trên. Trẻ ba bốn tuổi
thường học khoảng 14 đến 17 giờ một tuần. Chính phủ hỗ trợ đến 20 giờ mỗi tuần cho trẻ ba


bốn tuổi bất kể thu nhập, sắc tộc và tình trạng công việc của ba mẹ chúng. Mục đích của chính
phủ là khuyến khích sự tham gia giáo dục mầm non ngày càng rộng lớn và tạo ra kết quả giáo
dục tích cực từ nhỏ.
New Zealand có chiến lược cho giáo dục mầm non. Chính phủ tập trung phát triển
chương trình giảng dạy, điều chỉnh chuẩn và chất lượng giáo viên tối thiểu, hỗ trợ vốn và
nhiều khuyến khích khác cho chất lượng giáo dục mầm non.
2. Tiểu học và Trung học (Primary and Secondary School)
Tiểu học: Trẻ có thể bắt đầu tham gia giáo dục tiểu học lúc 5 tuổi, và phần lớn trẻ ở
New Zealand bắt đầu học từ độ tuổi này mặc dù tuổi bắt đầu học bắc buộc là 6 tuổi. Trẻ có thể
học tiểu học từ lớp 1 đến lớp 8 ở trường tiểu học hoặc trường chuyển tiếp (intermediate
school).
Giáo dục tiểu học tập trung vào xây dựng nền tảng cho việc học, đặc biệt là đọc viết và làm
toán.
Trung học: Trung học bắt đầu từ lớp 9 đến lớp 13 dành cho học sinh từ 13 đến 17
tuổi.
3. Sau Trung học (Tertiary)
Giáo dục sau Trung học bao gồm giáo dục đại học và giáo dục nghề. Đây là bậc ba của
giáo dục. Có 5 loại học viện bậc đại học-cao đẳng thuộc sở hữu chính phủ: đại học, đại học
giáo dục, trường bách nghệ, đại học chuyên nghiệp, và wānanga, so với hệ thống giáo dục
tư. Trong dân số thành niên, có 14,2% có bằng cử nhân hoặc cao hơn, 30,4% có trình độ cao
nhất là một dạng bằng cấp trung học, và 22,4% không có bằng cấp chính thức. Chương trình
đánh giá học sinh quốc tế (PISA) của OECD xếp hạng hệ thống giáo dục của New Zealand tốt
thứ 7 trên thế giới, trong đó học sinh thể hiện đặc biệt tốt năng lực đọc, toán học, và khoa học.
Báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho biết thế mạnh
của nền giáo dục New Zealand
New Zealand đứng trong ‘top’ 10 quốc gia có tỉ lệ cao nhất về số người có các bằng
cấp sau đại học. New Zealand là một điểm đến tốt cho sinh viên quốc tế. Báo cáo của OECD
đưa ra những điểm chính năm 2011 như sau:
 New Zealand được xếp hạng 4 về tỉ lệ sinh viên quốc tế ở bậc đại học
 New Zealand có tỉ lệ sinh viên quốc tế cao nhất ở bậc sau đại học (Diplma-level)
 New Zealand được xếp hạng 3 về số lượng sinh viên quốc tế ở bậc tiến sĩ.


GVHD: TS. Dương Minh Quang

Thực hiện: Nhóm 11 – NVSP K34

Báo cáo nêu rõ New Zealand đạt tiêu chuẩn đứng đầu thế giới về thành tích của học
sinh, sinh viên. Và các điểm mạnh của hệ thống giáo dục ở đây là: mô hình được tin tưởng
cao, đánh giá tốt chất lượng học tập, đáp ứng được nhu cầu đa dạng cho người học và
cam kết đào tạo đi đôi với thực tiễn, thực hành.
Mô hình giáo dục New Zealand có đặc thù là để địa phương tự kiểm soát và quản lý
cùng với các chương trình học tập đạt tiêu chuẩn quốc tế. Đó chính là mô hình cho sự thành
công mà các trường và các cộng đồng ở đây đã dày công xây dựng trong hai mươi năm qua
và giờ đây đang gặt hái thành quả.
Báo cáo cũng chỉ ra một số điểm mạnh đáng lưu tâm khác như tiêu chuẩn giáo viên
và các quy trình thẩm định, mức độ tin cậy của công chúng dành cho giáo viên, khả năng tự
trị và tự đánh giá cao.
1.3

Giáo dục đại học ở Newzeland

1.3.1 Hệ thống giáo dục đại học ở New Zealand
Tại New Zealand, “Giáo dục đại học” được hiểu khá rộng, bao gồm tất cả giáo dục sau
trung học. Nó bao gồm đào tạo cơ bản nền tảng cho những người có kỹ năng về một lãnh vực
nào đó và cơ hội học thứ hai cho những người có trình độ thấp hoặc không có chứng chỉ đang
tìm kiếm việc làm; bằng cấp chứng chỉ hành nghề; bằng cử nhân; đào tạo ngành công nghiệp:
bao gồm chứng chỉ học nghề hiện đại (Modern Apprenticeships); giáo dục cộng đồng và
người trưởng thành (ACE : Adult and Community Education); và bằng cấp sau đại học.
1.3.2

Các tổ chức giáo dục đại học (Tertiary education organisations –TEOs)

Các tổ chức giáo dục đại học tại New Zealand rất phông phú và đa dạng. Bao gồm:
- Tổ chức đào tạo của Chính phủ (GTEs : Government Training Establishment) : Là một
bộ phận của chính phủ , khác với TEIs được chính phủ phê duyệt và NZQA chứng nhận
với tư cách là tổ chức cung cấp giáo dục đại học. GTEs tổ chức các chương trình đào tạo
dựa vào những yêu cầu về phê chuẩn và công nhận của Luật giáo dục năm 1989.
- Tổ chức giáo dục đại học công lập (TEIs: public tertiary education institutions)
- Cơ sở đào tạo tư thục (PTEs: Private Training Establishments)
- Tổ chức đào tạo ngành công nghiệp (ITOs: Industry Training Organizations)
- Tổ chức giáo dục cộng đồng và người trưởng thành (ACE: Adult and Community
Education)
- Các tổ chức khác
- Ngoài ra các doanh nghiệp còn cung cấp các loại hình đào tạo tại doanh nghiệp


1.3.2.1 TEIs - tổ chức giáo dục đại học công lập
Có 4 loại: Đại học, Học viện kỹ thuật bách khoa, Cao đẳng sư phạm, và wānanga.
 Đại Học:
Các trường đại học chủ yếu tập trung vào đào tạo nâng cao và chuyên sâu, cung cấp các
cơ hội tìm kiếm bằng cấp cho các ngành học từ cấp độ đại học cho tới sau đại học và nghiên
cứu sinh. Có 8 trường đại học ở New Zealand:

- ĐH Auckland: Là một trong 50 Đại học hàng đầu thế giới. Thành lập năm 1983, là
trường Đại học có nhiều ngành học nhất tại New Zealand và cũng là viện nghiên cứu hàng
đầu trong nước và quốc tế. Các ngành học bao gồm: Kiến trúc, Quy hoạch, Kỹ thuật, Y khoa,
Nhãn khoa, Mỹ thuật, Luật, Giáo dục, Kinh doanh, Kinh tế...
- ĐH Kĩ thuật Auckland - AUT: thành lập năm 1895, cung cấp môi trường học tập đa
dạng, năng động cho SV và là trường dẫn đầu về chuyên ngành Kỹ thuật, máy tính, kinh tế.
Các ngành học khác bao gồm: Y tế, Du lịch, Truyền thông, Quản lý khách sạn, Ngôn ngữ,
Kinh doanh, Kỹ thuật thiết kế, Nghiên cứu môi trường...
- ĐH Waikato: Là trường ĐH công lập cung cấp chương trình giáo dục chất lượng
cao, được quốc tế cồng nhận. Dẫn đầu tại New Zealand dạy về ngành kinh tế, tài chính, hóa
học, truyền thông, báo chí với hơn 3000 khóa học đào tạo các chuyên ngành khác nhau, bao
gồm: Nghệ thuật và Khoa học xã hội, Máy tính và Toán học, Giáo dục, Luật, Quản trị học,
Công nghệ và kỹ sư.
- ĐH Massey: Với hơn 80 năm kinh nghiệm dạy truyền thống, Massey là học viện
nghiên cứu và giáo dục tốt nhất tại New Zealand. Đây cũng là một học viện sáng tạo nhất
New Zealand. Các ngành học thế mạnh bao gồm: Kinh Doanh, Thiết kế - Mỹ thuật, Âm nhạc,
Giáo dục, Khoa học xã hội và nhân văn.
- ĐH Victoria of Wellington: Nằm ở khu hải cảng thành phố xinh đẹp, cung cấp cơ hội
học tập và sinh hoạt tại thành phố thủ đô văn hoá, chính trị và trí tuệ của New Zealand. Các
ngành học thế mạnh bao gồm: Kiến trúc, Thiết kế, Quản lý công, An sinh xã hội, Luật, Nghệ
thuật, Giáo dục, Du lịch, Khoa hoc, Kinh tế thương mại.
- ĐH Canterbury: Trường ĐH nghiên cứu hàng đầu New Zealand được thành lập vào
năm 1873 và nổi danh trên thế giới về thành tích học tập cả trong giảng dạy và nghiên cứu.


GVHD: TS. Dương Minh Quang

Thực hiện: Nhóm 11 – NVSP K34

Cơ sở của trường là một trong những nơi đẹp nhất New Zealand với những khoảng sân có
phong cách tuyệt đẹp và phương tiện học tập hiện đại. Trường nằm trong thành phố
Christchurch, thành phố lớn nhất đảo Nam New Zealand. Các ngành học: Kỹ thuật, Lâm
nghiệp, Mỹ thuật, Báo chí, Nghệ thuật, Thương mại, Giáo dục, Cơ khí, Luật, Âm nhạc, Khoa
học.
- ĐH Lincoln: được thành lập vào năm 1878, là trường ĐH nổi tiếng với việc giảng
dạy và nghiên cứu. Tại đây, SV có thể tiếp cận với các trang thiết bị giảng dạy tiên tiến. Các
ngành học phổ biến: Nha khoa, Luật, Y khoa, Giáo dục thể chất, Dược, Khoa học nông
nghiệp, Quản lý và kinh doanh, Tài chính.
- ĐH Otago: được thành lập năm 1896, là ĐH lâu đời và danh tiếng nhất New
Zealand. Nổi danh về các ngành học thuật và nghiên cứu, hằng năm trường thu hút được rất
nhiều SV trong nước và quốc tế. Các ngành học thế mạnh của trường: Nha khoa, Luật, Y
khoa,
Sinh viên đại học thường bắt đầu năm học từ cuối tháng 2 và kết thúc vào tháng 10.
Năm học được chia ra thành 2 học kỳ (khoảng12 tuần/ HK) ngoại trừ ĐH Victoria of
Wellington có 3 HK. Sinh viên có 2 tuần được nghỉ vào giữa năm và khoảng 6 tuần nghỉ vào
cuối năm. Số lượng sinh viên theo học ở 8 trường ĐH nói trên là khoảng 180.000 (toàn thời
gian & bán thời gian) và có khoảng 19.500 cán bộ giảng dạy, nhân viên.
Thống kê số lượng sinh viên và cán bộ giảng dạy ở 8 trường ĐH như sau :
Đại học

Số sinh viên

SL giảng viên

Auckland

(Học toàn thời gian)
33,468

Auckland University of Technology

19,582

2,204

Waikato

9,904

1,483

Massey

18,680

3,013

Victoria

16,901

1,990

Canterbury

11,943

1,886

Lincoln

2,985

659

Otago

18,830

3,788

TỔNG CỘNG

132,297

19,966

Source: university annual reports

4,943


Nguồn tài trợ : Các trường ĐH New Zealand nhận khoản 40% nguồn thu từ tài trợ
của chính phủ (1,4 tỉ dolars / 3,5 tỉ dolars ) năm 2013. Phần còn lại từ học phí của sinh viên
và các nguồn thu khác. Gần 60% chi tiêu của 3.3 tỉ dolars dùng để chi trả cho nhân viên nhà
trường và các khoảng chi phí khác.
Nghiên cứu : Một cuộc khảo sát kết thúc năm 2014 của New zealand , thì giáo dục
ĐH chiếm 1/3 chi phí cho nghiên cứu và phát triển

Bộ phận
Triệu Dolars (2011)
Kinh doanh
1246
Chính phủ
622
Đại học
817
Tổng
2685
Source: 2014 R&D Survey

%
46
23
31
100

 Học viện kỹ thuật bách khoa ITPs (Institutes of technology and polytechnics):
Các học viện kỹ thuật bách khoa chủ yếu tập trung vào đào tạo nghề, mặc dù vai trò này
đã mở rộng trong hơn 15 năm qua để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người học và
nền kinh tế. Nhiều ITPS cung cấp nhiều trình độ đào tạo liên quan đến các hoạt động nghiên
cứu, cụ thể là nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ. Có 20 ITPS ở
New Zeland. Số lượng sinh viên theo học vào năm 2004 là 214.000. (78.000 sinh viên học
toàn thời gian)
 Cao đẳng sư phạm CoEs (Colleges of education)
Các trường cao đẳng này đảm nhiệm việc đào tạo và nghiên cứu chủ yếu là liên quan giáo
dục mầm non và giáo dục bắt buộc. Càng ngày, các trường cao đẳng cũng đưa ra các chương
trình khác ngoài việc đào tạo giáo viên, ví dụ những chứng chỉ về kinh doanh và công tác xã
hội. Số lượng trường cao đẳng đã giảm trong hơn thập kỷ qua, từ 6 trường vào đầu những
năm 1990 còn 2 vào năm 2005 vì bị sát nhập với các trường đại học gần đó. Trong năm 2004,
có 14.500 sinh viên tại CoEs (hoặc 8.400 sinh viên học toàn thời gian (equivalent full-time
students).

 Wānanga (Trung tâm dạy đại học của người Māori):


GVHD: TS. Dương Minh Quang

Thực hiện: Nhóm 11 – NVSP K34

Wānanga đã được chính thức công nhận là tổ chức giáo dục công lập trong thập kỷ qua.
Chương trình ở đây cho phép việc nghiên cứu ở tất cả các cấp, từ giáo dục cơ sở đến nghiên
cứu và học tập sau đại học và cũng dạy về phong tục tập quán của người Maori. Có 3
wānanga và 70.000 sinh viên theo học vào năm 2004 (32.000 sinh viên học toàn thời gian).
 Cơ sở đào tạo tư thục (PTEs = Private Training Establishments):
Các cơ sở đào tạo tư thục cung cấp đào tạo cho những ngành đặc biệt trong những lĩnh
vực chuyên biệt mà thông thường các trường công lập lớn không đào tạo, các cơ sở này đào
tạo cho nhiều đối tượng khác nhau, từ nhiều địa phương khác nhau, và cung cấp cho hầu hết
các cấp độ. Có gần 900 cơ sở đào tạo tư nhân đăng ký hoạt động chiếm 14% của số sinh viên
học đại học (63.000 sinh viên hoặc 30.000 sinh viên học toàn thời gian vào năm 2004). Các
PTEs đã được đăng ký phải đáp ứng được những yêu cầu về tiềm tài chính, chất lượng giáo
dục, trình độ giáo dục, trình độ quản lý để đảm bảo lợi ích cho học viên. Nhiều PTEs nhận
được tài trợ công tương tự như trường công lập, cũng có một số trường khác thì không nhận
được bất cứ nguồn tài trợ công nào cả (ví dụ : những trường dạy tiếng Anh cho sinh viên quốc
tế tự túc học phí hoặc là những trường chỉ cung cấp dịch vụ đào tạo cho các doanh nghiệp).
 ITOs (Industry Training Organizations):
Tổ chức đào tạo công nghiệp . Một số tổ chức này được tài trợ thông qua Quỹ đào tạo
ngành công nghiệp, số còn lại được hỗ trợ bởi các doanh nghiệp. Tính đến cuối năm 2004, có
41 ITOs.
 16 cơ sở giáo dục đại học khác (OTEPs : Other tertiary education providers):
Các cơ sở này cung cấp các chương trình học có ý nghĩa quốc gia và nhận được tài trợ của
chính phủ. Số sinh viên theo học ở các cơ sở này chỉ chiếm 1%.
1.4

Mục tiêu của chính phủ cho giáo dục đại học

1.4.1

Hệ thống giáo dục đại học New Zealand

Hệ thống giáo dục đại học New Zeland đã trải qua những thay đổi lớn trong vài năm qua.
Trong những năm 1990, tầm nhìn cho giáo dục đại học tập trung chủ yếu vào sự tham gia tối
thiểu chi phí, thông qua tiếp cận phổ cập và một phương thức tài trợ thông thường đơn giản
dựa trên nhu cầu của học sinh. Đó là một hệ thống mà TEOs chịu trách nhiệm trực tiếp đến
nhu cầu của cộng đồng và kinh tế, và sẽ vận động mà không cần chỉ đạo của chính phủ. Chính


phủ thiết lập các khuôn khổ chính sách, cung cấp tài trợ và giám sát kết quả; phần còn lại là
tùy thuộc vào ngành.
Trước những năm cuối thập kỷ 90, người ta đã nhận ra hệ thống giáo dục đại học New
Zealand cần phải hướng về việc nhận thức được vai trò quan trọng của mình ví như tài sản
then chốt để phát triển đất nước .Các ngành và các bên liên quan được tư vấn, và một số thay
đổi cần thiết được xác định:
-

Liên kết lớn hơn với mục tiêu quốc gia của Chính phủ;

-

Tăng cường liên kết với các doanh nghiệp và cổ đông bên ngoài khác;

-

Tạo ra các quan hệ đối tác hiệu quả với cộng đồng người Maori;

-

Đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người học;

-

Chiến lược tập trung cho tương nhiều hơn.

-

Liên kết toàn cầu rộng lớn hơn;

-

Tăng cường hợp tác và tính hợp lý;

-

Chất lượng, hiệu suất, hiệu quả và minh bạch cao hơn;

-

Một nền văn hóa của tinh thần lạc quan và sáng tạo.
Chính phủ bắt tay vào một chương trình cải cách toàn diện giáo dục đại học để thực hiện

những thay đổi quan trọng trong giai đoạn năm năm 2002 đến năm 2007. Nền tảng của công
cuộc cải cách là Chiến lược Giáo dục đại học (TES) - một chiến lược cấp cao mà kết nối
những mục tiêu quan trọng đối với hệ thống giáo dục đại học của New Zealand và xác định
hệ thống giáo dục sẽ giúp thực thi hiệu quả mục tiêu và tầm nhìn của Chính phủ như thế
nào.
Các TES đưa ra định hướng cho ngành về mục tiêu trung và dài hạn. Nó không thiết lập
cụ thể, mục tiêu và các chỉ tiêu đo lường. Phần lớn các TES là nhằm mục đích thay đổi thái
độ, văn hóa và trọng tâm của ngành.
TES hiện nay dựa trên 6 chiến lược chính:
-

Tăng cường năng lực và chất lượng của hệ thống.

-

Te Rautaki Matauranga Māori - Đóng góp vào thành tích của khát vọng phát triển Māori

-

Nâng cao kỹ năng cơ bản để mọi người có thể tham gia trong xã hội tri thức

-

Giáo dục cho sự phát triển và thành công của dân tộc Thái Bình Dương;

-

Tăng cường nghiên cứu, sáng tạo tri thức và sự hấp thu cho xã hội tri thức

Mỗi một tiểu chiến lược bao gồm một số mục tiêu cấp nhỏ và chi tiết hơn.


GVHD: TS. Dương Minh Quang
1.4.2

Thực hiện: Nhóm 11 – NVSP K34

Các cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm về giáo dục

Các cơ quan chính phủ chính với một trách nhiệm đối với giáo dục đại học là Bộ Giáo
dục, Ủy ban Giáo dục đại học, Cục quản lý chất lượng văn bằng New Zealand (NZQA),
Career Services Rapuara.
 Bộ Giáo dục (Ministry of Education – MoE) :
Là cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm phát triển các khung chính sách giáo dục đại học
và tư vấn cho Bộ trưởng về TES. Đồng thời giám sát sự thành công của TES, thu thập và
quản lý dữ liệu về giáo dục đại học, và giám sát hoạt động của toàn hệ thống. Bộ GD cũng
chịu trách nhiệm giám sát hoạt động tài chính của TEIs.
 Tertiary Education Commission Te Amorangi Mātauranga Mauta (TEC):
Được tạo thành từ một hội đồng quản trị của 7 ủy viên do Bộ trưởng bổ nhiệm. TEC có
trách nhiệm thực hiện Chiến lược giáo dục đại học của chính phủ và phân bổ kinh phí giáo
dục đại học của chính phủ cho các tổ chức giáo dục đại học (Teos) theo khuôn khổ tài trợ tích
hợp cho giáo dục đại họ; xây dựng năng lực giáo dục và đào tạo đại học để đóng góp vào các
mục tiêu kinh tế và xã hội quốc gia; tư vấn cho chính phủ về các chính sách, ưu tiên và hiệu
suất của ngành và xây dựng hệ thống điều lệ và hồ sơ để chỉ đạo các hệ thống giáo dục đại
học.
 Cục quản lý chất lượng văn bằng New Zealand (NZQA):
Giống như TEC, có một ban giám đốc do Bộ trưởng bổ nhiệm. Chức năng là:
-

Có vai trò đảm bảo chất lượng đào tạo các ngành đại học

-

Phát triển và đảm bảo chất lượng của văn bằng quốc gia

-

Thiết lập và duy trì việc đăng ký đảm bảo chất lượng văn bằng.

-

Đăng ký khung Bằng cấp Quốc gia (NQF)

-

Đăng ký PTEs

-

Đánh giá văng bằng nước ngoài cho mục đích di cư và làm việc.

 Hội đồng giáo viên New zealand:
Cung cấp lãnh đạo chuyên nghiệp trong giảng dạy học và thúc đẩy thực hành tốt nhất để
phát triển chuyên môn. Hội đồng giáo viên tham gia vào việc phê duyệt và giám sát các trình
độ đào tạo giáo viên và việc đào tạo giáo viên được đề ra bởi các bộ phận giáo dục đại học.
Tất cả các chương muốn đăng ký với vai trò của một giáo viên phải đáp ứng các tiêu chí của


Hội đồng giáo viên New Zealand bên cạnh việc đáp ứng việc phê duyệt và công nhận tiêu
chuẩn chung.
 Bộ Phát triển Xã hội (MSD) :
Chỉ đạo việc thực hiện chính sách để phát triển xã hội, cung cấp các dịch vụ xã hội như
hỗ trợ thu nhập cụ thể. Hỗ trợ tài chính được cung cấp cho sinh viên, thông qua liên kết giáo
dục –Study Link (một dịch vụ của MSD). StudyLink quản lý và cung cấp các khoản vay và
trợ cấp khác cho sinh viên trong quá trình học và hỗ trợ thu nhập cho những sinh viên chưa
tìm được việc làm trong thời gian nghỉ giữa kỳ. Quá trình này gồm việc đánh giá quyền hạn,
khả năng chi trả, duy trì mối quan hệ với những đối tác (các cơ quan chính phủ khác, TEOs,
các nhóm sinh viên).
1.4.3

Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa các thành phần chính yếu trong hệ thống giáo
dục đại học
Thủ tướng

Bộ trưởng giáo dục :
Đề ra chính sách chiến lược và quản lý, giám
sát nguồn vốn đầu tư của chính phủ.

Dịch vụ nghề
nghiệp
Thông tin, lời
khuyên và hướng
dẫn về nghề nghiệp

Các tổ chức liên
kết giáo dục
Cung cấp nguồn
vay và trợ cấp

Ủy ban giáo dục Đại học
Tiến hành các chiến lược giáo dục đại học ,
đàm phán điều lệ, phân phối tài trợ cho các tổ
chức giáo dục đại học theo quy trình đảm bảo
chất lượng.

Cục quản lý chất lượng
văn bằng New Zealand
(NZQA) :
Đảm bảo chất lượng

Hội đồng đảm bảo chất lượng

Các cổ đông
( gồm sinh viên, nhà tuyển dụng &
cộng đồng) : nâng cao kỹ năng và
hiệu quả , xác định nhu cầu giáo dục
và đào tạo cho các Tổ chức giáo dục
đại học (TEOs).

1. Giảng dạy và chuẩn bị tài liệu.

Các bộ phận liên quan
Các tổ chức giáo dục đại học (TEOs)
: cung cấp chương trình giáo dục &
đào tạo chất lượng cao, biên soạn
các điều lệ thỏa thuận với các cổ
đông.


GVHD: TS. Dương Minh Quang

Thực hiện: Nhóm 11 – NVSP K34

2. Sinh viên và phụ huynh không đòi hỏi cao về phương pháo giảng dạy: giảng viên thường
chú trọng nghiên cứu và ít quan tâm đến việc cải thiện phương pháp đào tạo, giáo trình.
Phần lớn sách giáo khoa tiếng Nhật, nhất là trong các ngành khoa học xã hội, là các bảng
dịch từ sách giáo khoa xuất bản ở các quốc gia Mỹ Âu.
3. Yêu cầu từ nhà sử dụng lao động: trong giai đoạn này các công ty Nhật thường có khuynh
hướng chung là chọn người có tiềm năng và kiến thức căn bản. Kiến thức chuyên môn sẽ
được công ty đào tạo lại.
1.4.4

Phương thức vận hành của hệ thống giáo dục đại học New Zeland

Hệ thống giáo dục đại học được xây dựng nên để thực hiện 4 vấn đề chính:
-

Đảm bảo chất lượng

-

Chỉ đạo hệ thống - sử dụng các tiêu chí đánh giá của Điều lệ và những nội quy tóm lược
để cải thiện liên kết giữa TEOs và TES

-

Cung cấp các nguồn tài trợ của chính phủ

-

Giám sát ngành

 Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học
Chất lượng giáo dục đại học ở New Zealand nhằm cung cấp một tiêu chuẩn tối thiểu về chất
lượng trong kết quả học tập cho sinh viên. Nó tập trung vào các hệ thống và quy trình được hỗ
trợ bởi TEOs. Chỉ có những khóa học giáo dục đại học, bằng cấp và TEOs đã được đảm bảo
chất lượng bởi các cơ quan đảm bảo chất lượng mới có thể nhận được nguồn tài trợ của chính
phủ hoặc nhận được các khoản vay, phụ cấp cho sinh viên. Có 2 cơ quan đảm bảo chất lượng:
 Cục quản lý chất lượng văn bằng New Zealand (NZQA : New Zealand Quality
Authority)
 Ủy ban New Zealand Vice chancellors '.
Một trong những cơ chế quản lý chất lượng là việc đăng ký đảm bảo chất lượng trình độ
chuyên môn. Việc đăng ký yêu cầu các tiêu chuẩn nhất định về phát triển trình độ chuyên
môn: mỗi trình độ có quy định10 mức độ (từ 1-10); một báo cáo kết quả cho toàn bộ trình
độ chuyên môn và mỗi thành phần của nó; một giá trị tín dụng (120 tín chỉ tương đương với
một năm học toàn thời gian).
 Chỉ đạo hệ thống giáo dục
Vai trò của TEC bao gồm việc thực hiện Chiến lược Giáo dục đại học. TEC cũng có trách
nhiệm bố trí kinh phí cho TEOs. Các công cụ chính mà TEC sử dụng trong việc quản lý
những trách nhiệm này là Điều lệ và Hồ sơ.


- Điều lệ là văn bản nào đó minh họa cho sự đóng góp của một tổ chức để các TES và hệ
thống giáo dục đại học rộng lớn hơn và các bên liên quan của nó. Họ là những tài liệu
quản trị cấp cao cung cấp một mô tả rộng rãi về sứ mệnh và vai trò của TEOs trong hệ
thống giáo dục đại học. Chính điều lệ là điều kiện tiên quyết đầu tiên để được hưởng sự
tài trợ công cộng cho Teos đảm bảo chất lượng. Điều lệ được phê duyệt của Bộ trưởng,
theo lời khuyên của TEC, và trong trường hợp của TEIs, và bộ giáo dục.
- Hồ sơ hàng năm mô tả chi tiết hơn hướng chiến lược của TEO, các hoạt động, chính sách
và mục tiêu thực hiện trong ba năm tiếp theo. Profiles phải nộp mỗi năm của tất cả các
TEOs công khai tài trợ. TEC chịu trách nhiệm cho việc đánh giá hồ sơ, nếu cần thiết đề
xuất, thảo luận về những thay đổi trong hồ sơ. TEC sẽ phê duyệt hồ sơ - qua đó cung cấp
tiếp cận nguồn vốn. Hồ sơ cá nhân đóng góp cho một bản đồ chi tiết hơn về các lĩnh vực
giáo dục đại học và thiết lập giám sát thích hợp hơn, báo cáo và trách nhiệm giải trình
đối với các tổ chức công khai tài trợ.
TEC sử dụng đánh giá về sự phù hợp chiến lược của các khóa học và trình độ chuyên
môn để xác định Ts đạt được sự chấp thuận cho tiếp cận nguồn vốn nào hoặc theo đuổi các
sáng kiến cụ thể. Đánh giá của TEC bổ sung đảm bảo chất lượng và các yêu cầu giám sát và
trách nhiệm thực hiện thành lập thông qua hồ sơ.
TEOs báo cáo về việc thực hiện và tài chính chỉ tiêu đề ra trong hồ sơ của họ trong một
tuyên bố hàng năm của Performance Service. TEC, NZQA và Bộ GD cũng thực hiện một loạt
các hoạt động giám sát khác.
 Chỉ đạo hệ thống giáo dục
Vai trò của TEC bao gồm việc thực hiện Chiến lược Giáo dục đại học. TEC cũng có trách
nhiệm bố trí kinh phí cho TEOs. Các công cụ chính mà TEC sử dụng trong việc quản lý
những trách nhiệm này là Điều lệ và Hồ sơ.
Điều lệ là văn bản nào đó minh họa cho sự đóng góp của một tổ chức để các TES và hệ
thống giáo dục đại học rộng lớn hơn và các bên liên quan của nó. Họ là những tài liệu quản trị
cấp cao cung cấp một mô tả rộng rãi về sứ mệnh và vai trò của TEOs trong hệ thống giáo dục
đại học. Chính điều lệ là điều kiện tiên quyết đầu tiên để được hưởng sự tài trợ công cộng cho
Teos đảm bảo chất lượng. Điều lệ được phê duyệt của Bộ trưởng, theo lời khuyên của TEC,
và trong trường hợp của TEIs, và bộ giáo dục.
Hồ sơ hàng năm mô tả chi tiết hơn hướng chiến lược của TEO, các hoạt động, chính sách
và mục tiêu thực hiện trong ba năm tiếp theo. Profiles phải nộp mỗi năm của tất cả các Teos


GVHD: TS. Dương Minh Quang

Thực hiện: Nhóm 11 – NVSP K34

công khai tài trợ. TEC chịu trách nhiệm cho việc đánh giá hồ sơ, nếu cần thiết đề xuất, thảo
luận về những thay đổi trong hồ sơ. TEC sẽ phê duyệt hồ sơ - qua đó cung cấp tiếp cận nguồn
vốn. Hồ sơ cá nhân đóng góp cho một bản đồ chi tiết hơn về các lĩnh vực giáo dục đại học và
thiết lập giám sát thích hợp hơn, báo cáo và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức công
khai tài trợ.
TEC sử dụng đánh giá về sự phù hợp chiến lược của các khóa học và trình độ chuyên
môn để xác định Ts đạt được sự chấp thuận cho tiếp cận nguồn vốn nào hoặc theo đuổi các
sáng kiến cụ thể. Đánh giá của TEC bổ sung đảm bảo chất lượng và các yêu cầu giám sát và
trách nhiệm thực hiện thành lập thông qua hồ sơ.
TEOs báo cáo về việc thực hiện và tài chính chỉ tiêu đề ra trong hồ sơ của họ trong một
tuyên bố hàng năm của Performance Service. TEC, NZQA và Bộ GD cũng thực hiện một loạt
các hoạt động giám sát khác.

 Kinh phí của hệ thống giáo dục
Hệ thống giáo dục đại học có một khuôn khổ tài trợ tích hợp. Khung này được thiết kế để
bổ sung cho các cuộc cải cách giáo dục đại học và các TES. Mục đích của nó là để phân phối
tài nguyên và chỉ đạo hệ thống giáo dục đại học, trong khi cung cấp Teos với sự linh hoạt để
hoạt động một cách đáp ứng và sáng tạo. Có ba yếu tố chính:
-

Tài trợ cho việc giảng dạy và học tập của sinh viên trong nước
Tài trợ cho nghiên cứu,
Tài trợ chiến lược để giúp Teos sắp xếp dịch vụ của họ với TES.
Khung thiết kế có những đặc điểm chung sau đây:

-

Kinh phí được giao để Teos và ITOs như một khoản trợ cấp với số lượng lớn
Không có kinh phí được giao cho đến khi TEC chấp thuận một phần hoặc toàn bộ hồ sơ
của TEO cho mục đích tài trợ
Theo thời gian, khuôn khổ tài trợ sẽ được chuyển đến liên kết lớn hơn với các mục tiêu

của các hiến lược.
Trong khi đó để cho chính quyền thiết lập tổng số tiền tài trợ dành cho giáo dục đại học
và để xác định các chính sách tài trợ rộng, TEC chịu trách nhiệm thiết lập quy chế hoạt động
tài trợ và phân bổ kinh phí cho TEOs.
Tổng chi tiêu của chính phủ về giáo dục đại học trong năm tài chính 2004/05, bao gồm
cả chi phí hoạt động tương đương với 2,5% tổng sản phẩm quốc dân. Trong số này, hai khoản


mục chi phí lớn nhất là cho việc giảng dạy và học tập với $ 1.9 tỷ và nguồn vốn cho sinh viên
vay là $ 1.0 tỷ. Năm 2004 ngành công nghiệp đóng góp 47 triệu $ cho đào tạo trong ngành
công nghiệp trong khi chính phủ đóng góp $ 125 triệu.

 Giám sát của hệ thống giáo dục
Bộ Giáo Dục chịu trách nhiệm giám sát và đánh giá các TES. Theo dõi đánh giá chiến
lược hàng năm sẽ đo lường sự tiến bộ của ngành giáo dục đại học thông qua đo lường các
kết quả được thưc hiện trong TES, bằng cách sử dụng các chỉ số đo lường khác nhau. Mỗi
TE cũng sẽ được đánh giá với một tập trung vào việc xác định giá trị, công đức, giá trị và
tầm quan trọng của chiến lược. Việc đánh giá các TES hiện tại và đầu tiên đã bắt đầu được
thực hiện.
Việc giám sát đã cung cấp cho chính phủ thông tin về tiến độ thực hiện của TES, của các
ngành và các ban với một bối cảnh rộng lớn hơn cho quá trình phát triển chính sách và quy
hoạch ngành và các bên liên quan với sự hiểu biết về đóng góp của ngành đạt được mục tiêu
quốc gia.
Hình 2. trình bày một sơ đồ thiết kế cải cách đại học của New Zealand


GVHD: TS. Dương Minh Quang

1.5

Thực hiện: Nhóm 11 – NVSP K34

Cục quản lý chất lượng văn bằng New Zealand (NZQA)
NZQA duy trì một cái nhìn tổng quan về yêu cầu cho giáo dục và đào tạo bắt buộc và

không bắt buộc thông qua hệ thống Đăng Ký Trình Độ chất Đảm Bảo Chất Lượng của New
Zealand ("Hệ thống Đăng ") cung cấp một danh sách đầy đủ của tất cả các trình độ đảm bảo
chất lượng tại New Zealand. Mục đích chính của NZQA là:
- Để xác định rõ tất cả các trình độ đảm bảo chất lượng tại New Zealand;


- Để đảm bảo rằng tất cả các bằng cấp có mục đích và mối liên hệ với nhau mà sinh viên và
công chúng có thể hiểu được;
- Để duy trì và tăng cường khả năng chuyển đổi tín chỉ cho người học để thông qua việc
thành lập một hệ thống tín chỉ chung;
- Để tăng cường và xây dựng lên sự công nhận của quốc tế về trình độ giáo dục của New
Zealand.
Đăng ký đại học có mười cấp bao gồm những yêu cầu đã được đăng ký phù hợp với các
chức năng của nó. Cấp độ 1 là ít phức tạp nhất và cấp độ10 là phức tạp nhất. Mức độ phụ
thuộc vào sự phức tạp của việc học. Chúng không đồng nghĩa với 'số năm học' nhưng phản
ánh nội dung của trình độ chuyên môn. Hình 2.3 cho thấy cấp độ của Đăng Ký liên quan thế
nào đến các cấp trong hệ thống giáo dục New Zealand.

Trong những năm gần đây phạm vi yêu cầu của ban giáo dục đã gia tăng đáng kể, và
sự đa dạng về yêu cầu của việc Đăng ký cũng phản ánh những phát triển cho ngành công
nghiệp mới hoặc đang phát triển cũng như sự tăng trưởng trong những thiết kế để phát triển
năng lực chung mà có thể được áp dụng trong một loạt các thay đổi. Trong năm 2003 có
6.800 yêu cầu cho đảm bảo chất lượng chuyên môn cho việc đăng ký, trong đó có khoảng 2/3
là ở cấp giấy chứng nhận, 12% ở cấp bằng tốt nghiệp, 12% ở mức độ cử nhân và 10% ở cấp
độ sau đại học.


GVHD: TS. Dương Minh Quang
1.6

Thực hiện: Nhóm 11 – NVSP K34

Những thay đổi lớn trong giáo dục đại học trong những năm qua tại New Zealand
Bối cảnh hiện tại của hệ thống giáo dục của New Zealand cần phải được xem xét trong

suốt quá trình 2 thập kỉ. Trong mười năm qua đã chứng kiến hệ thống giáo dục đại học New
Zealand di chuyển từ một hệ thống phân cấp, tự quản lý, tập trung vào nhu cầu và cạnh tranh
lẫn nhau với những hàng rào thể chế vô hình, đang hướng tới một mạng lưới cung cấp liên kết
và hợp tác lẫn nhau nhiều hơn, phù hợp với mục tiêu phát triển trọng điểm quốc gia, như nêu
trong TES.
Trong thời gian này đã có những điều chỉnh lớn đối với tất cả các quy định và đòn bẩy
nguồn lực. Các mô hình mới, như mô tả trong hình 3 nêu trên, đòi hỏi nhiều hơn các mối quan
hệ và tương tác phức tạp và tinh vi hơn nhiều giữa các cơ quan chính phủ, trong chính bản
thân các ngành giáo dục và giữa các ngành giáo dục với nhau, và tương tác giữa giáo dục đại
học và các lĩnh vực khác thuộc về chính sách kinh tế, xã hội và giữa chính phủ và các ngành.
Hệ thống tập trung vào nhu cầu của những năm 1990 đã đáp ứng được những sự lựa chọn
của sinh viên và nhu cầu của cộng đồng và nó đã góp phần đẩy mạnh sự phát triển đáng kể
của sự tham gia, đổi mới và một nền dân số có trình độ tốt hơn. Tuy nhiên trong giai đoạn
công nghệ thay đổi nhanh chóng và kinh tế bấp bênh không ổn định, người ta đã nhận thức
được rằng việc thiếu định hướng và can thiệp vào giáo dục của chính phủ trung ương có thể
đặt sự phát triển kinh tế của New Zealand vào tình trạng rủi ro cao. Đồng thời, trong những
năm 90s, nhận thức về sự cần thiết của chất lượng của việc cung cấp và nghiên cứu xuất sắc.
Ở một mức độ thể chế, TEOs vận hành giống như các doanh nghiệp và cạnh tranh trong việc
tuyển sinh. Có những làn ranh trong những đặc điểm đặc trưng của các loại hình khác nhau
của các tổ chức, với các trường cao đẳng và ITPS cấp bằng đại học và bằng sau đại học trong
khi một số trường đại học mở rộng phạm vi cấp chứng chỉ và văn bằng. Mặc cho tốc độ tăng
trưởng trong tuyển sinh, một số tổ chức đã không xây dựng tiềm lực tài chính cho riêng họ.
Các cải cách quan trọng nhất của ngành trong mười năm qua đạt được là nhờ vào kết quả
của những đóng góp của Ủy ban Tư vấn Giáo dục đại học (TEAC), được thành lập bởi chính
phủ trong năm 2000 để cung cấp lời khuyên về định hướng chiến lược dài hạn cho các ngành
đại học. Những cải cách mà kết quả tìm kiếm để thay đổi ngành giáo dục đại học vào một môi
trường chiến lược kết nối với các mục tiêu kinh tế xã hội và quốc gia của chính phủ.
Một số bộ phận của ngành đã nhận xét rằng sự quản lý thay đổi và điều chỉnh vốn được
yêu cầu bởi các ngành và các cơ quan đã bị đánh giá thấp và rằng việc thực hiện những cải
cách hiện nay đã bị ảnh hưởng bởi những thứ còn “treo” của cải cách trước đó. Đặc biệt,


những tác động của những thay đổi được thực hiện trong 1998/9 để tài trợ cho PTEs trên cơ
sở tương tự như TEIs và để loại bỏ các giới hạn về số lượng các địa chỉ được tài trợ đã làm
thay đổi độ nhạy bén của hệ thống một cách cơ bản; trước đây đã từng rất khó khăn để tách
các tác động của những thay đổi các cuộc cải cách hiện nay.
Những tính năng đáng chú ý của hệ thống giáo dục đại học của New Zealand trong mười
năm qua bao gồm:
-

Sự tăng trưởng đáng kể trong việc tham gia vào hệ thống giáo dục đại học;

-

Sự tăng trưởng trong sự đóng góp của khối tư nhân cho chi phí giáo dục đại học;

-

Việc giỡ bỏ các ranh giới thể chế khi một số TEOs tìm cách mở rộng hoạt động của
họ ra ngoài vai trò truyền thống;

-

Sự chú trọng vào việc giải quyết các vấn đề giáo dục cho người Maori;

-

Liên kết cung cấp giáo dục với nhu cầu của doanh nghiệp thông qua các ngành đào
tạo công nghiệp chiến lược

-

Sự phát triển của giáo dục quốc tế, mà bây giờ đã trở thành một ngành công nghiệp
xuất khẩu quan trọng;

-

Sự phát triển của yêu cầu về Đăng ký của New Zeland về Năng Lực Đảm Bảo Chất
Lượng đã tạo ra các kết quả tìm kiếm trong mỗi trình độ và thiết lập một cách phổ
biến để mô tả trình độ, do đó tạo điều kiện cho các con đường và chuyển đổi tín chỉ;

-

Sự ra đời của TES và tác động của nó đối với nền văn hóa và chỉ đạo của ngành;

-

Việc thành lập Ủy ban Giáo dục đại học;

-

Các yêu cầu mới tại nơi làm việc cho các cấp cao hơn về kỹ năng, dẫn đến phát triển
của một số sinh viên ;

-

Quản lý sự phát triển của ngành; và sự phát triển của chính phủ đầu tư vào giáo dục
đại học, cả trong việc tài trợ cho TEOs và hỗ trợ sinh viên

1.7 Những chú trọng trong tương lai
Chính sách của TES là sẽ tiếp tục ưu tiên cho phát triển mảng giáo dục đại học. Những
bằng chứng về sự giám sát TES hiện tại cho thấy rằng TES đã có tác động về tư duy trong
lĩnh vực này nhưng vẫn có một số cách khác để đạt được những thay đổi dự kiến.
Thêm vào đó, trong hai năm qua người ta đã tăng sự tập trung vào "giá trị của đồng tiền"
và các nhà chức trách đã chú trọng phối hợp tiếp cận lẫn nhau để đạt được mục tiêu này. Việc
chú trọng này được thấy qua những quan tâm cho các lĩnh vực sau:
-

Tiếp cận nghiêm ngặt hơn tới chất lượng cung cấp;


GVHD: TS. Dương Minh Quang

Thực hiện: Nhóm 11 – NVSP K34

-

Tiếp cận nghiêm ngặt hơn sự cần thiết của nguồn cung;

-

Những thay đổi trong mô hình tài trợ để cải thiện sự cân bằng giữa chất lượng, sự
cần thiết và tiếp cận, đồng thời đảm bảo khả năng dự báo và duy trì nguồn tài chính;

-

Một mạng lưới tổng thể hiệu quả hơn trong việc cung cấp giáo dục đại học và nghiên
cứu;

-

Một cách tiếp cận kết nối hơn các ngành với nhau.
Phần 2: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

2.1 Về hoạt động quản lý:


Cần đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm định chất
lượng và giám sát các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.



Cần phân định rõ các loại hình giáo dục dựa theo mục đích và thiết lập chung một
phương pháp quản lý cho từng loại hình, tránh một loại hình mà có nhiều phương
thức quản lý khác nhau.



Phân cấp quản lý chưa hiệu quả, rõ ràng, thiếu tính ràng buộc về trách nhiệm.



Để phát triển giáo dục Việt Nam cần xây dựng hệ thống quản lý giáo dục đạt tiêu
chuẩn quốc tế. Hệ thống này có thể giao cho tổ chức nước ngoài quản lý.

2.2 Về chương trình đào tạo và hình thức đánh giá:


Cần chuyển đổi cơ chế đào tạo theo khả năng sang cơ chế đào tạo theo nhu cầu xã hội
nhằm tăng khả năng cạnh tranh cho sinh viên sau tốt nghiệp cũng như hạn chế thất
nghiệp.



Thực hiện tốt đào tạo theo học chế tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học để tạo
thêm cơ hội lựa chọn cho người học cũng như đa dạng hóa hoạt động đào tạo của nhà
trường.



Cần cập nhật nội dung đào tạo theo sự biến đổi mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và thị
trường.



Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục lối truyền thụ một chiều. Phát
huy phương pháp học tích cực, sáng tạo. Tăng tính tự giác học cũng như nghiên cứu
cho sinh viên; gắn lý thuyết với thực hành.




Ở Việt Nam thực hiện cải cách thường xuyên, đặc biệt trong giáo dục phổ thông
nhưng không hiệu quả do không đồng bộ, thống nhất.



Ở NZ áp dụng QH chiến lược bằng cách đầu tư phát triển theo mục tiêu ở từng cấp
độ.

2.3 Về cơ sở vật chất:


Cần cải thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp với phương pháp dạy và học đổi
mới nhằm hỗ trợ tối đa việc học cho sinh viên.

2.4 Về mạng lưới giáo dục:


Cần hạn chế các trường không đạt chuẩn về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, trang
thiết bị cũng như đầu vào của sinh viên bằng cách sáp nhập hay chuyển đổi loại hình
hay bậc học để nâng cao hiệu suất đào tạo.



Đẩy mạnh công tác phát triển đội ngũ giảng viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.

2.5 Về cơ chế tài chính


Điều chỉnh phân bổ kinh phí cho các cơ sở giáo dục công khai, minh bạch và hợp lý.
Sử dụng cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước như một công cụ để điều tiết hiệu quả cơ
cấu ngành đào tạo trong giáo dục đại học.



Cần học tập New Zealand trong việc thu hút nguồn đầu tư nước ngoải cho giáo dục
đại học.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. OECD THEMATIC REVIEW OF TERTIARY EDUCATION (January 2006), The New
Zeland Ministry of Education chương II Overall Description of the tertiary educatuon
system
2. Tổng quan hệ thống giáo dục của New Zeland (4/2004), International Policy and
Development Unit, Ministry of Education, New Zeland


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×