Tải bản đầy đủ

Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi

[Type text]

Trường ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh
Khoa Ngân hàng

Tiểu luận:

Giảng viên hướng dẫn:
Đặng Thị Thu Hồng
Thành viên:
Trần Lê Hoàng Anh

NH3

Vũ Hoàng Xuân Nga

NH3

Vương Mỹ Ngọc

NH3


Hồ Minh Phương Quỳnh

NH1

Diệp Thị Tú Quỳnh

NH3


[Type text]
TP Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2013


MỤC LỤC


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi

1. TÓM TẮT VÀ GIỚI THIỆU:
1

Tóm tắt:
Bài nghiên cứu này là xem xét mức độ của hiệu ứng trung chuyển tỷ giá (ERPT) tới

giá cả tại 12 thị trường mới nổi ở châu Á, Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu. Theo kết quả
của tác giả, dựa trên 3 mô hình vector tự hồi quy (VAR), phần nào trái ngược với thông lệ
trước đây cho rằng: ERPT tác động vào cả giá nhập khẩu và giá tiêu dùng ở các nước mới
nổi luôn cao hơn ở các nước phát triển.
Các thị trường mới nổi với mức lạm phát 1 con số (hầu hết là các nước Châu Á), sự
chuyển dịch đến giá nhập khẩu và giá tiêu dùng được tìm thấy là thấp và không quá khác
biệt so với những nền kinh tế phát triển. Bài nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng về sự
tương quan thuận chiều giữa mức độ ERPT và lạm phát, phù hợp với giả thuyết của
Taylor khi loại trừ 2 nước (Argentina và Turkey) ra khỏi phân tích. Cuối cùng, về mặt lý
thuyết thì có sự tương quan dương giữa mở cửa nhập khẩu và ERPT, nhưng trên thực tế,
tác giả chưa tìm thấy những bằng chứng thực nghiệm chắc chắn về vấn đề này.

2

Giới thiệu:


Hai thập kỷ qua, một lượng lớn tài liệu kinh tế về ERPT đã được nghiên cứu. Bắt

đầu từ những quan điểm khác nhau, nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra vai trò của ERPT ở
các nền kinh tế nhỏ và lớn. Các nghiên cứu đã được tiến hành ở các nước phát triển bao
gồm: Anderton (2003), Campa và Goldberg (2004), Campa, Goldberg và GonzálezMínguez (2005), Hahn (2003), Ihrig và cộng sự (2006), McCarthy (2000), Choudri và
Hakura (2006), Frankel và cộng sự (2005), Mihaljek và cộng sự (2000).
Để đơn giản hóa, các nhà kinh tế truyền thống đã giả định rằng giá cả hàng hóa mậu
dịch – được tính trong cùng một loại tiền tệ - là ngang nhau giữa các quốc gia, ví dụ như
điều kiện ngang giá sức mua PPP. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm, giả định này hầu như
không có sự ủng hộ, ít nhất là trong trường hợp mẫu nhỏ và kiểm tra trong ngắn hạn đến
trung bình. Cùng với các bằng chứng này, tài liệu lý thuyết đã phát triển hơn hai thập kỷ
4


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
qua cung cấp những giải thích khác nhau rằng tại sao ERPT là không hoàn toàn. Trong
bài báo chuyên đề của ông, Dornbusch (1987) chỉ ra sự chuyển dịch không hoàn toàn là
do các công ty hoạt động trong một thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và điều chỉnh
tăng giá để phản ứng với một cú sốc tỷ giá. Burstein và cộng sự (2003) nhấn mạnh vai trò
(phi mậu dịch) đầu vào trong nước trong chuỗi phân phối hàng hóa mậu dịch. Burstein và
cộng sự (2005) chỉ ra vấn đề đo lường CPI mà bỏ qua điều chỉnh lớn chất lượng tỷ giá
hối đoái hàng hóa mậu dịch. Một hướng khác của lập luận nhấn mạnh hơn vai trò của
chính sách tiền tệ, bằng cách bù đắp một phần những tác động của thay đổi tỷ giá lên giá
(Gagnon và Ihrig, 2004). Devereux và Engel (2001) và Bacchetta và Van Wincoop (2003)
đã khám phá vai trò của giá cả nội tệ trong việc giảm mức độ ERPT.
Thực vậy các cách tiếp cận lý thuyết khác nhau, nghiên cứu thực nghiệm cho cả
những nền kinh tế phát triển và mới nổi đã phát hiện bằng chứng về ERPT không hoàn
toàn. Những nghiên cứu này cũng tìm thấy bằng chứng về sự khác biệt đáng kể giữa các
nước, đương nhiên dẫn đầu với câu hỏi cái gì đã quyết định cơ bản của sự chuyển dịch.
Riêng Taylor (2000) đã đưa ra giả thuyết độ nhạy giá cả đến sự biến động tỷ giá hối đoái
phụ thuộc hoàn toàn vào lạm phát. Lý do cho điều này liên quan đến sự tương quan
dương giữa mức độ và sự tồn tại lâu dài của lạm phát, kết hợp với mối quan hệ giữa sự
tồn tại lâu dài của lạm phát và sự chuyển dịch. Liên kết thứ hai có thể được nói rõ như
sau: Càng lạm phát liên tục, thì tỷ giá hối đoái càng ít biến động được hiểu là tạm thời và
các công ty càng có thể đối phó thông qua điều chỉnh giá.
Bằng chứng qua các nghiên cứu khác nhau đã ủng hộ toàn bộ giả thuyết của Taylor.
Sự tương quan dương giữa mức độ chuyển dịch và lạm phát mạnh mẽ hơn, tuy nhiên, khi
các thị trường mới nổi được bao gồm trong mẫu được xem xét (xem riêng bảng dữ liệu
bằng chứng trong Choudhri và Hakura, 2006). Điều này có thể không ngạc nhiên, khi các
tranh luận của Taylor trở nên có ý nghĩa hơn cho tỷ lệ lạm phát cao.
Yếu tố quyết định quan trọng khác của ERPT từ một quan điểm lý thuyết là mức độ
mở cửa thương mại của một quốc gia. Hầu hết các kết nối tức thì giữa 2 biến là dương:
Quốc gia càng mở cửa giao thương, sự biến động tỷ giá hối đoái chuyển dịch vào CPI
5


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
thông qua giá nhập khẩu càng nhiều. Tuy nhiên, bức tranh trở nên phức tạp hơn khi tác
giả đưa vào nghiên cứu rằng lạm phát có thể tương quan âm với sự mở cửa, như thực
nghiệm phát hiện bởi Romer (1993). Điều này đưa đến một kênh gián tiếp, theo đó sự mở
cửa tương quan âm với lạm phát và mức độ của sự chuyển dịch khi xem xét giả thuyết
của Taylor. Các kênh trực tiếp và gián tiếp đi theo chiều ngược nhau và dấu hiệu chung
của sự tương quan giữa sự chuyển dịch và sự mở cửa do đó có thể dương hay âm.

2. MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU:
3

Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu của bài nghiên cứu này là xem xét mức độ của hiệu ứng trung chuyển tỷ

giá (ERPT) tới giá cả tại 12 thị trường mới nổi ở châu Á, Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu.
Dựa trên ba mô hình vector tự hồi quy (VAR), kết quả của tác giả phần nào trái ngược với
thông lệ trước đây cho rằng: ERPT tác động vào cả giá nhập khẩu và giá tiêu dùng ở các
nước mới nổi luôn cao hơn ở các nước phát triển.
Việc xem xét ảnh hưởng của biến động tỷ giá hối đoái lên giá cả là rất quan trọng để
đo lường sự phản ứng của chính sách tiền tệ lên những biến động tiền tệ. Nghiên cứu
thực nghiệm đã chỉ ra rằng các biến động trong tỷ giá và giá cả không là 1 – 1 trong ngắn
hạn tới trung hạn. Một học thuyết mở rộng đã được phát triển hơn 3 thập kỷ qua đã đưa ra
những giải thích khác nhau rằng tại sao hiệu ứng trung chuyển tỷ giá (ERPT) đến giá
nhập khẩu và giá tiêu dùng là không hoàn toàn. Phân tích thực nghiệm cũng đã cung cấp
bằng chứng về sự khác biệt giữa các quốc gia đối với ERPT. Taylor (2000) đã đưa ra
tranh luận trong khía cạnh này rằng độ nhạy của giá cả tới sự biến động của tỷ giá hối
đoái phụ thuộc hoàn toàn vào lạm phát.

4

Câu hỏi nghiên cứu:
Để làm sáng tỏ vấn đề trên, tác giả đã nghiên cứu và làm rõ các câu hỏi dưới đây:
1. Mức độ chuyển dịch của ERPT tác động đến giá cả hay không ? Nếu có thì ERPT

tác động như thế nào đến giá cả ?
6


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
2. Chuyển dịch tỷ giá đến giá cả đối với thị trường phát triển và thị trường mới nổi
khác biệt như thế nào ?
3. Lạm phát tác động như thế nào lên sự chuyển dịch ERPT ?

3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
5

Sơ lược lý thuyết:
1

ERPT là gì?

Tác động của tỉ giá đến mức giá tính bằng nội tệ được đo lường bởi hiệu ứng trung
chuyển tác động của tỉ giá (Exchange rate pass - through, ERPT). Hiệu ứng trung chuyển
tác động của tỉ giá thường được hiểu là mức % thay đổi giá trong nước tính bằng đồng
tiền của nước nhập khẩu khi tỉ giá tiền tệ giữa các đối tác thương mại thay đổi 1%. Nói
cách khác, hiệu ứng trung chuyển tác động của tỉ giá chính là độ co dãn của giá trong
nước so với tỉ giá. Vấn đề này có hai khía cạnh: (1) có thể nghiên cứu mối tương quan
giữa giá hàng nhập khẩu và tỉ giá; (2) mối quan tâm đặc biệt là tác động của tỉ giá đến
mức giá chung (chẳng hạn được biểu hiện thông qua chỉ số giá tiêu dùng CPI).
2

Cơ chế tác động của tỉ giá đến giá trong nước:

Cái gì là nguyên nhân của ERPT? Tại sao tỉ giá có thể tác động đến giá trong nước
của một quốc gia? Ngay từ năm 1953, khi bảo vệ cơ chế tỉ giá thả nổi, Milton Friedman
đã dựa trên lập luận rằng, cơ chế tỉ giá thả nổi có thể làm thay đổi nhanh chóng giá tương
đối giữa các quốc gia: “Tăng tỉ giá... làm giá hàng hóa nước ngoài trở nên rẻ hơn khi tính
bằng nội tệ, ngay cả khi giá của chúng tính bằng ngoại tệ không thay đổi, và hàng hóa
trong nước trở nên đắt hơn khi tính bằng ngoại tệ, ngay cả khi giá của chúng không thay
đổi nếu tính bằng nội tệ. Điều này làm tăng nhập khẩu và giảm xuất khẩu”. Các giả thiết
của Friedman là giá hàng hóa tính bằng ngoại tệ của nhà sản xuất cố định và tồn tại hiệu
ứng trung chuyển tác động của tỉ giá đến người mua hàng hóa ở mức độ lớn (trung
chuyển toàn phần sang giá hàng nhập khẩu).

7


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
Có tối thiểu ba kênh mà thông qua đó, giá tiêu dùng thích ứng với những thay đổi
của tỉ giá danh nghĩa: trực tiếp, gián tiếp và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Lafleche (1996)
đã đưa ra biểu đồ mô tả cơ chế, thông qua đó, một sự giảm tỉ giá có thể tác động đến giá
trong nước của một quốc gia (lưu ý ở đây, tỉ giá được tính theo phương pháp gián tiếp, số
đơn vị ngoại tệ trên1 đơn vị nội tệ).
Hiệu ứng trực tiếp: Chuỗi hiệu ứng trực tiếp bao gồm thay đổi trực tiếp giá cả các
hàng hóa nhập khẩu trung gian và nhập khẩu tiêu dùng cuối cùng do thay đổi tỉ giá. Các
nghiên cứu thực nghiệm sử dụng chỉ số giá hàng hóa nhập khẩu để nghiên cứu hiệu ứng
này một cách riêng biệt. Obstefeld và Rogoff (2000) và các tác giả khác đã chứng minh
rằng, giá cả các hàng hóa nhập khẩu có mức độ nhạy cảm hơn đối với những thay đổi của
tỉ giá so với giá cả hàng tiêu dùng nói chung.
Hiệu ứng gián tiếp: Chuỗi hiệu ứng gián tiếp dựa trên giả thuyết về sự thay thế lẫn
nhau của hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu.
Hiệu ứng gián tiếp bao gồm sự thay thế giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng
hóa nhập khẩu tiêu dùng cuối cùng trên thị trường nội địa (sự thay thế bên trong,
internal substitution) và trên thị trường nước ngoài (sự thay thế bên ngoài, external
substitution). Ở nước Nga, sau cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1998, sự thay thế bên trong
đã làm giảm tiêu thụ các hàng hóa nhập khẩu chất lượng cao đắt tiền và làm tăng việc
tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước chất lượng thấp và rẻ hơn (“flight from quality”,
Burtein và cộng sự (2003)). Kết quả là giá cả hàng hóa nội địa tăng lên. Một số tác giả
(Engel (2002)) gọi hiệu ứng tăng tiêu thụ hàng hóa nội địa thay cho hàng hóa nhập khẩu
là “hiệu ứng dịch chuyển chi tiêu do những thay đổi trong giá tương đối (expenditureswitching effect of relative price changes)”. Hiệu ứng thay thế bên ngoài cũng xẩy ra do
hàng hóa sản xuất trong nước trở nên rẻ hơn đối với người nước ngoài và cầu của họ đối
với hàng hóa sản xuất trong nước tăng lên. Bởi vì tiền lương danh nghĩa là cố định trong
ngắn hạn, điều này làm giảm tiền lương thực tế, do đó, kích thích tăng sản lượng, từ đó,
khuyến khích xuất khẩu của quốc gia. Hiệu ứng thay thế bên ngoài đòi hỏi nghiên cứu
hành vi theo đuổi chiến lược dịch chuyển chi tiêu (“expenditureswitching strategy”,
8


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
Obstfeld & Maurice (2001) của các nhà sản xuất trong nước. Các nhà sản xuất thay thế
hàng hóa nhập khẩu trung gian bằng hàng hóa sản xuất trong nước. Tuy nhiên, khi tiền
lương thực tế tăng lại về mức ban đầu, chi phí sản xuất tăng lên đẩy mức giá lên và làm
giảm sản lượng.
Trong dài hạn, hiệu ứng này được minh họa bởi điều kiện Marshall- Lerner. Các dữ
liệu cán cân vãng lai trong cán cân thanh toán của nước Nga sau khủng hoảng 1998
khẳng định rằng sản lượng trong nước gia tăng là kết quả của việc phá giá đồng Rúp năm
1998.
Hiệu ứng FDI: Sự giảm giá mạnh của đồng Rúp năm 1998 đã làm giảm mạnh cầu
đối với nhiều loại hàng hóa nhập khẩu và giảm mạnh tiền lương danh nghĩa tính bằng
ngoại tệ. Trước đó, các tập đoàn xuyên quốc gia đã cung cấp nhiều hàng hóa vào nước
Nga, trong thời gian khủng hoảng phải đối mặt với tình thế lưỡng nan: hoặc đánh mất thị
phần thị trường xuất khẩu của mình hay bắt đầu xây dựng cơ sở sản xuất tại nước Nga
nhằm tận dụng các lợi thế so sánh về tiền lương và công nghệ. Nhiều tập đoàn đã mở chi
nhánh và dịch chuyển các cơ sở sản xuất vào nước Nga (FDI flows). Tăng trưởng sản
xuất làm tăng cầu lao động và tăng tiền lương. Đến lượt mình, điều này đã đẩy giá tăng
lên. Tóm lại, có một số cơ chế song hành, thông qua đó, giá cả trong nước phản ứng với
những thay đổi của tỉ giá danh nghĩa.
3

Học thuyết ngang giá sức mua (PPP) và những nguyên nhân làm cho tỉ
giá lệch khỏi PPP:

Học thuyết ngang giá sức mua (Quy luật một giá) - cơ sở luận của ERPT, cho rằng
sự trung chuyển tác động của tỉ giá sang giá trong nước phải là toàn phần (độ co giãn
phải bằng 100%) và hoàn toàn không có một cơ hội nào cho kinh doanh chênh lệch giá
trong dài hạn. Vì vậy, nghiên cứu ERPT đồng nghĩa với nghiên cứu PPP. Quy luật một
giá giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới có thể minh họa như sau:
P = P* x E
Trong đó: P - giá trong nước
9


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
P* - giá ngoài nước
E - tỉ giá được đo bằng số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ (tỉ giá
trực tiếp).
Dựa vào giả thiết này là một trong những mô hình kinh tế vĩ mô Obstfeld & Rogoff
(1995, 1998, 2000), trong đó, giá trong nước được cố định theo đồng tiền của nước nhà
sản xuất, do đó, giá tiêu dùng thay đổi theo quan hệ 1 - 1 với tỉ giá.
Nhưng ngay cả trong khuôn khổ mô hình cung cầu giản đơn, trong đó, quy luật một
giá được tuân thủ thì vẫn có những khác biệt về hiệu ứng trung chuyển tác động của tỉ giá
đối với giá trong nước (ERPT) giữa các nước. Trong một nền kinh tế lớn, hiệu ứng lạm
phát do sự giảm tỉ giá nội tệ được kết hợp với sự giảm giá toàn cầu (do cầu thế giới
giảm), từ đó làm giảm ERPT. Trong một nền kinh tế nhỏ, một sự giảm tỉ giá nội tệ không
ảnh hưởng đến giá thế giới, do đó, ERPT phải là toàn phần (100%) trong mô hình này.
Do đó, ngay cả trong khuôn khổ mô hình đơn giản này (mô hình ủng hộ quy luật một
giá), ERPT không đồng nhất ở các quốc gia và sẽ cao hơn ở các nền kinh tế nhỏ so với
các nền kinh tế lớn. Mô hình lí thuyết của PPP dựa trên nhiều giả thiết mà trong thế giới
thực rất khó xẩy ra, chẳng hạn, giả thiết về cạnh tranh hoàn hảo và chi phí vận chuyển
bằng 0. Các kiểm định thực nghiệm chứng minh rằng ERPT trong nhiều trường hợp,
không đạt mức toàn phần (# 1 hoặc 100%). Isards (1977) là một trong những người đầu
tiên nghi ngờ khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên phạm vi toàn cầu có thể giảm
chênh lệch giá cả giữa các quốc gia đến mức chi phí vận chuyển.
Có nhiều lí thuyết giải thích tại sao ERPT không đạt mức toàn phần. Mô hình của
Obstfeld & Rogoff (2000) cho rằng sự tồn tại chi phí vận chuyển làm tăng giá trị hàng
hóa nhập khẩu và phân đoạn thị trường. Ngay cả khi hàng hóa nhập khẩu là hoàn toàn có
thể thay thế hàng hóa sản xuất ở trong nước, thì chúng cũng không thể được tiêu thụ với
khối lượng lớn (tỉ lệ nhập khẩu nhỏ), bởi vì giá của chúng tương đối cao. Trong trường
hợp này, sự thay đổi tỉ giá tác động yếu đến sự biến động của chỉ số CPI.
Một phương pháp tiếp cận tương tự (McCallun & Nelson (1999) cho rằng bản thân
hàng hóa chỉ chiếm một tỉ lệ không lớn so với phần cá nhân tiêu thụ. Người tiêu dùng
10


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
cũng sẵn sàng thanh toán các dịch cụ marketing, các dịch vụ phân phối và dịch vụ bán lẻ
mà thông qua các kênh này, hàng hóa đến tay người tiêu dùng. Có thể, các khoản chi phí
này chiếm tỉ trọng khá lớn trong giá trị của hàng hóa. Khi đó, những thay đổi của tỉ giá sẽ
không tác động lớn đến giá trị hàng hóa tiêu dùng cuối cùng, bởi vì chúng chỉ tác động
đến một phần không lớn giá trị của hàng hóa. Burstein, Neves & Rebelo (2002) và
Burstein, Eichenbaum & Rebelo (2002) cho rằng vai trò của hàng hóa và dịch vụ trung
gian nội địa trong khu vực phân phối là khá quan trọng về mặt lượng, nhưng không thể
giải thích đầy đủ những khác biệt của ERPT.
Mức ERPT thấp có thể không phải là kết quả của sự cố định tương đối giá cả, mà là
chính sách phân biệt hóa về giá tối ưu. Bergin & Feenstra (2001) và Bergin (2001) đã xây
dựng các mô hình cân bằng tổng thể, trong đó, ERPT không bằng 100%, ngay cả khi giá
cả là hoàn toàn thả nổi. Corsetti & Dedola (2001) xây dựng một mô hình, trong đó, ERPT
một phần (ERPT 100%) phát sinh do những khác biệt trong các mức chi phí phân phối
trên thị trường nội địa và thị trường nước ngoài. Trong mô hình của họ, ERPT đến giá
hàng hóa nhập khẩu không đạt mức toàn phần, bởi vì nhà xuất khẩu hoạt động trong
ngành cạnh tranh độc quyền cho rằng cầu của nhà nhập khẩu phụ thuộc vào chi phí phân
phối trong nước. Thay thế và bổ sung cho phương pháp tiếp cận nêu trên là mô hình
Bachetta & Wincoop (2002). Trong mô hình của mình, các tác giả bỏ qua chi phí phân
phối và tập trung vào chiến lược định giá tối ưu của công ty.
Luận cứ của mô hình là ở chỗ, đồng tiền được chọn để định giá phụ thuộc vào mức
độ cạnh tranh hàng nhập khẩu với hàng hóa sản xuất trong nước. Nếu mức độ cạnh tranh
là cao thì các công ty nhập khẩu sẽ định giá bằng nội tệ, do đó, ERPT bằng 0. Ngay cả
khi công ty đối mặt với vấn đề rủi ro tỉ giá, nó cũng không muốn thay đổi giá cả hàng tiêu
dùng cuối cùng để bảo vệ thị phần. Như vậy, mức độ cạnh tranh giữa nhà nhập khẩu và
nhà sản xuất trong nước càng lớn thì ERPT trong ngành càng nhỏ.
Một phương pháp tiếp cận khác cho rằng hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa trung
gian và tồn tại sản phẩm thay thế được sản xuất trong nước. Các nhà sản xuất trong nước
sử dụng hàng hóa nhập khẩu trung gian để sản xuất hàng hóa tiêu dùng cuối cùng. Giá cả
11


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
hàng hóa tiêu dùng cuối cùng có thể được ấn định bằng nội tệ, còn hàng hóa nhập khẩu
trung gian có thể được ấn định bằng đồng tiền nhà xuất khẩu. Do đó, nhà nhập khẩu có
thể thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng hóa sản xuất trong nước nếu như tỉ giá thay đổi
theo hướng bất lợi. Obstfeld (2001) khẳng định trong một nền kinh tế như vậy, có thể tồn
tại “hiệu ứng chuyển đổi chi tiêu” đáng kể (expenditureswitching effect), theo đó, không
phải người tiêu dùng thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng sản xuất trong nước mà là nhà
sản xuất trong nước. Mặt khác, Devereux, Engel & Tille (1999) lưu ý rằng khả năng thay
thế hàng nhập khẩu bằng hàng hóa sản xuất trong nước của các nhà phân phối hàng hóa
nhập khẩu được định giá bằng ngoại tệ là nhỏ. Do vậy, mức độ thay thế hàng hóa xác
định độ lớn “hiệu ứng chuyển đổi chi tiêu” và ERPT.
4

Nguyên nhân của những khác biệt về ERPT:

Nhiều kiểm định thực nghiệm cho thấy rằng ERPT có sự khác biệt tùy thuộc vào
mỗi nước và thời gian, cũng như giữa giá cả ở các mắt xích của dây chuyền sản xuất (giá
nhập khẩu, giá nhà sản xuất và giá tiêu dùng) và giá cả của các ngành trong phạm vi một
quốc gia.
Trên phạm vi ngành, ERPT phụ thuộc vào chiến lược định giá của công ty, đến lượt
nó, chiến lược định giá lại phụ thuộc vào cơ cấu ngành.
Nhiều nghiên cứu gần đây tập trung vào nghiên cứu chiến lược định giá và thay đổi
mức lợi nhuận của công ty (hiệu số giữa giá bán và giá thành sản phẩm) nhằm đối phó
với sự thay đổi của tỉ giá.
Cơ sở lí luận của đa số các nghiên cứu này là công trình nghiên cứu của Dornbursch
(1987), trong đó, những khác biệt về ERPT được lí giải thông qua các mô hình lí thuyết
tổ chức công nghiệp, mà cụ thể là, mức độ tập trung hóa của thị trường, mức độ thâm
nhập của hàng hóa nhập khẩu và tính thay thế giữa hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa sản
xuất trong nước. Donbursch cho rằng các ngành có tính cạnh tranh càng cao (lợi nhuận
biên nhỏ) và tỉ trọng hàng nhập khẩu trong tổng doanh thu bán hàng càng lớn thì ERPT
càng lớn. Nếu thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và được phân đoạn, phản ứng của
các công ty đối với biến động của tỉ giá có thể khác nhau. Ví dụ, nếu công ty có quyền
12


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
lực thị trường, và họ kì vọng tối đa hóa lợi nhuận của mình, ERPT sẽ phụ thuộc nhiều
vào các nhân tố khác (Phillips, 1998). Ngược lại, nếu công ty hướng đến mục tiêu tối đa
hóa thị phần của mình, ERPT sẽ nhỏ hơn (Hooper & Mann, 1989; Ohno, 1990). Hơn nữa,
nếu tồn tại khả năng phân biệt hóa giá cả giữa các thị trường, có thể phát sinh tình huống
“định giá theo thị trường”, dẫn đến việc hình thành ERPT khác nhau trên các phân đoạn
thị trường khác nhau (Krugman, 1986; Gagnon & Knetter, 1992). Cuối cùng, chiến lược
định giá của công ty phụ thuộc vào kì vọng biến động tương đối của tỉ giá trong tương lai
và khung thời gian dự báo (Froot & Klemperer, 1988; Ohno, 1990).
Trên cơ sở các nguyên tắc này, Feinberg (1986, 1989) kết luận, ERPT đến giá của
nhà sản xuất trong nước sẽ mạnh hơn ở các ngành có mức độ tập trung nhỏ hơn và ở các
ngành, nơi có tỉ trọng nhập khẩu cao hơn. Yang (1997) cho rằng, ERPT có mối tương
quan cùng chiều với mức độ phân biệt hóa sản phẩm (nghĩa là có mối tương quan nghịch
với khả năng thay thế của hàng hóa) và có mối tương quan nghịch với độ co giản của chi
phí biên theo sản lượng.
Menon (1996) đã đánh giá ERPT đến giá cả một số nhóm hàng hóa riêng biệt và
phát hiện rằng, ERPT tỉ lệ nghịch với các hạn chế định lượng (quota) đối với nhập khẩu,
kiểm soát của nước ngoài (sự hiện diện của tập đoàn đa quốc gia), mức độ tập trung hóa
sản xuất, mức độ phân biệt hóa sản phẩm và tỉ lệ nhập khẩu trong tổng doanh thu bán
hàng và tỉ lệ thuận với độ co dãn thay thế giữa hàng nhập khẩu và hàng trong nước. Một
phần kết luận của Menon có sự đối lập với kết luận của Yang và một số tác giả khác. Trên
phạm vi quốc gia, ERPT phụ thuộc vào ba nhân tố chính: độ co dãn tương đối của cầu và
cung, môi trường kinh tế vi mô và các điều kiện kinh tế vĩ mô (Phillips, 1988).
Thứ nhất, trong điều kiện không phát sinh các cơn sốc khác, độ co dãn của cầu và
cung theo giá là các nhân tố quyết định độ lớn của ERPT. Đối với hàng hóa xuất khẩu,
mức độ của ERPT sẽ càng lớn nếu độ co dãn của cầu càng lớn và độ co dãn của cung
càng thấp. Đối với hàng hóa nhập khẩu thì ngược lại, ERPT sẽ càng lớn nếu độ co dãn
của cầu càng nhỏ và độ co dãn của cung càng lớn (Spitaller, 1980). Do đó, ERPT phải là
toàn phần (bằng 1) trong một nền kinh tế nhỏ, bởi vì cầu đối với xuất khẩu là co dãn tuyệt
13


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
đối và cung nhập khẩu là co dãn tuyệt đối do quốc gia đó không có khả năng tác động
đến thị trường thế giới.
Thứ hai, nếu như xem xét các mô hình kinh tế vi mô của lí thuyết tổ chức công
nghiệp thì có thể kết luận rằng tỉ trọng nhập khẩu càng lớn thì ERPT đến giá trong nước
càng mạnh. Cũng vậy, các công trình nghiên cứu gần đây về giả thiết định giá theo thị
trường (“pricing-to-market hypothesis”) của Krugman (1987) và Marston (1990) cho
thấy tác động của việc định giá đến ERPT. Knettter (1993) kết luận rằng ngành nghề, chứ
không phải quốc tịch của công ty mới có ảnh hưởng nhiều hơn đến hành vi định giá của
công ty. Như vậy, những khác biệt về ERPT giữa các quốc gia có thể là do những khác
biệt về cơ cấu các ngành ở các quốc gia đó. Nếu như công ty ít quan tâm đến chiến lược
định giá trên các thị trường nhỏ, hiệu ứng “pricing-to-market” sẽ yếu và do đó, ERPT sẽ
mạnh hơn trong các nền kinh tế nhỏ.
Thứ ba, Mann (1986) trong công trình nghiên cứu của mình, đã khảo sát một số
biến kinh tế vĩ mô có thể ảnh hưởng đến độ lớn của ERPT. Ông cho rằng, tỉ giá thường
xuyên biến động có thể làm giảm ERPT bởi vì, các nhà nhập khẩu có thể thiên về điều
chỉnh tỉ suất lợi nhuận hơn là giá cả. Wei & Parsley (1995) và Engel & Rogers (1998) đã
cung cấp những bằng chứng thực nghiệm để khẳng định giả thiết này ở phạm vi ngành và
sản phẩm. Do đó, ERPT phải thấp hơn ở các nước có tỉ giá biến động thường xuyên hơn.
Tuy nhiên, nếu như công ty kì vọng rằng sự thay đổi của tỉ giá có tính chất lâu dài, chứ
không phải mang tính tạm thời thì nhiều khả năng, công ty sẽ thay đổi giá cả hàng hóa,
chứ không phải tỉ suất lợi nhuận, nên dẫn đến việc ERPT sẽ cao hơn. Vì vậy, ERPT phải
cao hơn ở các nước, nơi mà những thay đổi của tỉ giá thường kéo dài hơn (tỉ giá ổn định
hơn). Một biến kinh tế vĩ mô khác có ảnh hưởng đến độ lớn của ERPT – đó là tính ổn
định của tổng cầu (Mann, 1986). Nhưng thay đổi của tổng cầu cùng với dao động của tỉ
giá có ảnh hưởng đến tỉ suất lợi nhuận của nhà nhập khẩu trên thị trường cạnh tranh
không hoàn hảo, đồng thời làm giảm ERPT. Vì vậy, ERPT phải thấp hơn ở các quốc gia
có tổng cầu biến động nhiều hơn. Đồng tiền định giá hàng hóa cũng ảnh hưởng đến
ERPT. Lí do lựa chọn đồng tiền định giá, được nghiên cứu ở nhiều công trình khoa học
14


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
(Bachetta & Van Wincoop, 2001; Devereux & Engel, 2001; Giovannini, 1998) được cho
là tính ổn định của nội tệ. Một nước với đồng tiền quốc gia kém ổn định có tỉ lệ nhập
khẩu khá lớn được định giá bằng ngoại tệ thì việc yết giá bằng ngoại tệ cũng sẽ có lợi hơn
đối với các công ty chỉ kinh doanhtrên thị trường nội địa. Trong tình huống này, tỉ giá có
những tác động không chỉ đối với giá hàng hóa nhập khẩu, mà còn đối với giá hàng hóa
phi ngoại thương (non-tradables), và ERPT sẽ toàn phần (Tsesliuk, 2002). Một nhân tố
khác giải thích những khác biệt về ERPT giữa các quốc gia có thể là những khác biệt
trong mức lạm phát. Taylor (2000) khẳng định môi trường lạm phát ở trong nước càng
thấp và ổn định thì ERPT cũng càng nhỏ. Giả thiết của Taylor về mối quan hệ giữa lạm
phát và ERPT đã được kiểm định trong bài viết “Exchange Rate Pass-Through To
Domestic Prices: Does The Inflationary Environment Matter?” của Ehsan U. Choudhri và
Dalia S. Hakura vào năm 2001. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ERPT giảm dần
khi tình hình kinh tế vĩ mô ổn định hơn, cạnh tranh tăng lên và hành vi của các công ty
hướng đến việc tối đa hóa thị phần của mình. Theo kết luận của Dubravko & Marc
(2002), ERPT đã giảm từ giữa những năm 90 ở các nước đang phát triển, có thể là do các
điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định hơn và kết quả của cáccuộc cải cách cơ cấu được thực
hiện trong thời gian gần đây.

6

Các nghiên cứu trước đây:
1

Nghiên cứu của Taylor:

Taylor cho rằng quán tính và độ biến động của lạm phát càng thấp thì cảng giảm
khả năng của các công ty trung chuyển chi phí của họ sang giá bán do những biến động
của tỷ giá hay nhân tố khác, vì vậy ERPT thấp. Bài nghiên cứu này cho ta thấy rằng lạm
phát thấp được quan sát trong nhiều nước trong những năm gần đây đã làm giảm sự dịch
chuyển và sự làm giá của doanh nghiệp. Cụ thể, mô hình của việc điều chỉnh giá trong
môi trường cạnh tranh độc quyền ám chỉ rằng sức mạnh giá cả và sự liên tục của chi phí
có liên quan với nhau. Đối với một doanh nghiệp đang quyết định vào việc điều chỉnh giá
cả thì lạm phát thấp có thể được kết hợp với sự thay đổi chậm trong chi phí và giá cả tại
các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế. Nếu như giá cả đã được thiết lập cho vài thời kỳ
15


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
trước thì sự thay đổi chậm hơn sẽ dẫn đến việc dịch chuyển nhỏ hơn (không trùng với sự
tăng giá và chi phí). Điều này sẽ đúng nếu giá chi phí tăng bắt nguồn sự thay đổi của giá
nhập khẩu do có sự giảm phát của tỷ giá hoặc có sự thay đổi trong giá hàng hóa hoặc
lương. Bởi vì đã có bằng chứng chỉ ra việc lạm phát thấp kết hợp với xu hướng thay đổi
chậm, mô hình đã giải thích sự chuyển dịch khá ít trong những năm 1990 trong những
nước có lạm phát thấp.
2

Nghiên cứu của Romer: Romer (1993): “Openness and Inflation: Theory
and Evidence”

Bài viết này cho thấy rằng tỷ lệ lạm phát trung bình thì thấp hơn ở các nền kinh tế
nhỏ và mở cửa. Mối quan hệ này là có ý nghĩa thống kê, mẫu lớn, tương quan mạnh. Nó
đúng với hầu hết các quốc gia, ngoại trừ vài nước phát triển cao có tỷ lệ lạm phát trung
bình thấp và không liên quan đến sự mở cửa của nền kinh tế. Ở các quốc gia có chế độ
chính trị kém ổn định và ngân hàng trung ương thiếu tính độc lập thì mối tương quan âm
giữa lạm phát và mức độ mở cửa càng được thể hiện rõ nét hơn (xem biểu đồ Figure I ).
Cuối cùng, mối quan hệ này đo lường tương đối mức độ biến thiên về tỷ lệ lạm phát
trung bình của các quốc gia.

16


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi

Bài viết cũng đề xuất một giải thích về mối quan hệ này. Bởi vì chính sách mở rộng
tiền tệ đột ngột sẽ dẫn đến khấu hao tỷ giá hối đoái thực, và tác hại của khấu hao thực là
lớn hơn trong nền kinh tế mở, lợi ích của việc mở rộng bất ngờ sẽ làm giảm vai trò của
việc mở cửa nền kinh tế. Vì vậy, nếu có sự cấu kết của các cơ quan quản lý trong việc mở
rộng chính sách là một quyết định ngăn chặn quan trọng của lạm phát, có nghĩa là nếu
thiếu đi yếu tố ràng buộc loại trừ là cần thiết đối với chính sách tiền tệ, cơ quan quản lý
tiền tệ có thẩm quyền ở các nền kinh tế có mức độ mở cửa cao hơn thì mức độ mở rộng
sẽ dưới trung bình, và kết quả sẽ có tỷ lệ lạm phát dưới mức trung bình. Diễn giải kết quả
này ngụ ý rằng các nước phát triển cao nhất có thể tìm thấy một số giải pháp để khắc
phục các vấn đề xung đột trong chính sách tiền tệ tối ưu, nhưng các nước còn lai không
có khả năng này. Bài viết xem xét hai nghiên cứu khác giải thích về tương quan âm giữa
17


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
sự mở cửa và lạm phát, một nghiên cứu dựa trên sự mở cửa nội sinh và nghiên cứu kia
dựa vào khả năng của chính phủ để thu thập các loại doanh thu khác nhau có ảnh hưởng
như thế nào đối với mức độ mở cửa, và thấy rằng nó không phù hợp với thực tế.
Những phát hiện này cho thấy rằng các mô hình trong đó thiếu đi yếu tố ràng buộc
loại trừ trong chính sách tiền tệ dẫn đến mức lạm phát trung bình cao hơn mức cần thiết,
trong khi nó rất cần thiết để ước lượng được lạm phát ở hầu hết các nước trên thế giới.
Kết quả quan sát này là của Rogoffs, chỉ ra rằng chính sách quốc tế phối hợp có thể
không được mong đợi trong trường hợp thiếu đi yếu tố loại trừ: bởi vì phối hợp mở rộng
của hai nước không thể làm cho đồng tiền của mỗi nước mất giá so với các nước khác,
các khuyến khích để mở rộng (và do đó dẫn đến trạng thái cân bằng lạm phát) là cao hơn
dưới sự phối hợp. Nói cách khác, bằng cách phối hợp chính sách tiền tệ của họ, hai nước
sẽ khiến mình trở thành một nền kinh tế lớn hơn, và do đó mức độ mở cửa của nền kinh
tế sẽ kém đi. Việc này sẽ hạn chế tác động của khấu hao thực sự gây ra bởi sự mở rộng
bất ngờ tiền tệ, và do đó làm tăng trạng thái cân bằng lạm phát. Cùng một lý do trực tiếp
dẫn đến dự đoán mà tác giả tập trung vào trong bài viết này là: quốc gia càng lớn, và do
đó càng ít mở cửa nền kinh tế, đó là động lực để nó tiếp tục mở rộng, và tỷ lệ cân bằng
lạm phát cao hơn . Vì vậy, các mô hình có mức lạm phát trung bình cao hơn mức cần
thiết phát sinh từ sự thiếu đi yếu tố ràng buộc loại trừ sẽ dự đoán một mối quan hệ nghịch
biến giữa mức độ mở cửa và lạm phát. Các kết quả cũng cho thấy rằng tăng cường hợp
tác kinh tế và hội nhập, ngoại trừ hầu hết các nước phát triển cao, nên được xem xét một
cách thận trọng: trong việc thiếu đi một số cơ chế để khắc phục các vấn đề xung đột, tăng
sự hội nhập có thể dẫn đến sự gia tăng lớn trong lạm phát.

18


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ DỮ LIỆU:
7

Phương pháp nghiên cứu:
1

Sử dụng mô hình Var:
4.1.1.1.

Mô hình Var:

Mô hình Var về cấu trúc gồm nhiều phương trình (mô hình hệ phương trình) và có
các trễ của các biến số. Var là mô hình động của một số biến thời gian.
Ta xét 2 chuỗi thời gian Y1và Y2. Mô hình tổng quát đối với Y 1và Y2 có dạng sau
đây:
Y1t = + + + U1t
Y2t = + + + U2t
Trong mô hình trên, mỗi phương trình đều chứa p trễ của biến. Với hai biến, mô
hình có 22p hệ số góc và hai hệ số chặn. Trong trường hợp tổng quát, nếu mô hình có k
biến thì sẽ có k2p hệ số góc và k hệ số chặn, khi k càng lớn thì số hệ số phải ước lượng
càng tăng.
4.1.1.2.

Ưu điểm của mô hình:

Không cần xác định biến nào là biến nội sinh biến nào là biến ngoại sinh hay là ta
có thể sử dụng phương pháp OLS cho từng phương trình riêng rẽ.
4.1.1.3.

Nhược điểm của mô hình:

-

Do trọng tâm mô hình được đặt vào dự báo nên ít được dùng trong phân

-

tích chính sách.
Khi xét đến mô hình Var ta còn phải xét đến tính dừng của các biến trong

-

mô hình.
Khó khăn trong việc lựa chọn khoảng trễ thích hợp.

4.1.1.4.

Phương pháp ước lượng mô hình Var:

Phương pháp ước lượng mô hình Var:
19


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
-

Xét tính dừng của các biến trong mô hình. Nếu chưa dừng thì dung kỹ thuật

-

lấy sai phân để đưa về các chuỗi dừng.
Lựa chọn khoảng trễ phù hợp.
Xem xét mức độ phù hợp của mô hình chạy ra (bằng cách kiểm định tính
dừng của phần dư. Nếu phần dư của mô hình dừng thì mô hình nhận được

2

phù hợp với chuỗi thời gian và ngược lại.
So sánh các mô hình và lựa chọn mô hình phù hợp nhất.
Sử dụng phương pháp Var trong bài nghiên cứu:

Phân tích được thực hiện bằng cách sử dụng mô hình VAR chuẩn :
Yt = c +∑ΦiYt −1 +εt
Trong đó :

(1)

Yt : đại diện cho biến nội sinh
c : hằng số
Φi : Ma trận hệ số tự hồi quy
ε : biến nhiễu

Việc xác định cú sốc cấu trúc bằng cách sắp xếp thích hợp các biến và áp dụng phân
tích Cholesky đối với ma trận hiệp phương sai để làm giảm số dư εt .
Điểm khởi đầu của phân tích, mô hình VAR 6 biến giống như của McCathay 2000
và Hahn 2003. Mô hình VAR cơ bản áp dụng cho các quốc gia khác nhau bao gồm :
-

oilt: Chỉ số giá dầu.
yt : biến đầu ra.
et: tỷ giá hối đoái.
pimt: chỉ số giá nhập khẩu.
cpit: Chỉ số giá tiêu dùng.
it : lãi suất ngắn hạn.

Tỷ giá hối đoái và hai biến giá cả là những biến chính trong phân tích của tác giả.
Biến đầu ra và giá dầu để xem xét sự tác động đến mặt thực của nền kinh tế. Biến lãi suất
20


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
nhằm xem xét sự ảnh hưởng của thị trường tiền tệ, bao gồm cả tác động của chính sách
tiền tệ đến sự chuyển dịch.Trong mô hình cơ bản, các biến được sắp xếp theo thứ tự như
trên.
Trong mô hình cơ bản, các biến sẽ được sắp xếp theo thứ tự như trên. Việc sử dụng
một chương trình nhận dạng đệ quy ngụ ý rằng những cú sốc trong ngắn hạn đã đồng thời
ảnh hưởng đến các biến tương ứng và các biến được sắp xếp ở vị trí sau, nhưng lại không
có tác động đến những biến được sắp xếp trước đó. Do đó, dễ dàng để sắp xếp hầu hết
các biến ngoại sinh, trong trường hợp này biến đầu tiên là giá dầu. Vì vậy, những cú sốc
của giá dầu ảnh hưởng đồng thời đến tất cả biến khác trong mô hình nhưng giá dầu không
bị ảnh hưởng đồng thời bởi bất kỳ cú sốc nào khác. Các biến tiếp theo trong mô hình đó
là biến đầu ra và tỷ giá. Với cách sắp xếp này tác giả cho rằng có sự tác động đồng thời
của cú sốc cầu lên tỷ giá, trong khi tác động của cú sốc tỷ giá lên biến đầu ra cần một độ
trễ. Tiếp theo là biến giá, nó bị tác động đồng thời bởi các cú sốc đã đề cập trên (cú sốc
giá dầu, cú sốc cầu, cú sốc tỷ giá). Theo chuỗi giá cả, giá nhập khẩu đặt trước giá tiêu
dùng cho thấy sự tác động đồng thời của cú sốc giá nhập khẩu lên giá tiêu dùng nhưng
không có sự tác động ngược lại. Cuối cùng là biến lãi suất (xem xét trong thị trường tiền
tệ thông qua chính sách tiền tệ) phản ứng lại đồng thời lên tất cả các biến trong mô hình.
Các kỹ thuật cơ bản thể hiện chỉ là một trong nhiều lựa chọn thay thế hợp lý trong điều
kiện hiểu biết cho phép. Do đó, tác giả thực hiện phân tích sự biến động (độ nhạy) bằng
cách sử dụng hai mô hình khác.
Bài viết này xem xét lại các kết quả từ các nghiên cứu trước, tìm ra độ lớn của
ERPT và sự khác biệt giữa các quốc gia bằng mô hình VAR cho các nước mới nổi và cho
nền kinh tế các nước công nghiệp hóa ví dụ như: Khu vực sử dụng đồng Euro, Hoa Kỳ và
Nhật Bản. , Cách tiếp cận phương trình song song được sử dụng để tính đến khả năng nội
sinh cao và tiềm năng giữa các biến xem xét. Đơn giản, chỉ cần bỏ qua sự đồng thời đó,
như thường được thực hiện trong các phương trình đơn, sẽ cho kết quả sai lệch với
phương trình song song. Hơn nữa, mô hình mẫu được lựa chọn vì nó chỉ ra các tác động
phản ứng của các biến với những cú sốc ngoại sinh qua thời gian. Công trình nghiên cứu
21


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
cho đến nay đã ước tính các mô hình phương trình đơn lẻ hoặc hệ thống các mô hình
phương trình cho từng quốc gia riêng biệt, hoặc thiết lập các mô hình phương trình đơn
khác cho một hệ thống các quốc gia lớn (trích theo Choudhri và Hakura (2006), và
Mihaljek v.v…, 2000). Thay vào đó, trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng phương pháp
hệ thống một số nước đáng kể trong 3 khu vực thị trường mới nổi chính của thế giới, cụ
thể là Châu Á, Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu. Đồng thời, tác giả sử dụng phương pháp
tương tự với ba nền kinh tế công nghiệp lớn, đảm bảo tính so sánh thông qua các kết quả
nghiên cứu của các quốc gia này. Bằng cách đánh giá từng mô hình của mỗi quốc gia
trong khoảng thời gian dài nhất, hơn nữa tác giả hướng tới độ chính xác cao nhất có thể
trong ước lượng sự chuyển dịch cho mỗi quốc gia. Về mặt này, thành phần quan trọng để
phân tích là việc thiết lập cơ sở dữ liệu có thể so sánh được và phù hợp với mỗi quốc gia
theo định kỳ hàng quý, mà tiêu biểu cho thách thức chủ yếu là việc tìm nguồn cũng như
chất lượng của các dữ liệu cho các nước thị trường mới nổi. Điều này cũng đã giúp tác
giả đáp ứng những yêu cầu của một hệ thống phương pháp nghiên cứu dựa trên số lượng
biến tương đối cao để cho phép xem xét động lực đủ phong phú và để tránh sự thiên lệch
biến bị bỏ sót.
Sau khi tác giả sử dụng những kết quả của các quốc gia tác giả xem xét để nghiên
cứu các thông lệ trước đây rằng ERPT ở thị trường mới nổi cao hơn trong nền kinh tế
công nghiệp hóa và nghiên cứu các mô hình về hiệu ứng trung chuyển tỷ giá trong mối
tương quan của chúng, trích dẫn theo McCarthy (2000) và Choudhri và Hakura (2006).
Dù ERPT cao hay không cao ở thị trường mới nổi có thể là vấn đề để cân nhắc việc xác
định cán cân thương mại cũng như sự lựa chọn chế độ tỷ giá của một quốc gia. Mức độ
tương đối cao của sự chuyển dịch cho các nước đang phát triển cũng đã được xem như là
một nhân tố cơ bản chứng minh rõ ràng "khuynh hướng tránh dao động tỷ giá" của các
nước đang phát triển. Nó cũng có ý nghĩa bởi vì sự chuyển dịch thấp ở thị trường mới nổi
có thể khiến năng lực thị trường của các công ty ở những quốc gia này gia tăng không
ngừng, như là xu hướng toàn cầu hoá. Tuy nhiên, những quốc gia thị trường mới nổi bộc
lộ những nét đặc trưng quan trọng gây khó khăn trong việc ước lượng ERPT một cách
đáng tin cậy. Một số nước châu Á thường xuyên theo đuổi các chính sách tích cực nhằm
22


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
kiểm soát tỷ giá hối đoái. Các quốc gia Trung và Đông Âu đã trải qua một sự chuyển biến
căn bản nền kinh tế của họ trong những năm 1990. Cuối cùng, Thổ Nhĩ Kỳ và các nước
Mỹ Latinh đã trải qua những bất ổn kinh tế vĩ mô mạnh được đặc trưng bởi tỷ lệ lạm phát
rất cao và / hoặc biến động tỷ giá và lãi suất mạnh.
Kết quả của tác giả chỉ hỗ trợ một phần quan điểm phổ biến rằng mức độ ERPT ở
thị trường mới nổi cao hơn ở các nước phát triển (sử dụng như một chuẩn mực của Mỹ,
khu vực sử dụng đồng Euro và Nhật Bản). Cụ thể hơn, tác giả thấy rằng nền kinh tế mới
nổi lạm phát thấp (đặc biệt là nền kinh tế của các nước châu Á) sự chuyển dịch đến giá
tiêu dùng khá thấp. Liên quan đến vấn đề này, bài nghiên cứu ủng hộ toàn bộ giả thuyết
của Taylor, việc tìm kiếm bằng chứng về tương quan dương giữa sự chuyển dịch và lạm
phát ở những thị trường mới nổi. Mối liên kết này có ý nghĩa mang tính thống kê trên tất
cả các phương pháp xác định khác nhau đang được xem xét khi loại trừ 2 nước. Như
trong các nghiên cứu liên quan, thông thường, vai trò của sự mở cửa được tìm thấy là
yếu, thậm chí sau khi kiểm soát được mức độ tỷ lệ lạm phát.
3

Mô hình VECM:

Khi hồi quy mô hình với các biến là chuỗi thời gian thì yêu cầu đặt ra là các chuỗi
này phải dừng. trong trường hợp các chuỗi này chưa dừng thì ta phải lấy sai phân của
chúng cho đến khi có được chuỗi dừng. tuy nhiên, khi ta hồi quy các giá trị sau khi đã lấy
sai phân có thể sẽ bỏ sót những thông tin dài hạn trong mối quan hệ giữa các biến. Chính
vì thế khi hồi quy những mô hình đã lấy sai phân phải có thêm phần dư E. Ví dụ đốivới
mô hình có hai biến Y1và Y2 ta có:
++
Số hạng chính là phần mất cân bằng. Mô hình ước lượng sự phụ thuộc của mức
thây đổi của Y1 vào mức thây đổi của Y2 và mức cân bằng ở thời kì trước. Mô hình trên
được gọi là mô hình hiệu chỉnh sai số ECM.
Mô hình VECM là một dạng của mô hình Var tổng quát, được sử dụng trong trường
hợp chuỗi dữ liệu là không dừng và chứa đựng mối quan hệ đồng kết hợp.
23


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
Mô hình VECM tổng quát:

8

Mô tả dữ liệu:
Trong nghiên cứu này tác giả tập trung phân tích vào các quốc gia từ ba khu vực

trên Thế giới, Châu Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Hồng Kông), các
quốc gia Trung và Đông Âu (Cộng Hòa Czech, Hungary, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ) và các
nước Mỹ Latinh (Argentina, Chile và Mexico). Các quốc gia này được chọn gồm các
quốc gia có thị trường mới nổi tiêu biểu trong khu vực này. Ở mỗi quốc gia tác giả thu
thập dữ liệu theo quý trong quá khứ.
-

Giá dầu sẽ được tính bằng giá dầu thô theo đồng USD.
Biến đầu ra được sử dụng là GDP, dù trong vài trường hợp tác giả đã sử

-

dụng sản lượng công nghiệp để có một mẫu đầy đủ hơn trong nghiên cứu.
Tác giả đã sử dụng chính sách tỷ giá danh nghĩa ở các quốc gia.
Giá nhập khẩu và giá tiêu dùng được quy về đồng nội tệ, ngoại trừ Trung

-

Quốc do phân tích giá nhập khẩu và giá tiêu dùng không có giá trị.
Và cuối cùng, lãi suất ngắn hạn đại diện cho công cụ của chính sách tiền tệ.
Một dữ liệu mẫu qua các giai đọan đã được xác định là phù hợp và có sự
khác nhau giữa các quốc gia (Phụ lục mô tả chi tiết về nguồn gốc các dữ
liệu, dòng đầu tiên trong Bảng 1 và 2 của mẫu nghiên cứu).

Tóm lược về các điều kiện kinh tế vĩ mô của các thị trường mới nổi trong thời kỳ
của mẫu được thể hiện ở Bảng 1. Mức độ lạm phát trung bình thì tương đối thấp tại các
quốc gia Châu Á, đặc biệt là Đài Loan và Singapore. Cả hai quốc gia này đã quản lý nền
kinh tế để có được sự kết hợp hài hòa giữa tốc độ tăng trưởng GDP thực, tỷ lệ lạm phát
thấp và chính sách ổn định tỷ giá danh nghĩa có hiệu quả, cả về giá trị và độ bất ổn. Các
quốc gia Trung và Đông Âu cũng kết hợp đầu ra tăng trưởng cao vào khoảng 2-3% nhưng
một tỷ lệ lạm phát giảm. Đặc biệt hơn, tình trạng giảm phát xuất hiện sớm ở Cộng hòa
Séc mặc dù nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái và nó kéo dài cho đến những năm sau
khi khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 kết thúc. Trong khoảng thời gian được xem xét,
cùng với việc hòa nhập trở lại với hệ thống kinh tế thị trường của Cộng hòa Séc,
24


Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi
Hungary và Ba Lan, các nước này không những cho phéo áp dụng hệ thống định giá
thực, một phần giống với hiệu ứng Balassa – Samuelson, mà còn mở rộng cho vay dưới
chuẩn trong thời kỳ đầu của việc tái cấu trúc.
Trong thời gian chọn mẫu, một số quốc gia đã có kinh nghiệm trong việc đối mặt
với áp lực lạm phát. Có 2 quốc gia đứng ngoài việc này. Tuy nhiên, điều kiện tài chính
kinh tế vĩ mô không ổn định, luôn thay đổi tại Argentina, với những chính sách điều tiết
vĩ mô không phù hợp kéo dài đã dẫn đến bất ổn mở đầu thời kỳ siêu lạm phát. Áp lực lạm
phát cao và biến động tỷ giá quá lớn diễn ra mạnh mẽ ở Thổ Nhĩ Kỳ với những khó khăn
nghiêm trọng về tài chính diễn ra thường xuyên theo chu kỳ. Mexico cũng có đã có nhiều
bài học kinh nghiệm quan trọng hơn trong lĩnh vực này nhưng vẫn không thể lường hết
được tất cả các bất ổn của thị trường thông qua sự biến động tỷ giá hối đoái hiệu dụng
danh nghĩa. Thay vào đó, Chile lại cố gắng giữ mức lạm phát trung bình thấp ở mức 13%
từ năm 1980. Cuối cùng, các quốc gia có nền kinh tế mới nổi trong mẫu nghiên cứu của
tác giả được mô tả như những nền kinh tế mở với sự liên quan đến cấu trúc thương mại
của họ. Xem xét kim ngạch nhập khẩu trên phần trăm của GDP, tác giả tìm thấy mức độ
mở cửa ở hầu hết các nước trong mẫu được chọn và được xếp thứ tự giảm dần bao gồm
Hồng Kông, Singapore tiếp theo sau là Cộng hòa Séc và Hungary. Khi đem ra so sánh thì
các nền kinh tế lớn như Trung Quốc và Argentina có mối quan hệ mật thiết với các nền
kinh tế khác mới nổi trong nghiên cứu này.
Những tóm tắt trong bảng 2 cho thấy rằng điều kiện kinh tế vĩ mô ở ba nền kinh tế
phát triển làm tiêu chuẩn so sánh của tác giả, cụ thể là Mỹ, khu vực đồng euro, và Nhật.
Những quốc gia này cũng cho thấy rằng mức lạm phát trung bình thấp cũng như là điều
kiện kinh tế vĩ mô ổn định hơn so với thị trường mới nổi. Dựa vào số liệu lạm phát, trong
số thị trường kinh tế mới nổi thì tác giả kỳ vọng hệ số chuyển dịch lạm phát thấp nhất ở
châu Á và cao nhất là ở Châu Mỹ Latinh, ngoại trừ Chilê. Tuy nhiên, mức độ mở cửa nền
kinh tế có thể đóng góp một vai trò quan trọng trong việc cân bằng bằng cách làm giảm
sự tác động của sự chuyển dịch lên chỉ số CPI nhờ vào mối quan hệ mật thiết giữa các
quốc gia Mỹ La Tinh, đồng thời nó cũng mang đến tương quan dương trong trường hợp
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×