Tải bản đầy đủ

tac đông của oda đến tăng trưởng kinh tế ở cac tỉnh vùng duyên hải miền trung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------------------

NGÔ TẤN LỰC

TÁC ĐỘNG CỦA ODA ĐẾN TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ Ở CÁC TỈNH VÙNG DUYÊN HẢI
MIỀN TRUNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Tác động của ODA đến tăng trưởng kinh

tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung” là bài nghiên cứu của chính tôi.
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi
cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được

công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác.
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong
luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định.
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các
trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác.

TP. Hồ Chí Minh, năm 2017

Ngô Tấn Lực

i


LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại Trường Đại Học Mở Thành phố Hồ Chí
Minh. Trong quá trình làm luận văn tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ để hoàn
tất luận văn. Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS. Lê Thái Thường
Quân đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt
quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Khoa Đào tạo Sau Đại Học của Trường
Đại Học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, những người đã truyền đạt kiến thức quý
báu cho tôi trong thời gian học cao học vừa qua.
Tôi chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã
động viên, hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập.
Cuối cùng, tôi xin chúc quý Thầy Cô, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp sức
khỏe và thành đạt.

Tác giả

Ngô Tấn Lực

ii


TÓM TẮT
Luận văn thực hiện nhằm làm rõ tác động của ODA đến tăng trưởng kinh
tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung giai đoạn 1993 – 2016. Từ kết quả hồi
quy, nghiên cứu đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để ODA phát huy tác động tích
cực đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung.
Trên cơ sở tham khảo lý thuyết tổng quan về ODA và cơ sở lý luận về tăng


trưởng kinh tế, cùng các nghiên cứu trước. Luận văn đã đưa ra mô hình nghiên cứu
gồm: Biến phụ thuộc là GDP của các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung (lnGDP)
và 6 biến độc lập: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, Tổng vốn đầu tư
của tỉnh (TVDT), Lao động trên 15 tuổi (LAODONG), chi thường xuyên của khu
vực nhà nước từng tỉnh (CHI_TX), Phần trăm dân số trên 15 tuổi tốt nghiệp cấp
hai (GD), Lạm phát (LP).
Phương pháp nghiên cứu định lượng Pool OLS, REM sử dụng để ước lượng
hồi quy với bộ dữ liệu bảng cân bằng, thu thập từ niên giám thống kê có 8 tỉnh,
thành phố * 23 năm (giai đoạn 1993 – 2016) = 192 quan sát.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
có ý nghĩa thống kê và có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh vùng
Duyên hải miền Trung giai đoạn 1993 – 2016; các yếu tố như: Nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức ODA, Tổng vốn đầu tư của tỉnh (TVDT), Lao động trên 15
tuổi (LAODONG), chi thường xuyên của khu vực nhà nước từng tỉnh (CHI_TX),
đều có có nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% và có tác động dương đến tăng trưởng
kinh tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung giai đoạn 1993 – 2016. Một số kiến
nghị được đề xuất giúp gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh vùng Duyên
hải miền Trung.

iii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................... i
TÓM TẮT ............................................................................................................. iii
MỤC LỤC ............................................................................................................. iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................... vii
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................... viii
DANH MỤC HÌNH ............................................................................................. ix
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU ...................................................... 1
1.1

Lý do nghiên cứu ...................................................................................... 1

1.2

Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................. 2

1.3

Câu hỏi nghiên cứu................................................................................... 2

1.4

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 3

1.5

Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 3

1.6

Ý nghĩa của nghiên cứu ............................................................................ 3

1.7

Kết cấu luận văn ....................................................................................... 4

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN................................................................................ 5
2.1

Các khái niệm có liên quan ...................................................................... 5

2.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế ............................................................... 5
2.1.2 Nợ công ................................................................................................. 5
2.2

Tổng quan về ODA .................................................................................. 6

2.2.1 Khái niệm về ODA ................................................................................ 6
2.2.2 Vai trò của ODA .................................................................................... 7
iv


2.3

Mô hình tăng trưởng ................................................................................. 9

2.4

Mô hình tăng trưởng tân cổ điển .............................................................. 9

2.4.1 Mô hình tăng trưởng nội sinh .............................................................. 11
2.5

ODA tác động đến sự tăng trưởng, phát triển kinh tế ............................ 13

2.6

Một số nghiên cứu trước ........................................................................ 16

Tóm tắt chương 2 ............................................................................................. 23
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................. 24
3.1

Mô hình nghiên cứu ............................................................................... 24

3.2

Thu thập dữ liệu nghiên cứu................................................................... 29

3.3

Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 29

3.3.1 Xử lý dữ liệu nghiên cứu ..................................................................... 29
3.3.2 Phương pháp ước lượng hồi quy ......................................................... 30
3.3.3 Các kiểm định để lựa chọn mô hình .................................................... 32
3.3.4 Trình tự thực hiện nghiên cứu định lượng........................................... 32
Tóm tắt chương 3 ............................................................................................. 33
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................ 34
4.1

Khái quát về tình hình thu hút ODA của Việt Nam ............................... 34

4.2

Thực trạng chung nguồn vốn ODA các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung

giai đoạn 1993 – 2016 ...................................................................................... 37
4.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội các tỉnh khu vực các tỉnh vùng Duyên hải miền
Trung ............................................................................................................ 37
4.2.2 Thực trạng thu hút ODA vào vùng Duyên hải Miền Trung ................ 38
v


4.2.3 Những kết quả đạt được vào phát triển kinh tế xã hội ........................ 40
4.3

Kết quả phân tích tác động của ODA đến tăng trưởng kinh tế tại các tỉnh

vùng Duyên hải miền Trung ............................................................................ 42
4.3.1 Phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình ............................... 42
4.3.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến .............................................. 43
4.3.3 Kiểm tra đa cộng tuyến theo hệ số VIF ............................................... 44
4.3.4 Kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu .................................................. 45
Tóm tắt chương 4 ......................................................................................... 51
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ................................................................................... 53
5.1

Tóm tắt kết quả nghiên cứu .................................................................... 53

5.2

Kiến nghị ................................................................................................ 54

5.2.1 Vốn đầu tư trong nước ......................................................................... 54
5.2.2 Lực lượng lao động ............................................................................. 55
5.3

Nguồn vốn ODA .................................................................................... 56

5.4

Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo ................................ 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 59

vi


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NSNN: Ngân sách nhà nước
ODA: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
TP: Thành phố

vii


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Tổng hợp các nghiên cứu trước. .......................................................... 26
Bảng 3.1: Mô tả các biến sử dụng trong mô hình ............................................... 34
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu ............................ 48
Bảng 4.2 Bảng ma trận hệ số tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu ... 49
Bảng 4.3 Kiểm tra đa cộng tuyến mô hình nghiên cứu: ..................................... 50
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy theo OLS, REM ......................................................... 51
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định lựa chọn phương pháp ước lượng mô hình nghiên
cứu ........................................................................................................................ 52
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy các biến độc lập Mô hình nghiên cứu: ...................... 53

viii


DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Tình hình thu hút vốn ODA 1993 – 2014 ............................................. 41
Hình 4.2 Cơ cấu thu hút ODA 1993 – 2014 ........................................................ 42
Hình 4.3 Tỷ lệ ODA theo vùng giai đoạn 1993 – 2016 ....................................... 44

ix


Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
Chương 1 trình bày tổng quan về nghiên cứu như mục tiêu mà đề tài hướng
đến, phạm vi, phương pháp nghiên cứu đồng thời cũng nêu lên mức giới hạn và
giới thiệu bố cục đề tài.
1.1 Lý do nghiên cứu
Trong thời kì đầu của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, nguồn viện
trợ phát triển chính thức (ODA) như những ‘viên gạch’ đầu tiên giúp Việt Nam
xây dựng nền tảng để thu hút các nguồn lực khác. Trong 24 năm qua, các nhà tài
trợ đã cung cấp cho Việt Nam một nguồn tài chính đáng kể, góp phần thực hiện
cải cách kinh tế và hội nhập quốc tế. Hội nghị bàn tròn về việc viện trợ dành cho
Việt Nam diễn ra tại Paris (Pháp) từ ngày 9-10/11/1993 đã đặt nền tảng cho quan
hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và cộng đồng tài trợ quốc tế. Đến nay Việt
Nam đã có trên 50 nhà tài trợ song phương và đa phương đang hoạt động, cung
cấp nguồn ODA và vốn vay ưu đãi cho hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội.
Đây là nguồn ngoại tệ mạnh, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tăng
dự trữ ngoại hối, ổn định tỷ giá trong nhiều năm qua.
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch – Đầu tư (2012), các nhà tài trợ quốc tế đã
cam kết hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam lên tới 78 tỷ USD trong
giai đoạn 1993 – 2012. Tổng vốn ODA ký kết trong các điều ước quốc tế cụ thể từ
năm 1993 đến 2012 đạt trên 58,4 tỷ USD, chiếm 71,69% tổng vốn ODA cam kết,
trong đó vốn vay ưu đãi đạt 51,6 tỷ USD, vốn ODA không hoàn lại đạt 6,8 tỷ USD.
Tổng nguồn vốn ODA giải ngân đạt 37,59 tỷ USD. Mặc dù nguồn vốn ODA chỉ
chiếm khoảng 4% GDP; song lại chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn đầu tư
từ ngân sách nhà nước (bình quân chiếm khoảng 15% – 17%). Trong giai đoạn
2013 – 2016, tổng số vốn ODA, vay ưu đãi được ký kết đạt khoảng 26,4 tỷ USD,
đóng góp phần lớn vào đầu tư cơ sở hạ tầng.

1


Với tầm quan trọng như vậy, việc đo lường những đóng góp của nguồn vốn
ODA đối với tăng trưởng kinh tế là cần thiết. Tại các tỉnh Duyên hải miền Trung,
kinh tế của mỗi địa phương những năm gần đây tăng trưởng khá ổn định. Trong
đó, ODA đã có những đóng góp đáng kể đến nền kinh tế các địa phương, các dự
án ODA đã góp phần tích cực vào chương trình xóa đói giảm nghèo, tạo thêm việc
làm, tăng thêm thu nhập, cải thiện một bước đời sống vật chất và tinh thần cho
nhân dân nhất là với đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, đã từng
bước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, nâng cao năng lực cho đội ngũ
cán bộ quản lý, cho người người dân. Tuy nhiên, hiện nay có rất ít những nghiên
cứu định lượng về đóng góp của nguồn vốn ODA đối với tăng trưởng kinh tế địa
phương do đó đề tài: "Tác động của ODA đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh vùng
Duyên hải miền Trung" là hết sức cần thiết.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
 Phân tích thực trạng tác động của ODA đến tăng trưởng kinh tế ở các
tỉnh vùng Duyên hải miền Trung (trường hợp các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận,
Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam và thành phố Đà
Nẵng).
 Đề xuất các giải pháp chính sách nhằm thu hút, quản lý ODA để đóng
góp vào tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn phải trả lời được
các câu hỏi sau:
 ODA có đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực các tỉnh vùng
Duyên hải miền Trung hay không?
 Mức độ đóng góp của ODA vào tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực các
tỉnh vùng Duyên hải miền Trung như thế nào?

2


1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu: tác động của ODA đến tăng trưởng kinh tế ở các
tỉnh vùng Duyên hải miền Trung.
 Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung (trường hợp
các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi,
Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng).
+ Về thời gian: Tập trung phân tích, nghiên cứu số liệu trong giai đoạn
từ năm 1993 đến năm 2016
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Có hai phương pháp nghiên cứu được sử dụng:
Thứ nhất, phương pháp phân tích thống kê được dùng để đánh giá, phân
tích thực trạng thu hút ODA tại các tỉnh Duyên hải miền Trung.
Thứ hai, phương pháp phân tích định lượng. Nghiên cứu sử dụng phần mềm
kinh tế lượng STATA để phân tích mô hình hồi quy yếu tố ODA ảnh hưởng đến
tăng trưởng kinh tế các tỉnh Duyên hải miền Trung.
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu
Hiện nay để phát triển kinh tế khu vực Duyên hải miền Trung nếu chỉ sử
dụng các nguồn vốn trong nước là không đủ, do đó ODA là nguồn vốn bổ sung
góp phần đầu tư phát kinh tế khu vực. Thông qua việc đánh giá thực trạng thu hút
và sử dụng nguồn vốn ODA tại các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung giai đoạn
1993 – 2016 và phân tích mô hình kinh tế lượng với dữ liệu bảng theo thời gian
nghiên cứu giúp nhận diện mối liên hệ giữa ODA với tăng trưởng kinh tế các tỉnh
Duyên hải miền Trung.

3


1.7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn
được chia thành 5 chương:
Kết cấu dự kiến của nghiên cứu gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý luận.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận.

4


Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương 2 trình bày cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế, nợ công, ODA
cùng các nghiên cứu đã thực hiện trước đây. Đây là cơ sở để tác giả đưa ra mô
hình nghiên cứu đánh giá mối liên hệ giữa ODA với tăng trưởng kinh tế các
tỉnh Duyên hải miền Trung.
2.1 Các khái niệm có liên quan
2.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Theo Nguyễn Văn Phúc (2014), tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là
sự gia tăng về sản lượng hay thu nhập trong nền kinh tế trong một khoảng thời
gian nhất định. Tổng sản lượng quốc gia (GDP) hoặc tổng thu nhập quốc gia
(GNP) thường được dùng để đo lường sản lượng hay thu nhập được tạo ra trong
nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Thời gian thường được báo
cáo theo năm, nhưng cũng có thể được tính theo tháng, quý hay nhiều năm tùy
theo mục đích nghiên cứu. Sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành GDP như
tiêu dùng nội địa, đầu tư, chi tiêu chính phủ, cán cân thương mại,… sẽ làm thay
đổi quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Quá trình tăng trưởng kinh tế thể hiện các nguồn lực như tài nguyên thiên
nhiên, vốn, lao động, công nghệ, trình độ quản lý, quan hệ thị trường... được
khai thác và sử dụng có hiệu quả cao nhất. Tăng trưởng kinh tế bao hàm cả tăng
trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng, ngắn hạn và dài
hạn... Quá trình tăng trưởng kinh tế có thể bao gồm tăng trưởng hướng nội, tăng
trưởng hướng ngoại hoặc là sự kết hợp của cả hai tùy điều kiện và sự lựa chọn
chiến lược của các quốc gia. (Nguyễn Văn Phúc, 2014)
2.1.2 Nợ công
Nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách
nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó. Vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được
5


sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ. Tuy
nhiên, nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc gia. Nợ quốc gia là toàn bộ khoản
nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước và nợ
của tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân). Như vậy, nợ công chỉ là một bộ
phận của nợ quốc gia. (Nguyễn Văn Phúc, 2014)
Theo Quốc hội (2009), Điều 3 - Luật Quản lý nợ công Việt Nam, nợ công
bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa
phương. Theo đó, nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong
nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh
Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền
phát hành theo quy định của pháp luật.
Theo IMF (2010), nợ công được hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khu vực
công, bao gồm khu vực Chính phủ (Chính phủ Trung ương, chính quyền liên
bang, chính quyền địa phương) và khu vực các tổ chức công (các tổ chức công
phi tài chính và các tổ chức công tài chính, gồm: ngân hàng trung ương, các tổ
chức nhà nước nhận tiền gửi trừ ngân hàng trung ương và các tổ chức tài chính
công khác). Các tổ chức công phi tài chính có thể là các tập đoàn nhà nước hoạt
động trong các lĩnh vực điện tử, viễn thông,... hoặc cũng có thể là các tổ chức
như bệnh viện công, trường học công,... Những tổ chức công tài chính là những
tổ chức nhận hỗ trợ từ Chính phủ và hoạt động trong lĩnh vực tài chính, thực
hiện nhiệm vụ nhận tiền gửi và trả lãi thuộc khu vực công, cung cấp các dịch vụ
tư vấn tài chính, bảo hiểm hay quỹ lương hưu.
2.2 Tổng quan về ODA
2.2.1 Khái niệm về ODA
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được hình thành từ cuối
Chiến tranh thế giới thứ 2 (1939 – 1945) trong bối cảnh nền kinh tế thế giới sau
chiến tranh bị tàn phá và suy thoái nghiêm trọng. Mục đích chính của ODA
6


(Officiate Development Assistance) là một hình thức hỗ trợ tài chính cho các
quốc gia trên thế giới. (Hà Thị Thu, 2014)
Căn cứ theo Nghị định 16/2016/NĐ-CP về quản lý và sử dụng Nguồn hỗ
trợ phát triển chính thức ban hành ngày 16 tháng 3 năm 2016 có đưa ra khái
niệm về ODA như sau: "Hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt là ODA)
trong Quy định này được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước
hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là
Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc
gia hoặc liên Chính phủ" (Chính Phủ, 2016).
Tóm lại ODA có thể hiểu một cách chung nhất như sau: ODA là các
khoản cho vay ưu đãi kết hợp với nguồn cho không mà quốc gia này dành cho
quốc gia khác có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Tính ưu đãi của ODA thể hiện
ở phần ODA cho không cộng với các ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay, thời
gian ân hạn, lịch trả nợ với phần cho vay. Quốc gia tiếp nhận nguồn hỗ trợ chính
thức sẽ được hưởng ít nhất là 25% so với tổng giá trị nguồn hỗ trợ đó. (Nguyễn
Thị Lan Anh, 2015)
2.2.2 Vai trò của ODA
Vai trò của ODA đối với các quốc gia đang và chậm phát triển là không
thể phủ nhận:
(1) Bổ sung nguồn vốn trong nước để phát triển kinh tế
ODA có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của các
nước đang và chậm phát triển. Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
(CNH- HĐH), vốn đầu tư để tạo cơ sở vật chất nhằm nâng cấp, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội là một vấn đề lớn được đặt ra đối
với nước này. Nguồn lực hạn chế trong nước không cho phép các nước này dễ
dàng thực hiện những mục tiêu phát triển của mình. Trong nghiên cứu của rất
nhiều các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng viện trợ nước ngoài đã có một tác
7


động tích cực trong ngắn hạn và tác động tiêu cực trong dài hạn (Adams & Atsu,
2014). Và không thể bác bỏ giả thiết không có mối quan hệ nhân quả giữa viện
trợ và hiệu quả kinh tế (Burhop, 2005). Feeny, (2007) khẳng định rằng viện trợ
nước ngoài có hiệu quả trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước tiếp nhận,
nhưng hiệu quả của nó có thể phụ thuộc vào một số yếu tố. Một nửa trong tổng
số tác động của viện trợ phát triển có tác động trong vòng hai năm sau khi nó
giải ngân (Feeny & Fry, 2005).
(2) ODA mang lại nguồn lực cho đất nước thông qua những tác động tích
cực của nó đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở những nước đang và chậm phát
triển
ODA tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của các địa
phương và vùng lãnh thổ, đặc biệt là ở các thành phố lớn, nguồn vốn này trực
tiếp cải thiện điều kiện về vệ sinh, y tế, cung cấp nước sạch, bảo vệ môi trường.
Đồng thời ODA cũng góp phần tích cực trong việc phát triển cơ sở hạ tầng nông
thôn, phát triển nông nghiệp, xoá đói giảm nghèo.
(3) ODA giúp các nước đang và chậm phát triển xây dựng cơ cấu kinh tế
hợp lý
Một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho kinh tế của nhiều nước
kém phát triển là sự bất hợp lý trong cơ cấu kinh tế. Quá trình chuyển đổi nền
kinh tế cần thực hiện hàng loạt các điều chỉnh cơ cấu thông qua các chính sách
trên nhiều lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, cải cách doanh nghiệp Nhà nước,...
Trong bối cảnh ngân sách còn hạn hẹp, các nước đang và chậm phát triển thực
hiện điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế theo các chương trình hợp tác với ngân hàng
thế giới (WB), quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và các tổ chức quốc tế khác. (Hà Thị
Thu, 2014)
(4) ODA góp phần đào tạo nguồn nhân lực, tăng khả năng ứng dụng các
thành tựu cao của khoa học và công nghệ cho nước tiếp nhận
8


Các công trình, dự án sử dụng ODA thường được xây dựng và hoạt động
theo tiêu chuẩn quốc tế đã làm cho những người bản xứ ở các nước tiếp nhận
hoạt động trong dự án có cơ hội tiếp thu các công nghệ, kỹ thuật mới, phơng
cách quản lý tiên tiến hiện đại. Cùng với vốn và công nghệ, ODA đã góp phần
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đồng thời giải quyết việc làm cho một số
lượng lao động lớn tại địa phương thụ thưởng ODA. (Hà Thị Thu, 2014)
(5) ODA làm tăng khả năng thu hút vốn FDI
Các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào một nước
luôn quan tâm đến khả năng sinh lời của đồng vốn đầu tư cũng như chi phí cơ
hội của đầu tư bởi mục tiêu chính của họ là lợi nhuận.
Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư là sự hoàn chỉnh và
đồng bộ của cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, thể chế pháp luật, ... Tuy nhiên, vốn
đầu tư để thực hiện điều này rất lớn, nếu chỉ dựa vào nguồn vốn hạn chế của
Nhà nước thì không thể đáp ứng được. Bởi vậy, ODA là nguồn vốn bổ sung
quan trọng để xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút nguồn vốn
FDI. (Hà Thị Thu, 2014)
2.3 Mô hình tăng trưởng
2.3.1 Mô hình tăng trưởng tân cổ điển
Công trình của Solow (1956) là một công trình tiên phong về mô hình
tăng trưởng tân cổ điển. Mặc dù những mô hình tăng trưởng tân cổ điển khác
được phát triển sau đó nhưng mô hình Solow vẫn là mô hình đặc trưng nhất. Mô
hình này chứa đựng những thành tố cơ bản của những mô hình tăng trưởng tân
cổ điển và các mô hình tân cổ điển khác đều cho ra những kết luận tương tự.
Mô hình Solow bắt đầu với một hàm sản xuất tổng thể gồm ba yếu tố đầu
vào: Vốn, lao động và tiến bộ kỹ thuật. Hàm sản xuất có dạng hàm Cobb Douglas và có hiệu suất không đổi theo quy mô. Hàm này thể hiện hiệu suất
biên giảm dần đối với từng yếu tố đầu vào. Trong dài hạn nền kinh tế đạt đến
9


trạng thái cân bằng dài hạn tại đó vốn trên mỗi đơn vị lao động đang làm việc
là không đổi và do đó, sản lượng đầu ra trên mỗi đơn vị lao động đang làm việc
cũng cố định; nói cách khác tổng vốn và sản lượng đầu ra tăng cùng tốc độ với
tốc độ tăng của lực lượng lao động và tiến bộ kỹ thuật. Sản lượng đầu ra và vốn
bình quân đầu người tăng cùng tốc độ với tốc độ của tiến bộ kỹ thuật ở trạng
thái cân bằng dài hạn. Tiến bộ kỹ thuật được xem như biến ngoại sinh cho trước
của mô hình.
Với những tham số tham chiếu cho trước (tiết kiệm, tốc độ tăng dân số)
và khoa học công nghệ (A), lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển của Robert Solow
(1956) dự báo rằng các quốc gia sẽ hội tụ tại cùng một mức cân bằng chung của
thu nhập bình quân đầu người. Tốc độ hội tụ của các quốc gia tùy thuộc khoảng
cách giữa nó với điểm cân bằng chung.
Những quốc gia khởi đầu với thu nhập bình quân đầu người thấp hơn sẽ
dịch chuyển về điểm cân bằng chung với tốc độ nhanh hơn những quốc gia vốn
đã giàu có. Luận cứ cho sự hội tụ dựa trên quy luật lợi tức biên giảm dần của
vốn. Những nước nghèo có tỉ lệ vốn trên lao động thấp hơn, có hệ số sản lượng
biên của vốn cao hơn và tốc độ tăng tích lũy vốn cao hơn và do đó, có khuynh
hướng tăng trưởng kinh tế cao hơn các nước giàu. Đó chính là điểm hội tụ tuyệt
đổi. Nếu chúng ta bỏ đi giả định là tất cả các nền kinh tế đều có cùng tham số
và do đó có cùng điểm cân bằng chung thì sự hội tụ được xem là hội tụ có điều
kiện. Vị trí cân bằng ổn định của mỗi nền kinh tế sẽ khác nhau, phụ thuộc vào
những đặc trưng của quốc gia (như tỉ lệ tiết kiệm, tốc độ tăng dân số, trình độ
kỹ thuật...), những yếu tố có thể thay đổi giữa các quốc gia khác nhau. Mỗi nền
kinh tế hội tụ tại điểm cân bằng ổn định của mình. Mức thu nhập bình quân đầu
người càng thấp tương đối so với vị trí cân bằng ổn định thì tôc độ tăng trưởng
càng cao. Trong trường hợp cân bằng có điều kiện, những nền kinh tế nghèo
hơn không nhất thiết có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn những nền kinh tế giàu

10


hơn nếu như các nước giàu hơn có trạng thái cân bằng ổn định cao hơn. (Nguyễn
Văn Phúc, 2014)
Trong mô hình Solow, tỉ lệ tiết kiệm là cố định và là biến ngoại sinh được
cho trước. Do đó, những nghiên cứu sau này của trường phái tân cổ điển mở
rộng theo hướng xem xét tính nội sinh của yếu tố tiết kiệm và hành vi tiêu dùng
của hộ gia đình. Lúc này các hộ gia đình phải đối mặt với những quyết định liên
thời gian và liên thế hệ về tiêu dùng và tiết kiệm để có thể tối đa hóa hữu dụng.
Trong những mô hình này người tiêu dùng sẽ chọn một chuỗi thời gian đối với
việc tiêu dùng nhằm tối đa hoá hữu dụng và do đó ảnh hưởng đến tỉ lệ tiết kiệm.
Các mô hình này đều đi đến kết luận giống mô hình Solow. Tại trạng thái cân
bằng ổn định, sản lượng và thu nhập bình quân đầu người tăng cùng vói tốc độ
của tiến bộ kỹ thuật. Hay nói cách khác, tiến bộ kỹ thuật là nhân tố duy nhất của
tăng trưởng dài hạn.
Hạn chế của mô hình tân cổ điển là: nếu tiến bộ kỹ thuật là nhân tố duy
nhất của tăng trưởng dài hạn, vậy cái gì ảnh hưởng đến tiến bộ kỹ thuật? Mô
hình tân cổ điển không trả lời câu hỏi này. Đây là mối quan tâm của trường phái
lý thuyết tăng trưởng nội sinh. (Nguyễn Văn Phúc, 2014)
2.3.2 Mô hình tăng trưởng nội sinh
Không hài lòng với giải thích của trường phái tân cổ điển là tiến bộ kỹ
thuật ngoại sinh là yếu tố duy nhất giải thích tăng trưởng trong dài hạn, từ giữa
những năm 1980, một số nhà kinh tế học đã tìm cách giải thích tiến bộ kỹ thuật
và phát triển những mô hình mà trong đó tăng trưởng dài hạn có thể được tạo ra
từ những yếu tố nội sinh. Mô hình tăng trưởng nội sinh Romer (1994) loại bỏ
giả thuyết của trường phái tân cổ điển về lợi tức biên giảm dần của vốn, theo
cách đó vốn được tích lũy và nhờ vậy tăng trưởng có thể đạt được ngay cả trong
điều kiện không có tiến bộ kỹ thuật. Hiện nay có rất nhiều mô hình tăng trưởng
nội sinh. Chúng ta có thể tạm chia thành các mô hình này thành 3 nhóm chính:
1) mô hình AK; 2) mô hình ngoại tác; 3) mô hình R&D.
11


Trong mô hình AK, giải pháp đầu tiên để tránh được quy luật lợi tức biên
của vốn giảm dần trong lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển là xây dựng hàm sản
xuất tổng thể dưới dạng sau (xem Barro và Salai-Martin 1995, tr. 39-42):
Y = A.K
Với: Y: là sản lượng, K: vốn (bao gồm vốn vật chất và vốn con người)
và A là một hằng số đương thể hiện trình độ kỹ thuật.
Trong phương trình trên, vốn có lợi tức không đổi. Vì thế, mô hình cho
phép tích lũy vốn không giới hạn và tăng hưởng kinh tế dài hạn được đảm bảo.
Theo Barro và Salai-martin (1995), việc xem như hoàn toàn không có sự giảm
sút trong lợi tức là không thực tế nhưng ý tưởng này sẽ trở nên hợp lý hơn nếu
chúng ta xem xét K theo nghĩa rộng, bao hàm cả vốn con người. Do đó, một
khái niệm quan trọng của mô hình AK là vốn con người. Vốn con người có thể
được định nghĩa một cách khái quát là tri thức và kỹ năng đạt được thông qua
quá trình làm việc và đào tạo. Với lực lượng lao động không đổi, khả năng tiếp
tục học tập và đạt được những kỹ năng cao hơn luôn luôn có thể xảy ra, vốn con
người nhiều hơn sẽ giúp cho hiệu suất biên của vốn vật chất được duy trì. Vì thế
tích lũy vốn (bao gồm cả vốn con người và vốn vật chất) và do đó tăng trưởng
kinh tế có thể được duy trì ngay cả trong trường hợp không có tiến bộ kỹ thuật
và sự gia tăng của lực lượng lao động. Trong quá trình sản xuất việc học hỏi
kinh nghiệm thông qua quá trình làm việc (learning by doing) luôn diễn ra, điều
này góp phần cải thiện hiệu quả của vốn. Rebelo (1991) là một đại diện tiêu biểu
của mô hình AK. Trong mô hình Rebelo (1991), những cá nhân có thể tích lũy
tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất. Vốn con người bổ trợ cho lao động. Vốn
vật chất và vốn nhân lực bổ trợ lao động sẽ tăng cùng tốc độ trong dài hạn, giúp
ngăn chặn sự giảm sút của lợi tức biên theo vốn trong khi tỉ lệ vốn/ lao động
tăng như trong mô hình Solow.
Mô hình tăng trưởng nội sinh thứ hai xuất phát từ những ngoại tác của
quá trình tích lũy vốn (vốn vật chất và con người). Trong mô hình này, vốn có
12


thể vẫn tuân theo quy luật lợi tức biên giảm dần đối với từng nhà đầu tư riêng
lẻ, nhưng khoản đầu tư của nhà đầu tư này lại làm tăng khả năng sinh lợi của
những khoản đầu tư khác. Những hiệu ứng này của tích lũy vốn được gọi là
'"những ngoại tác" hay hiệu ứng "lan tỏa". Nhờ hiệu ứng này, xét về tổng thể,
nền kinh tế không bị lợi tức biên của vốn giảm dần dù mỗi nhà đầu tư riêng lẻ
vẫn phải đối mặt với vấn đề này. Do đó, tích lũy vốn và tăng trưởng kinh tế
trong toàn bộ nền kinh có thể được duy trì lâu dài.
2.4 ODA tác động đến sự tăng trưởng, phát triển kinh tế
Về mặt lý thuyết, nợ công có tác động cả tích cực lẫn tiêu cực lên tăng
trưởng kinh tế. Về mặt tích cực, theo lý thuyết Keynes (Keynes, 1936), khi chính
phủ tăng chi tiêu thì làm gia tăng tổng cầu, tác động có thể là trực tiếp hoặc gián
tiếp thông qua hệ số nhân trong hàm tổng cầu. Ngoài ra, chi tiêu công còn tác
động lên tổng cung vì nhiều khoản chi tiêu công là chi cho đầu tư, đặc biệt là
chi phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu cho nền kinh tế. Do sự thất bại của thị
trường trong việc cung cấp hàng hoá công, một số nhà kinh tế ủng hộ sự tham
gia của chính phủ trong việc cung ứng các hàng hoá thiết yếu này. Theo quan
điểm này, đầu tư công có thể bổ sung cho đầu tư tư nhân vì cung cấp các cơ sở
hạ tầng và các hàng hoá quan trọng cho nền kinh tế. Sự phát triển của khu vực
công cũng tạo ra nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ cho khu vực tư phát triển. Hiện
nay, tại Việt Nam thì ODA chủ yếu là dạng đầu tư công nhằm phát triển kết cấu
hạ tầng thiết yếu cho nền kinh tế.
Các nhà kinh tế cũng lưu ý nhiều tác động tiêu cực của nợ công. Kumar
và Woo (2010) cho rằng nợ công nợ công có tác động tiêu cực lên tăng trưởng
ở các khía cạnh sau. Nợ công làm tăng lãi suất, theo đó làm giảm đầu tư của khu
vực tư nhân. Nợ công nói chung và ODA nói riêng làm gia tăng khả năng nhà
nước tăng thuế trong tương lai. Nợ công nói chung và ODA nói riêng làm tăng
lạm phát, tăng bất ổn kinh tế vĩ mô. Các yếu tố trên làm giảm đầu tư tư nhân.
Các tác động làm giảm đầu tư tư nhân gọi là tác động “chèn lấn” (crowding13


out). Nói cách khác là đầu tư công làm giảm các nguồn lực dành cho đầu tư tư
nhân, làm tăng chi phí đối vói đầu tư tư nhân. Blanchard (1998) cho rằng chi
tiêu công luôn luôn có tác dụng “chèn ép” (crowding-out) chi tiêu tư nhân.
Chính sách sử dụng việc mở rộng tài khoá để kích thích tổng cầu và tăng trưởng
có tác dụng hạn chế nhất là khi nền kinh tế gần với mức toàn dụng lao động.
Reinhart và Rogoff (2010) cho rằng ảnh hưởng tiêu cực nhất của nợ công lên
tăng trưởng là gánh nặng về thuế trong tương lai và sự bất ổn do gánh nặng này
gây ra. Gagnon và Hinter Schweiger (2011) cho rằng mức nợ công có thể chịu
đựng được không thể dựa trên một công thức trừu tượng nào mà tuỳ thuộc vào
tình hình thực tế là xã hội và chính phủ sẵn lòng trả lãi suất cho các khoản nợ
và mức độ chấp nhận GDP thấp hơn do lãi suất cao hơn, thuế khoá cao hơn gây
ra. Reinhart và Rogoff (2009) cho thấy rằng lạm phát cao và siêu lạm phát có
nguyên nhân chủ yếu từ việc chính phủ chi tiêu quá mức thông qua việc phát
hành tiền ồ ạt. Điều này thường gắn liền với các giai đoạn chiến tranh hoặc các
giai đoạn đối phó với khủng hoảng kinh tế. Reinhart và Rogoff (2011b) dẫn
chứng số liệu lịch sử cho thấy rằng khủng hoảng nợ công gắn liền với các khủng
hoảng khác như khủng hoảng ngân hàng, khủng hoảng tài chính, khủng hoảng
nợ nước ngoài làm cho tình hình trở nên rất nghiêm trọng.
Về mặt lý thuyết, tác động của nợ công nói chung và ODA nói riêng lên
tăng trưởng có thể đặt trong cuộc tranh luận lớn hơn về vai trò của nhà nước và
thị trường trong phát triển kinh tế. Báo cáo Phát triển năm 1997 của Ngân hàng
Thế giới (WB, 1997) đã dành riêng cho chủ đề này. Báo cáo dựa trên lý thuyết
và kinh nghiệm phát triển của nửa sau thế kỷ 20 đã rút ra những nhận xét đáng
chú ý. Phần lớn thế kỷ 20, mọi người kỳ vọng vào vai trò lớn hơn của chính phủ
trong phát triển nhưng sự thất bại của các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung,
sự thất bại của các nền kinh tế nhà nước can thiệp nặng ở châu Phi và các nước
khác, sự thất bại của các mô hình nhà nước phúc lợi và sự thành công của các
nền kinh tế Đông Á phát triển dựa vào thị trường và hướng ra bên ngoài đã đặt
ra thách thức cho những suy nghĩ truyền thống về vai trò của nhà nước. Cần
14


xem xét đánh giá vai trò của nhà nước một cách cẩn trọng hơn. Báo cáo cho
rằng nhà nước và thị trường là bổ sung cho nhau.
Muốn cho thị trường phát triển thì nhà nước phải hiệu quả (effective
State) để thực hiện các chức năng cơ bản như tạo ra khuôn khổ thể chế, duy trì
thể chế cung cấp các dịch vụ công cơ bản, các cơ sở hạ tầng thiết yếu,... Quan
điểm ở đây không phải là nhà nước càng nhỏ càng tốt mà là nhà nước hiệu quả,
đảm bảo cho thị trường hoạt động tốt. Thất bại thị trường là lý do phổ biến nhất
cho sự can thiệp của nhà nước, với các hình thức phổ biến sau đây của thất bại
thị trường (WB, 1997). Thứ nhất, có sự thất bại của cạnh tranh (độc quyền, bán
độc quyền). Nếu nhà nước không can thiệp thì nhà sản xuất độc quyền bán giá
cao hơn với sản lượng ít hơn. Thứ hai, có sự thất bại hàng hoá công, Nhiều hàng
hoá công thị trường không cung cấp, do đó nhà nước phải cung cấp. Thứ ba, có
sự tồn tại của ngoại tác. Khi tồn tại ngoại tác thì sản lượng của thị trường là
không hiệu quả. Với ngoại tác tiêu cực, người sản xuất có khuynh hướng sản
xuất quá mức. Với ngoại tác tích cực, người sản xuấ có khuynh hướng sản xuất
không đủ. Thứ tư, có sự tồn tại của thông tin bất cân xứng đẫn đến thị trường
không hoàn hảo. Thứ năm, sự mất cân bằng kính tế vi mô tạo ra sự bất ổn định
kinh tế vĩ mô. Thứ sáu, vì lý đo công bằng, nhà nước can thiệp để phân phối lại
thu nhập.
Trong kinh tế học vĩ mô, sự ra đời của lý thuyết Keynes cũng góp phần
vào việc tăng vai trò của nhà nước trong nền kinh tế. Trái với các nhà kinh tế cổ
điển, Keynes cho rằng có những lúc nền kinh tế rơi vào suy thoái hay khủng
hoảng mà không tự điều chỉnh được. Nếu để thị trường tự điều chỉnh thì tình
trạng suy thoái hay khủng hoảng sẽ kéo dài, giống như Cuộc đại suy thoái năm
1929-1933. Keynes chủ trương là nhà nước nên chủ động can thiệp vào nền
kinh tế đặc biệt là gia tăng tổng cầu để thúc đẩy nền kinh tế. Do ảnh hưởng của
Keynes, rất nhiều nước theo đuổi chính sách nhà nước tác động ngày càng nhiều
hơn vào nền kinh tế, dẫn đến sự gia tăng của nợ công. Ở các nước đang phát
15


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×