Tải bản đầy đủ

Tiểu luận môn kinh tế chính trị

Tiểu luận môn
Kinh tế chính trị

LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với quá trình cổ phần hóa sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước,
cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là một quá trình tất yếu có tính phổ
biến của sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở
hữu. Bởi vì, việc sắp xếp và chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành
Công ty cổ phần tiến lên hình thành các tập đoàn Công ty đa quốc gia đủ
mạnh hoạt động có hiệu quả ở thị trường trong nước và vươn ra thị trường
thế giới là con đường hữu hiệu để đổi mới khu vực kinh tế Nhà nước ở
nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Việt Nam, vấn đề cổ phần hóa
doanh nghiệp Nhà nước được đặt ra từ năm 1991. Từ kinh nghiệm thực tiễn
hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, khóa 9 về “Tiếp tục sắp xếp, đổi
mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước", các chuyên gia
cho rằng đây là thời điểm mà Đảng đặt định vị doanh nghiệp nhà nước đúng chỗ

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại,
đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước, điều đó khẳng định
vừa ban hành đã nhận được sự quan tâm của cỏácc chuyờn gia kinh tế.
Theo cỏc chuyờn gia kinh tế thỡ Đảng và Chính phủ đó nhỡn nhận rừ vấn

đề: Nếu như chúng ta không cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước t sẽ tạo ra ỏch
tắc cho nền kinh tế.

10 năm đã khẳng định rằng cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
không phải là tư nhân hóa nền kinh tế mà là quá trình đa dạng hình thức sở
hữu, tạo cở sở cho việc đổi mới quan hệ tổ chức quản lý và phân phối sản
phẩm, thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn nhằm hiện đại hóa nền kinh
tế, tạo động lực cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh;
đồng thời cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước cũng không có nghĩa là làm
suy yếu kinh tế Nhà nước mà là một trong các giải pháp quan trọng để kinh
tế Nhà nước phát huy vao trò chủ đạo thật sự của nó trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

1


Tiểu luận môn
Kinh tế chính trị
Trên cơ sở những tư liệu về cổ phần hóa, qua sách báo, các phương tiện thông
tin đại chúng và với sự hiểu biết của cá nhân, em xin mạnh dạn đưa ra một số luận điểm
cá nhân về Những vấn đề cũn tồn tại trong quỏ trỡnh cổ phần húa doanh nghiệp nhà
nước ở Việt Nam và giải phỏp về đổi mới tổ chức, quản lý hoạt động của doanh nghiệp
nhà nước và sắp xếp, cổ phần húa, thoỏi vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

2


Tiểu luận môn
Kinh tế chính trị

NỘI DUNG CHÍNH
I- MỘT SỐ LÝ LUẬN VÀ KHÁI NIỆM CHUNG
1- Doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở
giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
2- Doanh nghiệp Nhà nước
Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn
thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công
ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao. Doanh


nghiệp Nhà nước có tư cách pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự
chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do
doanh nghiệp quản lý.
3- Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a. Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
b. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác
của doanh nghiệp trong phạm vi vốn góp vào doanh nghiệp.
c. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho
người khác, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 55 và Khoản 1 Điều
58 của Luật này.
d. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 3
và không hạn chế số lượng tối đa.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy
chứng nhận kinh doanh.
3


Tiểu luận môn
Kinh tế chính trị

4. Cổ tức
Cổ tức là số tiền hàng năm được trích từ lợi nhuận của Công ty để trả
cho mỗi cổ phần.
5. Phần vốn góp
Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của
Công ty góp vào vốn điều lệ.
6. Vốn có quyền biểu quyết
Vốn có quyền biểu quyết là phần bốn góp, theo đó người chủ sở hữu
có quyền biểu quyết về những vấn đề được hội đồng thành viên hoặc Đại
hội đồng cổ đông quyết định.
7. Thành viên sáng lập
Thành viên sáng lập là người tham gia thông qua điều lệ đầu tiên của
Công ty. Cổ đông sáng lập là thành viên sáng lập Công ty cổ phần.
8. Người quản lý doanh nghiệp
Người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân,
thành viên hợp doanh đối với Công ty hợp doanh, thành viên hội đồng
thành viên, chủ tịch Công ty, thành viên hội đồng quản trị, giám đốc, các
chức danh quản lý quan trọng khác do điều lệ Công ty quy định đối với
Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần.
9. Tổ chức lại doanh nghiệp
Tổ chức lại doanh nghiệp là việc chia tách hợp nhất, sát nhập và
chuyển đổi doanh nghiệp.
10. Người có liên quan

4


Tiểu luận môn
Kinh tế chính trị

Người có liên quan là những người có quan hệ với nhau trong trường
hợp sau:
a. Doanh nghiệp mẹ và doanh nghiệp con.
b. Doanh nghiệp và người hoặc nhóm người có khả năng chi phối
việc ra quyết định, hoạt động của doanh nghiệp đó thông qua các cơ quan
quản lý doanh nghiệp.
c. Doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp.
d. Nhóm người thỏa thuận cùng phối hợp để thâu tóm phần vốn góp,
cổ phần hoặc lợi ích ở Công ty hoặc để chi phối việc ra quyết định của
Công ty.
e. Vợ, chồng, bố, bố nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh chị em
ruột của người quản lý doanh nghiệp, thành viên Công ty, cổ dodong có cổ
phần chi phối.
Cổ phần hóa doanh nghiệp là việc chuyển đổi hình thức sở hữu từ
doanh nghiệp quốc doanh sang hình thức Công ty cổ phần, tài sản công ty
được chia thành những phần gọi là cổ phần trên đó ghi giá trị cổ phiếu, lãi
suất và được bán cho cán bộ Công ty và dân chúng. Những người này gọi
là cổ đông.
g. Thị trường chứng khoán theo từ điển thuật ngữ kinh doanh của
Anh xuất bản năm 1985 định nghĩa: "Thị trường chứng khoán, một thị
trường có tổ chức, là nơi các chứng khoán được mua bán theo những quy
tắc đã được ấn định". Định nghĩa này đã được đưa ra thuật ngữ chứng
khoán (securities) mà cổ phiếu (stocks) và trái phiếu (bonds) cũng chính là
hai dạng của chứng khoán.
II - THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CỔ PHÀN HÓA
DOANH NGHIỆP Ở NƯỚC HIỆN NAY
5


Tiểu luận môn
Kinh tế chính trị

Ở nước ta, vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước được đặt ra
từ năm 1991, xuất phát từ tình hình kinh tế thế giới và đặc biệt là tình hình
thực tế của nền kinh tế Việt Nam, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đóng
vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước diễn ra với
tốc độ chậm, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan gây ra.
Ở đây, trước hết chúng ta cần phải khẳng định rằng, cổ phần hóa
doanh nghiệp Nhà nước là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước
nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả hơn và phù
hợp với quá trình đổi mới và mở cửa, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Hiện nay với khoảng 5.740 doanh nghiệp Nhà nước,
nắm giữ 58% tổng số vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nhưng
hiệu quả kinh doanh còn thấp. Chỉ khoảng 50% DNNN làm ăn có lãi trong
đó thực sự làm ăn có lãi chỉ chiếm một tỷ lệ thấp chưa đến 30%.
Trên danh nghĩa, doanh nghiệp Nhà nước nộp tới 70 - 80% tổng
doanh thu ngân sách Nhà nước, nhưng nếu trừ khấu hao tài sản cố định và
thuế gián thu thì doanh nghiệp Nhà nước chỉ đóng góp khoảng 30% tổng
doanh thu cho ngân sahs Nhà nước. Đặc biệt, nếu tính đủ chi phí về tài sản
cố định, đất đai theo giá thị trường thì doanh nghiệp Nhà nước hoàn toàn
không tạo ra được tích lũy. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình
trạng này là tài sản cổ định, đặc biệt là máy móc, thiết bị quá cũ, lạc hậu về
kỹ thuật so với thế giới từ hai đến 3 thế hệ. Hiện có đến 54% doanh nghiệp
Nhà nước Trung Ương và 74 doanh nghiệp Nhà nước địa phương còn sản
xuất bằng công nghệ thủ công. Quy mô doanh nghiệp Nhà nước còn bé
nhỏ, vốn ít. Thực tế vốn hoạt động chỉ bằng 80% vốn ghi trong danh sách,
riêng vốn lưu động chỉ có 50% được huy động vào sản xuất kinh doanh,
còn lại là công nợ khó đòi -tài sản, vật tư, hàng hóa mất mát, kém phẩm
chất và thua lỗ chưa được xử lý.

6


Tiểu luận môn
Kinh tế chính trị

Với thực trạng kỹ thuật và tài chính như trên, doanh nghiệp Nhà
nước hầu như không có khả năng đổi mới công nghệ nhằm nâng cao sức
cạnh tranh trên thị trường. Ngân sách Nhà nước cũng không có khả năng
cấp vốn và bao cấp cho các doanh nghiệp Nhà nước như trước đây. Ngân
hàng cho vay cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải có những điều kiện bảo đảm
như tài sản thế chấp, khả năng kinh doanh để tính khả năng thu hồi vốn.
Các doanh nghiệp Nhà nước ở trong cái vòng luẩn quẩn, vốn tiếu nhưng
không có cách nào để huy động.
Bên cạnh đó có một thực trạng là, từ sau khi đổi mới kinh tế chuyển
từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước. Công cuộc đổi mới đã kéo theo hàng loạt những
biến đổi tích cực trong đất nước và đem lại những kết quả ban đầu. Nhờ đa
dạng hóa các hình thức sở hữu và thiết lập một cơ cấu kinh tế hỗn hợp bao
gồm các thành phần kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, cứ thế kinh tế tư
bản tư nhân năng lực sản xuất đã được giải phóng song nhu cầu xây dựng
và phát triển đất nước đòi hỏi ngày càng nhiều vốn nhất là trung và dài hạn.
Nhưng có một thực trạng là lượng vốn tồn đọng của các ngân hàng thương
mại đã lên tới hàng ngàn tỷ đồng trong khi nhu cầu về vốn của các doanh
nghiệp rất lớn. Các ngân hàng muốn giảm lượng vốn dư bằng cách giảm lãi
suất huy động nhưng không thể làm giảm nhu cầu đầu tư để sinh lợi nguồn
vốn của người dân. Vì chưa có thị trường chứng khoán và chưa có chính
sách về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, người dân đành đầu tư trực
tiếp dưới mọi hình thức như mở cửa hàng, xây dựng khách sạn, văn phòng
cho thuê... tạo ra một thời kỳ kinh tế phong trào mới. Ngược lại trong khi
vốn của Ngân hàng dư thừa thì các doanh nghiệp lại thiếu vốn để mở rộng
sản xuất kinh doanh do không đáp ứng được đầy đủ các quy định về cho
vay của Ngân hàng.

7


Tiểu luận môn
Kinh tế chính trị

Hàng năm, nhu cầu vốn để đầu tư phát triển xã hội của Nhà nước ta
là rất lớn. Năm 2000, kế hoạch mà Bộ tài chính đã đặt ra để có thể thực
hiện được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong năm là trên 120
nghìn tỷ đồng thì khoảng trên 40% số vốn đầu tư nói trên là của Nhà nước.
Phần còn lại thì lấy ở đâu? Chính là phần đầu tư của mọi thành phần kinh
tế, các tổ chức xã hội và dân cư. Nếu không có những pháp luật khơi thông
mạnh mẽ (trong đó có việc đẩy nhanh sự phát triển của thị trường chứng
khoán tại Việt Nam) thì việc thu hút 60% số vốn này sẽ rất khó được như
mong muốn.
Hiện nay, việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước được coi là một
giải pháp lớn để khắc phục các khó khăn nói trên, nhằm tạo ra môi trường
huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp Nhà nước đầu tư chiều sâu đổi mới
công nghệ và sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường trong nước và quốc tế tạo ra sức bất mới trong sản xuất kinh doanh.
Tính đến hết năm 2002 cả nước đã có hơn 120 DNNN thực hiện cổ
phần hóa. Báo cáo hoạt động của 50 doanh nghiệp đã cổ phần hóa trên 1
năm cho thấy hầu hết đều biến chuyển tích cực. Doanh thu bình quân hàng
năm tăng trên 25% số lượng lao động bình quân hàng năm tăng 10% thu
nhập người lao động bình quân hàng năm tăng 20% (chưa kể thu nhập cổ
tức); lợi nhuận bình quân hàng năm tăng trên 25%. Các khoản nộp ngân
sách tăng bình quân trên 30% năm. Vốn điều lệ (bao gồm tích lũy từ lợi
nhuận phát hành cổ phiếu, tăng bình quân 25% năm. Lãi cổ tức đạt cao hơn
lãi tiết kiệm bình quân 2,5%/ tháng.
Tuy nhiên nếu xét về góc độ là hàng hóa cung cấp cho thị trường
giao dịch chứng khoán thì số lượng các doanh nghiệp cổ phần hóa có thể
đủ tiêu chuẩn niêm yết cổ phiếu chưa nhiều, do một hạn chế sau: hầu hết

8


Tiểu luận môn
Kinh tế chính trị

các doanh nghiệp cổ phần hóa là các doanh nghiệp nhỏ, vốn điều lệ thấp
(xấp xỉ 6 tỷ/ doanh nghiệp).
Mặc dù số lượng các doanh nghiệp cổ phần hóa trong những năm
gần đây tăng lên nhanh chóng nhưng so với mục tiêu đã đề ra và so với số
lượng DNNN không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn thì tiến trình
cổ phần hóa vẫn còn quá chậm. Điều này chủ yếu do các nguyên nhân sau:
+ Do cơ chế chính sách cổ phần hóa chậm được ban hành và thiếu
đồng bộ, thiếu tính cụ thể, quy trình xác định giá trị doanh nghiệp còn quá
nhiều phức tạp, nhiều mặt chưa phù hợp với cơ chế thị trường.
+ Trước yêu cầu đổi mới, các doanh nghiệp còn nhiều bối rối lúng
túng.
+ Một số cán bộ, địa phương, tổng Công ty Nhà nước chưa nhận
thức đầy đủ ý nghĩa chủ trương cổ phần hóa của Nhà nước. Do đó thiếu chủ
động và chưa kiên quyết tổ chức triển khai.
+ Do công tác tuyên truyền giáo dục về cổ phần hóa từ trong bộ máy
Nhà nước từ Trung Ương xuống địa phương chưa được đẩy mạnh và chưa
được triển khai hiệu quả từ đó dẫn tới việc coi nhẹ và chưa nhìn nhận hết
vai trò của cổ phần hóa.
+ Do môi trường kinh tế chưa thật sự bình đẳng, chưa tạo được mặt
bằng thống nhất và cơ chế chính sách cho các thành phần kinh tế cùng
cạnh tranh phát triển, cơ chế tài chính cho các doanh nghiệp quốc doanh
chưa có, công ty cổ phần chưa có.
+ Việc thực hiện các quy định công khai tài chính của các doanh
nghiệp chưa thành nề nếp thường xuyên. Các thông tin về tài chính về cổ
phần hóa chỉ được phổ biến trong nội bộ doanh nghiệp và cơ quan liên
quan, chưa được phổ biến rộng rãi ra bên ngoài. Đây là trở ngại chính làm

9


Tiểu luận môn
Kinh tế chính trị

cho công tác cổ phần hóa chưa được sự hưởng ứng tham gia đông đảo của
công chúng đầu tư bên ngoài doanh nghiệp cổ phần hóa. Mặt khác, việc
bàn cổ phiếu hiện do chính doanh nghiệp cổ phần hóa thực hiện nên còn
thiếu tính minh bạch khách quan.
+ Nhưng đặc biệt quan trọng là các chế độ chính sách ưu đãi, khuyến
khích chưa thực sự là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia cổ phần
hóa. Nhiều doanh nghiệp còn tỏ ra rất e dè với chủ trương này của Đảng và
Nhà nước, chưa có sự nhận thức đầy đủ và tỏ ra chưa sẵn sàng để thực hiện
công tác cổ phần hóa.

III - GIẢI PHÁP CHO VIỆC PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC
CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM

Để thúc đẩy quá trình cổ phần hóa, nâng cao chất lượng doanh
nghiệp cổ phần hóa góp phần hỗ trợ và qua đó thúc đẩy sự phát triển của thị
trường chứng khoán Việt Nam cần có những giải pháp cụ thể sau:
- Thủ tướng Chính phủ tiếp tục giao chỉ tiêu cổ phần hóa cho các địa
phương, trong kế hoạch và danh mục các doanh nghiệp cổ phần hóa của
từng địa phương phải đồng thời xác định các doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn ra
niêm yết trên thị trường chứng khoán, từ đó gắn quá trình cổ phần hóa với
việc phát hành chứng khoán ra niêm yết.
- Đào tạo nâng cao kỹ năng chuyên môn thực hiện cổ phần hóa của
các cán bộ Nhà nước làm lãnh đạo doanh nghiệp.

10


Tiểu luận môn
Kinh tế chính trị

- Tiếp tục cải tiến quy trình cổ phần hóa thu hướng đơn giản và dễ
thực hiện.
- Một giải pháp nữa nhằm thúc đẩy quá trình cổ phần hóa đó là việc
cho vay để mua cổ phần nhằm tăng tỷ lệ mua cổ phiếu của người lao động
trong Công ty, đồng thời giải tỏa tâm lý ngán ngại của người lao động khi
không có đủ tiền mua cổ phần khi các Công ty rao bán. Ngay từ đầu năm
2000, nhiều Ngân hàng đã lên kế hoạch cho lao động ở một số Công ty
đang điều hành cổ phần hóa vay vốn mua cổ phiếu. Điển hình nhất là ngân
hàng Sài Gòn Thương Hà đã duyệt cho hơn 200 công nhân của Công ty
đường La Ngà vay 22 tỷ đồng để mua cổ phần với phương thức công nhân
dùng thu nhập hàng tháng để trả nợ vay và được trả góp trong vòng ba
tháng.
- Tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp quy, hoàn thiện một hành lang
pháp lý thông thoáng cho các doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh
doanh đưa ra các văn bản hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện công tác
cổ phần hóa doanh nghiệp một cách hiệu quả, đẩy mạnh công tác tuyên
truyền đối với đội ngũ các vị lãnh đạo các doanh nghiệp làm cho họ thấy
được cái đúng đắn của các chính sách về cổ phần hóa của Đảng và Nhà
nước.
Đẩy mạnh và tuyên truyền tính thời sự của công tác cổ phần hóa
doanh nghiệp cho các chủ doanh nghiệp và tuyên truyền tới các cán bộ
công nhân viên của Công ty để họ tham gia mua cổ phần của Công ty nhằm
làm cho họ nâng cao thêm ý thức của họ về tình hình làm ăn của Công ty
(kết quả của Công ty sau khi cổ phần hóa ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi
của chính họ).
Ngoài ra các ngân hàng có thể dùng quỹ xóa đói giảm nghèo cho các
hệ nghèo vay vốn để mua cổ phần của Công ty.
11


Tiểu luận môn
Kinh tế chính trị

Tuy nhiên việc vay vốn để mua cổ phần hiện nay đang còn được
tranh luận về tính rủi ro cao trong việc đầu tư chứng khoán. Tuy là một
biện pháp đẩy nhanh quá trình bán cổ phần làm cho việc cổ phần hóa diễn
ra thuận lợi hơn, nhưng có một số ý kiến cho rằng việc cho vay để mua cổ
phiếu là rất mạo hiểm rủi ro, nhưng có thể nói rằng nếu giải tỏa được tâm
lý e ngại này thì chắc chắn ý tưởng cho vay vốn để mua chứng khoán sẽ là
một động lực để thúc đẩy quá trình cổ phần hóa.
Cổ phần hóa doanh nghiệp là một giải pháp quan trọng, là một tất
yếu kinh tế của nền kinh tế thị trường. Nếu khắc hục được những hạn chế
còn tồn tại và đề ra những giải pháp đúng đắn thì sẽ đẩy mạnh sự phát triển
của công tác cổ phần hóa và thông qua đó phát triển thị trường chứng
khoán và ngược lại.

12


Tiểu luận môn
Kinh tế chính trị

KẾT LUẬN

Việc chuyển đổi nền kinh tế nước ta từ kinh tế kế hoạch hóa tập
trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa là một quyết định đúng đắn của Đảng và Nhà nước.
Trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, việc cho ra đời thị trường
chứng khoán là tất yếu phát triển của nền kinh tế thị trường, tạo rạ linh hoạt
về vốn cho các doanh nghiệp khi cần mở rộng sản xuất, huy động mọi
nguồn lực của xã hội vào công tác phát triển kinh tế đất nước.
Tuy nhiên, việc phát triển này mặc dù là một bước tiến cho một nền
kinh tế nhưng song song với nó là một sự rủi ro vô cùng to lớn nếu chúng
ta không kiểm soát được chúng một cách linh hoạt và hiệu quả sẽ dẫn đến
kết quả tồi tệ như cuộc khủng hoảng kinh tế tại Thái Lan, Inđônêxia năm
1997 hay mới đây là cuộc khủng hoảng kinh tế của Argentina. Để thị
trường chứng khoán phát triển ổn định và có thể kiểm soát được tình hình
trng những tình huống xấu thì Nhà nước cần đóng một vai trò tích cực
trong việc kiểm soát thông qua những chính sách đúng đắn.

13


Tiểu luận môn
Kinh tế chính trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật Doanh nghiệp Việt Nam (chương IV - Công ty cổ phần)
2. Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước - Nhà Xuất Bản Chính trị
Quốc gia.
3. Thời báo Kinh tế - Sài Gòn.
4. Giáo trình Luật kinh doanh trường Đại học Quản lý và Kinh doanh
Hà Nội.
5. Một số tài liệu và tạp chí khác

14


Tiểu luận môn
Kinh tế chính trị

MỤC LỤC

Lời nói đầu..........................................................................................1
Nội dung .............................................................................................2
I - Một số khái niệm chung................................................................2
II - Quá trình cổ phần hóa tại Việt Nam hiện nay..............................4
III - Giải pháp cho việc phát triển công tác cổ phần hóa doanh
nghiệp Nhà nước tại Việt Nam......................................................................9
Kết luận ............................................................................................11
Tài liệu tham khảo.............................................................................12

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×