Tải bản đầy đủ

Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện phù ninh, tỉnh phú thọ giai đoạn 2012 2016

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ PHƯƠNG HIỀN

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ
DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
GIAI ĐOẠN 2012 – 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

THÁI NGUYÊN – 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ PHƯƠNG HIỀN

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ

DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
GIAI ĐOẠN 2012 – 2016
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Nông

THÁI NGUYÊN – 2017


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích trong luận văn đều đã
được ghi rõ nguồn gốc./.
Tác giả luận văn

Đỗ Phương Hiền


ii

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại Phòng Tài nguyên môi trường
huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình. Để
có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ
chu đáo, tận tình của nhà trường. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu Trường Đại hoc Nông lâm Thái Nguyên và các phòng chức
năng cùng toàn thể thầy giáo, cô giáo đã tận tụy dạy dỗ tôi trong suốt thời gian học
tập cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn
Ngọc Nông đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn
thành luận văn này.
Trong thời gian nghiên cứu, vì nhiều lý do chủ quan và khách quan cũng như
hạn chế về mặt thời gian cho nên nội dung của luận văn không tránh khỏi sai sót.


Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy, cô giáo để đề tài này được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 03 tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn

Đỗ Phương Hiền


1

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ...............................................................................2
3. Y nghĩa khoa học của đề tài ....................................................................................2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .....................................................................3
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý đất đai của các tổ chức .................................................3
1.1.1. Khái quát về đất đai...........................................................................................3
1.1.2. Quản lý đất đai đối với các tổ chức...................................................................4
1.1.3. Cơ sở pháp lý của công tác giao đất, cho thuê đất ............................................7
1.2. Cơ sở thực tiễn về tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức ....................20
1.2.1. Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức tại Việt Nam ........................20
1.2.2. Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức tại tỉnh Phú Thọ ...................23
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...........................27
2.1. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................27
2.2. Phạm vi nghiên cứu............................................................................................27
2.2.1. Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ tháng 4/2016 đến
tháng 9/2017. .............................................................................................................27
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu: Trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. ..............27
2.2.3. Nội dung nghiên cứu .......................................................................................27
2.3. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................27
2.3.1. Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu có liên quan đến đề tài
nghiên cứu .................................................................................................................27
2.3.2. Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập thông tin, tài liêu, số liệu ...............27
2.3.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý tài liệu, số liệu............................29
2.3.4. Phương pháp so sánh.......................................................................................29
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................30
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ......................................................................30
3.1.1. Điều kiện tự nhiên. ..........................................................................................30


3.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội của huyện Phù Ninh................................................34
3.2. Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Phù Ninh .......36
3.2.1. Tình hình quản lý Nhà nước về đất đai ...........................................................36
3.2.2. Hiện trạng sử dụng đất đai năm 2016 .............................................................42
3.3. Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Phù
Ninh giai đoạn 2012 - 2016.......................................................................................44
3.3.1. Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức theo mục đích sử dụng đất ...............44
3.3.2. Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện
Phù Ninh....................................................................................................................58
3.3.3. Kết quả xử lý các tổ chức sử dụng đất không đúng mục đích trên địa bàn
huyện Phù Ninh
.........................................................................................................76
3.3.4. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế ..................................78
3.4. Đánh giá chung tình hình sử dụng đất của các tổ chức......................................78
3.5. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các
tổ chức trên địa bàn huyện Phù Ninh ........................................................................80
3.5.1. Giải pháp về chính sách pháp luật ..................................................................80
3.5.2. Giải pháp về kinh tế ........................................................................................81
3.5.3. Các giải pháp khác ..........................................................................................82
KẾT LUẬN VÀ ĐÊ NGHỊ .......................................................................................84
1. Kết luận .................................................................................................................84
2. Đề nghị ..................................................................................................................85
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................86
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất của huyện Phù Ninh ............................................42
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức theo mục đích sử dụng đất trên
địa bàn huyện năm 2016 ...........................................................................................57
Bảng 3.3. Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức theo loại hình sử dụng ...............59
Bảng 3.4: Tình hình giao đất của các tổ chức ...........................................................60
Bảng 3.5: Tình hình giao đất sản xuất kinh doanh của một số tổ chức ....................61
trên địa bàn huyện Phù Ninh giai đoạn 2012 - 2016.................................................61
Bảng 3.6: Tình hình giao đất xây dựng cơ sở hạ tầng của một số tổ chức trên địa
bàn huyện Phù Ninh giai đoạn 2012 - 2016 ..............................................................62
Bảng 3.7: Tình hình thuê đất của các tổ chức ...........................................................63
Bảng 3.8: Tình hình công nhận quyền sử dụng đất của các tổ chức.........................64
Bảng 3.9: Tình hình sử dụng đất theo hình thức khác của các tổ chức ....................65
Bảng 3.10. Tổng hợp tình hình sử dụng đất đúng mục đích của các tổ chức ...........66
Bảng 3.11. Tình hình sử dụng đất không đúng mục đích của các tổ chức ...............68
Bảng 3.12. Tình hình tranh chấp, lấn chiếm và bị lấn chiếm DT của các TC ..........69
Bảng 3.13. Tình hình cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng trái phép diện tích đất
được giao, được thuê của các tổ chức .......................................................................71
Bảng 3.14. Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức .............................72
Bảng 3.15. Những nguyên nhân chính dẫn đến việc sử dụng đất không đúng mục
đích của các loại hình tổ chức được giao, thuê đất ...................................................73
Bảng 3.16. Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ................................75
Bảng 3.17. Tình hình thu hồi đất của các tổ chức.....................................................77
Bảng 3.18. Hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn ................................78


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Cơ cấu các loại đất chính huyện Phù Ninh năm 2016 ..............................42
Hình 3.2: Cơ cấu các loại đất nông nghiệp huyện Phù Ninh năm 2016 ...................43


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay Việt Nam vai trò đại diện chủ sở hữu về đất đai của Nhà nước
không những thể hiện qua sự quản lý, khai thác, sử dụng đất đai với tư cách là tư
liệu sản xuất mà còn thể hiện qua việc khai thác, sử dụng các nguồn lực tài chính
quan trọng từ đất đai phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước. Nhờ có
chính sách đổi mới mà đời sống người dân ngày càng cải thiện, kinh tế đất nước
ngày càng phát triển. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó thì vấn đề đặt ra
với cơ quan quản lý đất đai là làm thế nào để đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất
ngày càng gia tăng của các thành phần kinh tế, trên tổng quỹ đất nhất định của đất
nước. Đây là vấn đề được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, chú trọng giải
quyết. Sự quan tâm đó được thể hiện qua Luật Đất đai năm 2013 và hàng loạt các
văn bản của Chính phủ và các Bộ, Ngành có liên quan với mục đích là quản lý, sử
dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững tài nguyên đất.
Tổng diện tích đất các tổ chức đang quản lý, sử dụng ở nước ta hiện nay xấp
xỉ 3.700.000 ha, chiếm tới 11,16% diện tích tự nhiên của cả nước. Nhưng nhìn
chung diện tích được quản lý và sử dụng chưa chặt chẽ, hiệu quả thấp, xảy ra nhiều
tiêu cực, như sử dụng không đúng diện tích, sử dụng không đúng mục đích, bị lấn
chiếm, chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn trái phép...
Huyện Phù Ninh là huyện miềm núi của tỉnh Phú Thọ có 19 đơn vị hành
chính, diện tích tự nhiên là 15.736,97 ha, huyện nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Phú
Thọ, phía Bắc giáp huyện Đoan Hùng, phía Nam giáp thành phố Việt Trì và
huyện Phù Ninh, phía Tây giáp thị xã Phú Thọ và huyệnThanh Ba, phía Đông có
tuyến sông Lô bao bọc là ranh giới với huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Có 4km
quốc lộ 2 đi qua huyện Phù Ninh, có đường Cao tốc Hà Nội - Lào Cai chạy qua.
Với lợi thế đó, huyện Phù Ninh đang thu hút nhiều tổ chức, doanh nghiệp vào đầu
tư kinh doanh góp phần quan trọng vào tăng ngân sách cho huyện, tuy nhiên vấn đề
cần đặt ra ở đây là với quỹ đất đai hiện có huyện Phù Ninh cần phải có kế hoạch
quản lý, sử dụng sao cho hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm để không lãng phí nguồn
tài


nguyên đất đai của địa phương.
Xuất phát từ thực tiễn trên, việc đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của
các tổ chức là việc làm có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng cường vai trò quản lý
Nhà nước đối với nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng là đất đai nói chung và đối
với diện tích mà các tổ chức huyện Phù Ninh đang quản lý sử dụng nói riêng. Từ đó
kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao việc sử dụng đất, tránh việc để lãng
phí là việc làm bức thiết.
Đánh giá cao tầm quan trọng đó, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh
giá tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Phù Ninh,
tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2012-2016" với mong muốn đưa ra những giải pháp thiết
thực và tích cực nhằm tăng cường vai trò quản lý đất đai của Nhà nước - đại diện
chủ sở hữu đối với đất đai ở nước ta.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng sử dụng đất của
huyện Phù Ninh.
- Đánh giá tình hình sử dụng đất của các tổ chức được giao đất, thuê đất trên
địa bàn huyện Phù Ninh giai đoạn 2012 – 2016, xác định các nguyên nhân tồn tại.
- Đề xuất các giải pháp phù hợp với đặc điểm của địa phương nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các tổ chức sử dụng đất trên địa bàn huyện Phù
Ninh.
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài nghiên cứu là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết
thực, luận văn được nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng quản lý sử dụng đất của
các tổ chức đồng thời đưa ra một số giải pháp giúp cho việc sử dụng đất có hiệu quả
cao nhất góp phần phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện cuộc sống.


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý đất đai của các tổ chức
1.1.1. Khái quát về đất đai
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn để phân bố dân
cư, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1992 tại Chương II Điều 18 quy định [20] "Nhà nước thống
nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng
mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn
định lâu dài".
Công tác quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên đất đúng mục đích, hợp lý, có
hiệu quả, bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái sẽ phát huy tối đa nguồn lực của
đất đai, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tại điều 3 của Luật Đất đai năm 2013 [24], một số khái niệm liên quan đến
các tổ chức quản lý, sử dụng đất được hiểu như sau:
Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là
việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối
tượng có nhu cầu sử dụng đất.
Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước cho thuê
đất) là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu
sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất.
Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử
dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định mà không có nguồn gốc được Nhà
nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với thửa đất xác định.
Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người
này sang người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế,
tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất.


1.1.2. Quản lý đất đai đối với các tổ chức
1.1.2.1. Khái niệm và phân loại các tổ chức sử dụng đất
Tổ chức sử dụng đất, quản lý đất (còn gọi là đối tượng sử dụng, quản lý đất)
là tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng hoặc được Nhà nước
công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang sử dụng, được Nhà nước giao đất để
quản lý, quy định trong Luật này bao gồm các tổ chức sau [24]:
- Các tổ chức trong nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức sự
nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính
phủ (sau đây gọi chung là tổ chức) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công
nhận quyền sử dụng đất; tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất;
- Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại
giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại
giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên
hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên
chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất;
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư
được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất.
- Tổ chức sự nghiệp công là tổ chức do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập, có chức năng thực hiện
các hoạt động dịch vụ công do ngân sách nhà nước chi trả.
Theo Thông tư số 08/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây
dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất thì loại hình tổ chức được phân thành:
- Cơ quan, đơn vị của Nhà nước là các tổ chức trong nước sử dụng đất bao
gồm: cơ quan của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (trừ các cơ
quan cấp xã); tổ chức sự nghiệp công; đơn vị quốc phòng, an ninh.
- Tổ chức kinh tế là tổ chức trong nước (kể cả trường hợp người Việt Nam
định cư ở nước ngoài lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê


đất trả tiền thuê đất hàng năm) được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp
tác xã sử dụng đất vào mục đích sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp,
dịch vụ.
- Uỷ ban nhân dân cấp xã là người sử dụng đất được Nhà nước giao đất sử
dụng vào các mục đích: đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích công ích; đất làm
trụ sở Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội của cấp xã; đất được Nhà nước giao cho Uỷ ban nhân dân cấp xã xây dựng các
công trình công cộng về văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục - thể thao, vui chơi giải trí,
chợ, nghĩa trang, nghĩa địa và các công trình công cộng khác của địa phương.
Đối với các công trình công cộng do các tổ chức được công nhận là pháp
nhân hoặc do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng thì không thống kê vào đối tượng
Uỷ ban nhân dân cấp xã sử dụng.
- Tổ chức khác là các tổ chức trong nước sử dụng đất bao gồm: Tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức và các tổ chức khác không phải là cơ
quan, đơn vị của Nhà nước, không phải là tổ chức kinh tế.
- Tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài là nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ
chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất; bao gồm
doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, tổ chức nước ngoài
có chức năng ngoại giao.
1.1.2.2. Ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác giao đất, cho thuê đất đối với các tổ
chức
Đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt và có hạn, mọi hoạt động của con người
đều trực tiếp hoặc gián tiếp gắn bó với đất đai. Tổng diện tích tự nhiên của một
phạm vi lãnh thổ nhất định là không đổi. Nhưng khi sản xuất phát triển, dân số
tăng, quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh thì nhu cầu của con người đối với
đất đai cũng ngày càng gia tăng. Có nghĩa cung là cố định, cầu thì luôn có xu hướng
tăng. Điều này dẫn đến những mâu thuẫn gay gắt giữa những người sử dụng đất và
giữa các mục đích sử dụng đất khác nhau. Vì vậy để sử dụng đất có hiệu quả và
bền vững, quản lý đất đai được đặt ra như một nhu cầu cấp bách và cần thiết. Quản
lý đất đai đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất trong cả nước. Việc quản lý
nhằm kết hợp hiệu quả giữa sở hữu và sử dụng đất trong điều kiện hệ thống pháp


luật nước ta quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở
hữu và Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai. Mặt khác, quản lý đất đai còn có
vai trò quan trọng trong hướng tới mục tiêu phát triển. Công tác quản lý đất đai dựa
trên nguyên tắc quan trọng nhất là sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững. Do đó
quản lý, sử dụng đất đai là một trong những hoạt động quan trọng nhất của công tác
quản lý hành chính Nhà nước nói chung và quản lý, sử dụng đất của các tổ chức nói
riêng.
Công tác giao đất, cho thuê đất là một trong những công cụ quan trọng trong
quản lý nhà nước về đất đai, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư và
phát huy nguồn lực của đất đai trong phát triển của đất nước.
Theo kết quả thống kê diện tích đất hàng năm của Bộ Tài nguyên và Môi
trường tính đến hết ngày 01/01/2015, diện tích đất tự nhiên của nước ta là
33.096.731 ha, tổng diện tích đất Nhà nước đã giao, cho thuê và công nhận quyền
sử dụng đất cho các đối tượng sử dụng là 25.502.613 ha, chiếm 77,05% tổng diện
tích tự nhiên của cả nước. Trong đó diện tích đất theo đối tượng sử dụng thì các tổ
chức trong nước; tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài sử dụng là 10.233.569 ha
chiếm 40,13 % tổng diện tích đất đã giao, cho thuê [1] .
Việc giao đất, cho thuê đất, không chỉ phát huy được nguồn lực của đất đai,
làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, sử dụng đất đai tiết kiệm, hiệu quả,
mà nó còn thể hiện sự công bằng, chính sách ưu việt của Nhà nước đối với các chủ
thể sử dụng đất. Đồng thời chính sách giao đất, cho thuê và thu hồi đất đã và đang
tạo lập được hành lang pháp lý cơ bản để kêu gọi đầu tư, thu hút đầu tư trong nước
và nước ngoài, đã tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế, phát triển các khu công
nghiệp, khu đô thị, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Thông qua việc quản lý của Nhà nước sẽ giúp cho các đối tượng được giao
đất, thuê đất yên tâm đầu tư sản xuất và sử dụng đất đai được hiệu quả hơn. Ngoài
ra, từ việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức, hộ gia đình và cá
nhân sẽ là cơ sở để tiến tới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về phía Nhà
nước, giao đất, cho thuê đất cùng với cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giúp
cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý được quỹ đất tiết kiệm và đạt


hiệu quả cao. Đối với người sử dụng đất thì họ sẽ được Nhà nước bảo vệ khi có
những xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp trong việc sử dụng đất của mình,
cùng với đó sẽ được Nhà nước tạo điều kiện trong việc nâng cao kiến thức về sản
xuất, kinh doanh, cải tạo và bồi dưỡng đất đai. Tuy nhiên, khi nhận thấy việc sử
dụng đất của các đối tượng không đem lại hiệu quả cao, lãng phí, thất thoát đất đai
thì Nhà nước có quyền thu hồi đất đang sử dụng đó.
Khi Nhà nước có quyết định giao đất, cho thuê đất, người sử dụng đất được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các quyền và lợi ích hợp pháp của người
sử dụng đất được bảo đảm, đi đôi với quyền lợi thì người sử dụng

đất cũng cần

phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước.
Người sử dụng đất hoàn thành nghĩa vụ sử dụng đất là họ đã góp phần vào
việc quản lý sử dụng đất cũng như việc duy trì bộ máy quản lý Nhà nước về đất đai.
1.1.3. Cơ sở pháp lý của công tác giao đất, cho thuê đất
Cơ sở pháp lý của công tác giao đất, cho thuê đất của các tổ chức qua các
Luật đất đai.
Đất đai là nguồn tài nguyên, tài sản quan trọng của quốc gia, là tư liệu sản
xuất đặc biệt, là điều kiện cần cho mọi hoạt động sản xuất.
Năm 1987, Luật Đất đai ra đời, đánh dấu một cột mốc quan trọng của hệ
thống pháp luật về đất đai. Luật Đất đai đầu tiên của chúng ta quy định “Đất đai
thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước giao đất cho các
nông trường, lâm trường, xí nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ
chức xã hội và cá nhân để sử dụng ổn định, lâu dài” [22]. Nhưng trong thực tế thực
hiện, Luật Đất đai năm 1987 đã bộc lộ quá nhiều hạn chế, nên đã không kích thích
được năng lực sản xuất cho nền kinh tế.
Luật Đất đai năm 1993 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và nguyên
tắc giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân. Đồng thời,
giao quyền sử dụng đất và kèm theo các quyền khác như: quyền chuyển đổi, quyền
thừa kế, quyền thế chấp, quyền cho thuê, quyền chuyển nhượng nhằm tăng cường
tính tự chủ và lợi ích kinh tế được đảm bảo về mặt pháp lý cho những người sử
dụng đất. Một số nội dung chính liên quan đến giao đất, cho thuê đất như quy định


Nhà nước cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất; Nhà nước cho tổ chức, cá nhân
nước ngoài thuê đất; Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền
sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất... pháp luật thừa nhận đất có giá
và xác định giá đất để quản lý, từ đó, Nhà nước không chỉ quản lý đất đai theo diện
tích, loại, hạng đất mà còn quản lý theo giá trị đất (giao đất có thu tiền sử dụng).
Tiếp tục đổi mới chính sách về pháp luật đất đai thì Luật Đất đai năm 2003
được ban hành có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004, vẫn khẳng định đất đai
thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Các
đối tượng giao đất, cho thuê đất cũng được mở rộng và quy định cụ thể về hình
thức cho thuê đất như sau: tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài được lựa chọn
giữa thuê đất trả tiền một lần và trả tiền hàng năm. Chính sách giao đất không thu
tiền sử dụng đất phần lớn diện tích đất giao tập trung vào hai đối tượng sau: các tổ
chức được giao đất nông nghiệp nghiên cứu thí nghiệm, thực nghiệm nông nghiệp,
lâm nghiệp và đất chuyên dùng giao cho các tổ chức xây dựng trụ sở cơ quan công
trình sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các mục đích công cộng không có mục tiêu
lợi nhuận. Luật Đất đai năm 2003 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành Luật tạo
thành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá hoàn chỉnh, thể hiện những
quan điểm đổi mới của Đảng phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Luật và các văn bản
dưới Luật đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần đáng kể vào phát triển kinh
tế, ổn định chính trị, xã hội. Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2003 vẫn còn những hạn
chế, bất cập ví như: tình trạng đất được giao, cho thuê sử dụng không đúng mục
đích, vi phạm pháp luật, găm giữ đất, chậm đưa vào sử dụng hoặc chuyển nhượng
dự án còn xảy ra ở nhiều địa phương dẫn đến lãng phí đất đai và gây bất bình trong
dư luận. Nhiều địa phương còn thiếu cân nhắc trong việc chuyển mục đích sử dụng
đất chuyên trồng lúa nước, đất lâm nghiệp có rừng, giao đất, cho thuê đất tại các
khu vực nhạy cảm, vùng biên giới. Còn tình trạng nhiều tổ chức được Nhà nước
giao đất không thu tiền nhưng sử dụng lãng phí, thiếu trách nhiệm trong quản lý để
xảy ra nhiều sai phạm [27].
Nhằm khắc phục những bất cập trên, đồng thời thể chế hóa các quan điểm


đổi mới của Đảng phát huy nguồn lực đất đai cho phát triển nhanh kinh tế - xã hội
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kể từ ngày 01/7/2014, Luật Đất
đai năm 2013 có hiệu lực thi hành và tiếp tục khẳng định quan điểm đất đai thuộc sở
hữu toàn dân, do Nhà nước là người đại diện và thống nhất quản lý. Nguyên tắc đất
đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý
được ghi nhận tại Điều 53, 54 Hiến pháp 2013; Điều 4 Luật Đất đai năm 2013.
Luật Đất đai năm 2013 đã có nhiều đổi mới trong công tác giao đất, cho thuê
đất. Một trong những điểm mới đáng chú ý là thu hẹp các trường hợp được Nhà
nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không thu tiền sử dụng đất và cơ bản
chuyển sang thuê đất nhằm sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả. Trong đó đổi mới cụ thể
về công tác giao đất, cho thuê đất ở một số nội dung sau:
- Mở rộng quyền sử dụng đất cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài
+ Luật Đất đai mới đã thiết lập sự bình đẳng hơn trong việc tiếp cận đất đai
giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đảm bảo yêu cầu hội nhập và
phù hợp với các cam kết của Việt Nam với quốc tế.
+ Nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đều đư ợc áp dụng hình thức giao đất
có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho
thuê; các trường hợp còn lại được áp dụng hình thức thuê đất trả tiền hàng năm hoặc
thuê đất trả tiền một lần việc thu hồi đất cho cả thời gian thuê.
+ Quyền cho doanh nghiêp có vốn đầu tư nước ngoài và người Việt Nam
định cư ở nước ngoài được nhận chuyển nhượng vốn đầu tư là giá trị quyền sử dụng
đất cũng được mở rộng.
+ Đối với người Việt Nam điṇh cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu
nhà ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, ngoài việc đươc nhận
chuyển quyền sử dụng đất ở thông qua hình thức mua, thuê mua, nhận thừa kế, nhận
tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở theo quy định hiện hành, thì còn
được nhận quyền sử dụng đất ở trong các dự án phát triển nhà ở.
- Chế tài mới ngăn ngừa dự án chậm triển khai
+ Luật Đất đai năm 2013 cũng bổ sung chế tài xử lý theo hướng chủ đầu tư
được tiếp tục được gia hạn thêm 24 tháng và trong thời gian này chủ đầu tư phải


nộp thêm một khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong
thời gian này; sau 24 tháng được chậm tiến độ, nếu vẫn chưa đưa đất vào sử dụng
thì Nhà nước sẽ thu hồi đất và không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất,
trừ trường hợp do bất khả kháng.
+ Đồng thời, Luật cũng đưa ra các quy định để ngăn ngừa phát sinh mới các
trường hợp dự án chậm triển khai, để lãng phí đất đai như: quy định việc giao thu
hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất phải căn cứ vào kế
hoạch sử dụng đất hàng năm để đảm bảo phù hợp với khả năng đầu tư và huy động
nguồn lực của địa phương;
+ Quy định nhiều điều kiện để được giao đất cho thuê đất, như chủ đầu tư
phải có năng lực tài chính để đảm bảo việc sử dụng đất theo tiến độ ghi trong dự án
đầu tư; phải ký quỹ theo quy định của pháp luật về đầu tư; không vi phạm các quy
định của pháp luật đất đai đối với trường hợp đang sử dụng đất do Nhà nước giao
đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư khác.
- Nâng thời hạn giao đất nông nghiệp trong hạn mức
+ Nhằm tạo động lực cho đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp và nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực, bảo vệ môi trường và phát
triển bền vững, Luật Đất đai mới đã quy định nâng thời hạn giao đất nông nghiệp
trong hạn mức cho hộ gia đình, cá nhân từ 20 năm lên 50 năm thống nhất cho các
loại đất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm và cây lâu năm, đất lâm nghiêp ).
+ Đồng thời, cho phép hộ gia đình, cá nhân tích tụ đất đai với diện tích lớn
hơn không vượt quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp. Khuyến khích tích tụ đất
đai thông qua cơ chế góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, nhận quyền thuê đất
để thuận lợi cho ứng dụng khoa học và công nghệ, cơ giới hóa và phát triển sản xuất
hàng hóa.
+ Bổ sung quy định về điều kiên được giao đất , cho thuê đất để thưc hiện
các dự án có sử dụng đất trồng lúa , đất có rừng phòng hộ, đặc dụng nhằm bảo đảm
an ninh lương thực, bảo vệ môi trường trong điều kiện nước ta được dự báo là một
trong những nước sẽ chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu.
+ Bổ sung quy định điều kiện để được giao đất thực hiện dự án đầu tư taị khu


vực biên giới, ven biển và hải đảo nhằm đảm bảo quốc phòng, an ninh đất nước.
Một số Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003,
2013 và các văn bản dưới luật để hướng dẫn thực hiện cụ thể như sau:
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ
về thi hành Luật Đất đai năm 2003;
- Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ
về thu tiền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2003;
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ
quy định việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày
29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003;
- Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ
về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ
quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
tái định cư;
- Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ
về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền
với đất;
- Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ
về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng
11 năm 2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013;
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về
giá đất;
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về
thu tiền sử dụng đất;
- Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về
thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;


- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
- Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng
đất;
- Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất,
thu hồi đất;
- Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị
định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
- Quyết định số 21/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 của UBND tỉnh Phú
Thọ về việc ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh do
Luật đất đai 2013 và các Nghị định của Chính phủ giao cho về thu hồi đất, giao đất,
cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ;
Những quy định hiện hành của Nhà nước về giao đất, cho thuê đất đối với
các tổ chức.
Hiện nay, các quy định chung của Nhà nước về giao đất, cho thuê đất đối với
các tổ chức sử dụng đất được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật về
giao đất, cho thuê đất, cụ thể là trong Luật Đất đai 2013 và Nghị định số
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của
Luật Đất đai.
Nguyên tắc về giao đất, cho thuê đất
Giao đất, cho thuê đất là một vấn đề quan trọng trong công tác quản lý Nhà
nước về đất đai, không chỉ đảm bảo quyền lợi cho người được thuê đất, giao đất về
mục đích phát triển kinh tế, hạn chế chí phí kinh doanh mà còn

đảm bảo đất đai

được sử dụng hợp lý, có hiệu quả và khoa học phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực
về đất, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Để công
tác quản lý Nhà nước về đất đai được thực hiện tốt thì khi giao đất, cho thuê đất
phải đảm bảo các nguyên tắc sau:


Thứ nhất, giao đất, cho thuê đất phải đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ
trước mắt mà còn lâu dài, là cơ sở pháp lý quan trọng để bố trí sử dụng đất một cách
hợp lý, có hiệu quả, góp phần bảo vệ cảnh quan môi trường, phát triển kinh tế xã
hội của đất nước nói chung cũng như từng vùng, từng địa phương và các đơn vị cơ
sở, đồng thời đáp ứng yêu cầu thống nhất quản lý nhà nước về đất đai.
Thứ hai, việc giao đất, cho thuê đất phải đúng thẩm quyền và đúng đối
tượng. Nguyên tắc này đảm bảo cho việc điều tiết đất đai đúng quy định phát luật,
tạo sự công bằng đối với các đối tượng sử dụng đất.
Thứ ba, giao đất, cho thuê đất phải tuân thủ đúng quy trình, trình tự

thủ

tục, đúng hạn mức, đúng thời hạn và do UBND các cấp có thẩm quyền thực hiện.
Đây là nguyên tắc quan trọng trong quản lý Nhà nước về đất đai.
Về công tác giao đất:
Giao đất là vấn đề bắt đầu được quy định từ Hiến pháp năm 1992. Trước đó,
Hiến pháp 1980 chỉ quy định “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy định
chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm” [19]. Tại điều 18
Chương II Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy
định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật,
bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức
và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài” [20]. Giao đất có ý nghĩa quan trọng trong nội
dung quản lý Nhà nước đối với đất đai, là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền để chuyển giao trên thực tế đất và quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân và cộng đồng dân cư sử dụng đất. Đến nay, theo điều 3 Luật Đất đai
năm 2013 quy định “Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước
giao đất) là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất
cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất” [24].
- Đối tượng giao đất:
Theo điều 54 và điều 55 của Luật Đất đai năm 2013 quy định thì Nhà nước
giao đất cho người sử dụng đất dưới hai hình thức là giao đất không thu tiền sử
dụng đất và giao đất có thu tiền sử dụng đất. Và một trong các đối tượng được giao


đất là các tổ chức gồm: UBND xã, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã
hội, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự
nghiệp công, tổ chức kinh tế và tổ chức ngoại giao.
- Các hình thức giao đất của Việt Nam:
Luật Đất đai lần đầu tiên ra đời năm 1987, quy định Nhà nước giao đất cho
người có nhu cầu và thu hồi đất của người không còn nhu cầu. Cũng theo Luật này
quy định duy nhất chỉ có một hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất và
người sử dụng đất không có các quyền được tham gia thị trường quyền sử dụng đất
[27].
Đến Luật Đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003 và Luật Đất đai

năm

2013 thì Nhà nước mới quy định hai hình thức là giao đất có thu tiền sử dụng đất và
giao đất không thu tiền sử dụng đất, cụ thể:
- Giao đất có thu tiền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất
cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất và người sử dụng đất phải nộp một khoản tiền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Theo Điều 55 của Luật Đất đai năm 2013
quy định Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với đối tượng là tổ chức sử
dụng đất vào mục đích kinh doanh, thương mại, dịch vụ và có khả năng sinh lời trên
phần diện tích đất được giao, cụ thể gồm: Tổ chức kinh tế được giao đất để thực
hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê; Doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng
nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê; Tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện
dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất
gắn với hạ tầng. Giao đất theo hình thức này giúp Nhà nước đảm bảo nguồn thu
ngân sách từ đất, bố trí vốn cho các chương trình chính sách công, dự án đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng nhằm phát triển đất nước và tạo ý thức trách nhiệm cho người
được giao đất sử dụng hợp lý, tiết kiệm, nâng cao hiệu quả sử dụng, tránh lãng phí
quỹ đất được giao.
- Giao đất không thu tiền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng
đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất và người sử dụng đất không phải nộp
khoản tiền sử dụng đất cho Nhà nước. Theo Điều 54 của Luật Đất đai năm 2013
quy định Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với là tổ chức sử dụng


đất vào mục đích xây dựng trụ sở cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng,
an ninh; đất sử dụng vào mục đích công cộng không nhằm mục đích kinh doanh;
đất làm nghĩa trang, nghĩa địa; tổ chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính sử
dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp; tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở
phục vụ tái định cư theo dự án của Nhà nước; cộng đồng dân cư sử dụng đất nông
nghiệp; tổ chức sử dụng đất. Việc giao đất không thu tiền sử dụng đất là để đảm bảo
lợi ích chính đáng của người trực tiếp lao động sản xuất, bảo vệ tốt quỹ đất nông
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản,... Nhằm bảo đảm cho hoạt động bình
thường của các cơ quan Nhà nước hoặc sử dụng đất vào lợi ích chung, lợi ích công
cộng.
- Thời hạn giao đất:
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì thời hạn giao đất được chia
theo loại đất sử dụng đất gồm: đất sử dụng ổn định lâu dài và đất sử dụng có thời
hạn [24].
Theo Điều 125 của Luật Đất đai năm 2013 quy định, người sử dụng đất
được sử dụng đất ổn định lâu dài trong các trường hợp:
+ Đất xây dựng trụ sở cơ quan; đất xây dựng công trình sự nghiệp của tổ
chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính gồm đất xây dựng các công trình sự
nghiệp thuộc các ngành và lĩnh vực về kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào
tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, ngoại giao và các công
trình sự nghiệp khác;
+ Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;
+ Đất giao thông, thủy lợi, đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng
cảnh, đất xây dựng các công trình công cộng khác không có mục đích kinh doanh;
+ Đất tổ chức kinh tế sử dụng.
Theo Điều 126 của Luật Đất đai năm 2013 quy định, người sử dụng đất
được sử dụng đất có thời hạn thuộc các trường hợp sau:
+ Thời hạn giao đất đất đối với tổ chức để sử dụng vào mục đích sản xuất
nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; tổ chức để sử dụng vào
mục đích thương mại, dịch vụ, làm cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; tổ chức để thực
hiện các dự án đầu tư; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn


đầu tư nước ngoài để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được xem xét, quyết
định trên cơ sở dự án đầu tư hoặc đơn xin giao đất nhưng không quá 50 năm.
+ Đối với dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào
địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất đất không quá 70
năm.
- Quyền và nghĩa vụ của tổ chức sử dụng đất được Nhà nước giao đất:
Trong mối quan hệ với tổng thể hệ thống pháp luật về đất đai, giao đất là một
nội dung của quản lý nhà nước về đất đai, mà ở đó, Nhà nước công nhận quyền sử
dụng đất của người được công nhận. Thông qua cơ chế giao đất, Nhà nước không
chỉ xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm căn cứ pháp lý
để giải quyết mọi quan hệ đất đai đúng pháp luật mà còn làm cơ sở pháp lý để
người sử dụng đất thực hiện các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa
kế, thế chấp, góp vốn, bảo lãnh quyền sử dụng đất theo pháp luật, phù hợp với sự
vận động vốn có của quan hệ đất đai trong thực tiễn cuộc sống.
Theo quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật Đất đai năm 2013 thì tổ
chức sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ chung của người sử dụng; các quyền
chung là những quyền mà tất cả chủ thể được hưởng trong quá trình khai thác đất
đai mà không có sự phân biệt về loại chủ thể, hình thức, mục đích sử dụng đất; các
nghĩa vụ chung người sử dụng đất là cách sử xự mà pháp luật bắt buộc các chủ thể
phải thực hiện trong quá trình sử dụng đất. Đây là loại nghĩa vụ áp dụng chung cho
tất cả các loại chủ thể sử dụng đất, không phân biệt hình thức và mục đích sử dụng
đất.
Ngoài ra, theo Luật Đất đai năm 2013 thì căn cứ vào hình thức Nhà nước
giao đất thì quy định về quyền và nghĩa vụ cũng khác nhau. Đối với các tổ chức sử
dụng đất có thể chia thành nhiều loại với những quyền và nghĩa vụ khác nhau. Các
tổ chức được giao đất không thu tiền thì không có các quyền chuyển quyền sử dụng
đất, tổ chức thuê đất trả tiền hàng năm chỉ được phép bán hoặc mua tài sản sở hữu
trên đất thuê; tổ chức được giao đất có thu tiền thì có các quyền chuyển quyền sử
dụng đất; quy định phân biệt rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức sử dụng đất mà tiền đã
trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước và tiền đã trả không có nguồn gốc từ ngân
sách nhà nước.


Bên cạnh đó, Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định cụ thể về thủ tục thực
hiện các quyền sử dụng đất; xử lý quyền sử dụng đất của tổ chức đã thế chấp, bảo
lãnh, góp vốn; xây dựng chế độ tài chính mới khi thực hiện các quyền sử dụng đất;
quy định quyền sử dụng đất của doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa... Đây là
những vấn đề chủ yếu nhất, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thông thoáng cho các tổ chức
thực hiện các quyền và nghĩa vụ sử dụng đất.
Về cho thuê đất
Cho thuê đất là hình thức Nhà nước hoặc các chủ sử dụng đất tạm chuyển
quyền sử dụng đất của mình cho các chủ thuê đất thông qua hợp đồng thuê đất, phù
hợp với các quy định của pháp luật hiện hành. Theo khoản 8, điều 3 của Luật Đất
đai năm 2013 quy định “Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà
nước cho thuê đất) là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối
tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất”.
- Đối tượng thuê đất:
Theo quy định tại điều 56 của Luật Đất đai năm 2013 thì việc Nhà nước cho
thuê đất theo hai hình thức cho thuê thu tiền sử dụng đất hàng năm hoặc cho thuê
thu tiền sử dụng đất một lần cho cả thời gian thuê. Một trong đối tượng được cho
thuê đất là các tổ chức gồm: UBND xã, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
xã hội, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức sự
nghiệp công, tổ chức kinh tế và tổ chức ngoại giao.
- Các hình thức cho thuê đất của Việt Nam:
Trước đây, trên cơ sở Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai sửa đổi năm 1998
đưa ra một số quy định sửa đổi bổ sung, trong đó quy định về hình thức thuê đất mà
người sử dụng đất có thể trả tiền thuê đất hàng năm, trả tiền thuê đất cho nhiều năm
hoặc trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê. Luật Đất đai năm 2003 không quy định
về trả tiền thuê đất cho nhiều năm mà thay vào đó là trả tiền thuê đất hàng năm đối
với trường hợp người sử dụng đất là tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân trong
nước. Đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê trả tiền một lần
cho cả thời gian thuê hoặc trả tiền thuê đất hàng năm khi thực hiện đầu tư vào Việt
Nam.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×