Tải bản đầy đủ

hieu qua ap dung thuy cham trongdieu tri benh mat ngu

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ:…………………………………………………………………..4
MỤC LỤC........................................................................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU...................................................................................................................6
1.3. Rối loạn giâc ngủ không thực tổn:................................................................................................10
1.4. Phương pháp tiếp cận mới trong điều trị mất ngủ.....................................................................11
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu..................................................................................28
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu:..............................................................................................................28
Bệnh nhân có rối loạn giấc ngủ điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.....28
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu:................................................................................................................28
Khoa khám bệnh cấp cứu, Bệnh viện Tâm thần tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu..............................................28
2.1.3. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 năm 2015 đến hết tháng 9 năm 2015.............................28
2.2. Phương pháp nghiên cứu:................................................................................................................28
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:..................................................................................................................28
2.2.2. Phương pháp chọn mẫu:...........................................................................................................29
2.2.3. Tiêu chuẩn loại trừ....................................................................................................................30
2.2.4. Công cụ nghiên cứu...................................................................................................................30
2.3. Kỹ thuật thu thập số liệu..................................................................................................................31
2.4. Nội dung thực hiện:..........................................................................................................................31
2.5. Phương pháp đánh giá:....................................................................................................................31

2.6. Phương pháp khống chế sai số........................................................................................................32
2.7. Kỹ thuật phân tích và xử lý số liệu....................................................................................................32
2.8. Đạo đức trong nghiên cứu................................................................................................................32
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................................................................................32
3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.........................................................................33
3.1.1. Phân bố tuổi, giới trong mẫu nghiên cứu.................................................................................33
3.1.2. Đặc điểm lâm sàng rối loạn giấc ngủ ở mẫu nghiên cứu Bảng6: Lâm sàng của mẫu nghiên
cứu........................................................................................................................................................34
3.2. Đánh giá hiệu quả điều trị của các nhóm sau 3 tháng điều trị.......................................................34
Chương 4: BÀN LUẬN...................................................................................................................................36
4.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu:.............................................................................................36
4.2. Đặc điểm lâm sàng của các nhóm nghiên cứu:...............................................................................37
4.3. Đánh giá hiệu quả điều trị giữa các nhóm nghiên cứu:..................................................................38
Chương 5: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ................................................................................................................42
5.1. Kết luận:............................................................................................................................................42

1


5.1.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu:.....................................................................................42
5.1.2. Đặc điểm lâm sàng của các nhóm nghiên cứu.........................................................................43
5.1.3. Đánh giá hiệu quả điều trị giữa các nhóm nghiên cứu............................................................43
5.2. Kiến nghị............................................................................................................................................44

2


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DSM-IV:

Hiệp hội Tâm thần Mỹ lần thứ 4

ICD-10:

Bảng phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ 10

PGS.TS:

Phó Giáo sư, Tiến sĩ



RLGN:

Rối loạn giấc ngủ

RLGNS:

Rối loạn giấc ngủ liên quan đến stress

SNTK:

Suy nhược thần kinh.

no- REM

Giấc ngủ không mơ

3


ĐẶT VẤN ĐỀ
Mất ngủ là một triệu chứng không đặc hiệu trong chẩn đoán các bệnh lý
tâm thần nhưng nó có giá trị trong việc theo dõi và đánh giá trong việc điều trị quản lý các bệnh nhân, nó là một phần quan trọng trong quan hệ thầy thuốc bệnh nhân, tạo được sự tin tưởng ở điều trị nơi bệnh nhân. Trong tâm thần học
cộng đồng mất ngủ là một dấu hiệu quan trọng để tiếp cận cộng đồng, một “cánh
cửa” để định hướng và góp phần phát hiện sớm các khó khăn về tâm lý - tâm thần
và thúc đẩy bệnh nhân đến tư vấn ở mạng lưới sức khỏe tâm thần.Trong hình
tượng sức khỏe của người dân, việc ngủ đầy đủ là một trong các biểu hiện cho
tình trạng thoải mái về sức khỏe và chất lượng cuộc sống, thậm chí ở một số bộ
phận dân chúng mất ngủ được coi như “căn nguyên” gây ra một số bệnh tâm thần
và quan niệm các thuốc hướng tâm thần là “thuốc ngủ” gây khó khăn trong quản
lý lâu dài các bệnh nhân tâm thần [3].
Mất ngủ là khi có một trong số các biểu hiện sau: Khó vào hay khó duy trì
giấc ngủ, dậy quá sớm, ngủ dậy vẫn cảm thấy mệt. Nếu mất ngủ thoáng qua sẽ
gây trạng thái buồn ngủ, vẻ mặt kém linh hoạt. Mất ngủ kéo dài sẽ gây mệt mỏi,
trầm cảm, dễ cáu gắt, giảm tập trung chú ý. Mất ngủ thoáng qua hay kéo dài cũng
đều ảnh hưởng đến khả năng làm việc, học tập, dễ gây tai nạn khi lái xe, vận hành
máy móc ...Suy nhược thần kinh (SNTK) là một tên gọi chung cho các biểu hiện
rối loạn thần kinh khi chưa đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán (có trong bảng phân loại
bệnh tâm thần của tổ chức Sức khoẻ thế giới).Những trạng thái bệnh trên nếu
không chữa trị sẽ dẫn đến sức khoẻ kém, thậm chí kiệt sức, bất an, lo lắng cho
cuộc sống bản thân và gia đình. Các rối loạn khác dễ dẫn đến nghiện rượu và
nghiện các thuốc an thần do tự điều trị… Cuối cùng bệnh nhân có nguy cơ mất
khả năng lao động và tình trạng này lại làm nặng thêm các diễn tiến trên [6].
Theo thống kê của Bệnh viện Tâm thần tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thì hàng
năm có đến trên 78% bệnh nhân đến khám bệnh điều trị ngoại trú có liên quan
đến rối loạn giấc ngủ liên quan đến stress, rối loạn thực tổn khác…Trong quá
trình điều trị rối loạn giấc ngủ ở những bệnh nhân này, chúng tôi sử dụng phương

4


pháp điều trị bằng tây y và đông y kết hợp đó là sử dụng phương pháp thủy châm.
Tuy nhiên tại bệnh viện cũng chưa có số liệu thống kê khoa học nào để đánh giá
hiệu quả của việc kết hợp điều trị cho người bệnh, vì vậy chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả phương pháp thủy châm trong điều trị rối loạn giấc
ngủ bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu”
nhằm hướng tới các mục tiêu sau:
- Mô tả đặc điểm lâm sàng của rối loạn giấc ngủ của bệnh nhân điều trị
ngoại trú.
- Đánh giá hiệu quả của việc kết hợp sử dụng phương pháp thủy châm
trong điều trị rối loạn giấc ngủ bệnh nhân điều trị ngoại trú.

5


Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các khái niệm và sinh lý học giấc ngủ.
1.1.1. Các khái niệm
Khái niệm về giấc ngủ: Giấc ngủ là tình trạng nghỉ ngơi tự nhiên theo chu
kỳ của thể xác và tâm thần. Trong tình trạng này người ta thường nhắm mắt và
mất ý thức một phần hay hoàn toàn do đó sẽ giảm các vận động và phản ứng đối
với các kích thích bên ngoài [3].
Khó ngủ: Được xác định theo quan điểm của các nhà lâm sàng là kéo dài
>30 phút từ lúc lên giường để ngủ mà không ngủ được. Loại rối loạn này thường
do những nguyên nhân như: Cá nhân không đủ độ mệt để ngủ như đi ngủ quá
sớm hoặc ngủ quá muộn, do ảnh hưởng của các rối loạn như căng thẳng, lo âu; sử
dụng các chất kích thích như cà phê, chè, rượu. v.v... hoặc các bệnh thực thể tồn
tại gây mất ngủ như đau, ưu năng tuyến giáp trạng, v.v...
Nhiều người khó ngủ còn do những nguyên nhân như đang ngủ bị kích thích phải
tỉnh giấc (ví dụ cần đi tiểu có thể do uống thuốc lợi tiểu) hoặc các yếu tố tâm lý
như lo âu, trầm cảm. Sử dụng các thuốc như các loại Corticoide, Thyroxine, lợi
tiểu. Và nhiều thuốc điều trị tăng huyết áp khác nhau cũng như các chất kích thích
như cà phê, chè, rượu.[11].
Ngủ nhiều: Thuật ngữ này để chỉ những người có rối loạn về giấc ngủ, và
thường ngủ nhiều về ban ngày. Đôi khi gây buồn ngủ khi ở trạng thái mệt mỏi
ban ngày. Tuổi càng cao thì tần số càng tăng đặc biệt sau khi ăn hoặc khi uống
rượu. Một số bệnh cũng có thể gây ngủ nhiều như tổn thương khu trú ở thân não
(cầu não, cuống não...), tràn dịch não, các bệnh thoái hoá thần kinh, loạn dưỡng
cơ, viêm não và màng não, động kinh, bệnh não do rối loạn ngộ độc và chuyển
hoá như sử dụng các thuốc an thần kinh, thuốc kháng histamin, thuốc điều trị tăng
huyết áp, thuốc chữa Parkison, suy gan, suy thận, bệnh phổi kèm tăng CO2 máu.
Các bệnh tâm thần như trầm cảm kèm ngủ nhiều, nghiện rượu. Các bệnh của
tuyến nội tiết[11].

6


Khái niệm về giấc mơ: Giấc mơ là một khái niệm liên quan đến trạng thái
tâm lý thường đi kèm với tình trạng động mắt nhanh (REM Sleep). Giấc mơ thực
chất có thể là "thiên đường" dẫn tới trạng thái mất ý thức theo quan niệm của các
nhà điều trị tâm lý học, nhưng không có bằng chứng rõ ràng thể hiện các biểu
tượng chung nhất về giấc mơ (ví dụ con rắn sẽ là biểu tượng cho dương vật) và
giấc mơ không thể dự đoán cho tương lai. Giấc mơ cũng có thể là biểu hiện
những gì từ vỏ não mới (Neocortex) để tạo nên những cảm giác cần thiết hiếm
hoi mà những tín hiệu nhận được xuất phát từ các trung tâm của vỏ não cao cấp
đang hoạt động. Về mặt tâm thần, giấc mơ không phải chỉ duy nhất xảy ra trong
giai đoạn ngủ có động mắt nhanh mà nó có thể xảy ra ở các giai đoạn khác của
giấc ngủ. Giấc mơ trong sáng (Lucid dream) là giấc mơ trong đó người nằm mơ
đang trong tình trạng động mắt nhanh, nhưng cũng biết rằng giấc mơ cũng chỉ là
giấc mơ thôi và thậm chí có một số người có thể tự kiểm soát được giấc mơ. [11].
Khái niệm về cơn ác mộng: Ác mộng thường xảy ra một cách mạnh mẽ
và thường cảm thấy căng thẳng và sự căng thẳng ngày càng tăng lên trong giai
đoạn giấc ngủ có động mắt nhanh. Theo thống kê trên thế giới hầu hết những
người khỏe mạnh bình thường có từ 1 đến 2 cơn ác mộng trong mỗi năm. Mặc dù
có một số ít người có thể có ác mộng nhiều hơn. Cơn ác mộng có xu hướng giảm
về tần số khi tuổi càng cao, nhưng lại có thể tăng lên do các stress ở bất cứ tuổi
nào. Cơn ác mộng cần phải phân biệt với cơn hoảng hốt ban đêm, cơn này thường
hay xảy ra trong giai đoạn giấc ngủ không có động mắt nhanh [11].
1.1.2. Sinh lý học giấc ngủ
Trong 50 năm qua, khoa học đã hiểu thêm nhiều về cơ chế giấc ngủ. Một
trong số quan niệm đó là ngủ là trạng thái bất hoạt động, vì khi ngủ các trạng thái
ức chế làm cho hoạt động của cơ thể đều chậm lại để tái sản xuất năng lượng,
tăng trí nhớ .Nhờ nghiên cứu sóng não đồ, các nhà nghiên cứu y khoa biết được
giấc ngủ có các chu kỳ và giai đoạn lặp đi lặp lại. Không những không hoạt động
chậm lại mà vào một số giai đoạn của giấc ngủ não còn hoạt động rất mạnh. Để
ngủ ngon, người ta trải qua những chu kỳ trên ít nhất bốn lần mỗi đêm và mỗi chu

7


kỳ phải đủ dài. Một giấc ngủ đêm bình thường có nhiều chu kỳ và mỗi chu kỳ
gồm hai giai đoạn lớn, thường được gọi là giấc ngủ chuyển động mắt nhanh hoặc
mơ (REM) và giấc ngủ không mơ (nonREM). Có thể biết một người đang trong
giấc ngủ REM khi nhãn cầu của người đó chuyển động nhanh [5].
Giấc ngủ (nonREM) được chia làm bốn giai đoạn nhỏ. Sau khi đặt lưng
nằm xuống, bạn từ từ đi vào giai đoạn một—thiu thiu ngủ. Lúc này các cơ giãn
ra, sóng não nhanh và không đều. Khi xảy ra lần đầu, giai đoạn này thường kéo
dài từ 30 giây đến 7 phút.
Khi bước vào giai đoạn hai—ngủ thật, sóng não có biên độ lớn hơn, bạn có
thể thấy những hình ảnh và ý tưởng rời rạc nhưng không ý thức cũng như không
thấy những việc xung quanh, cho dù mắt bạn có đang mở đi chăng nữa. Giai đoạn
này chiếm 20 % tổng số thời gian ngủ).
Kế đến là giai đoạn ba và bốn—ngủ sâu hơn và sâu nhất, còn được gọi là
giấc ngủ delta. Trong hai giai đoạn này (thường chiếm 50 % tổng số thời gian
ngủ), sóng não chậm và có biên độ lớn, bạn khó tỉnh giấc vì phần lớn máu trong
cơ thể đều dồn về các cơ. Đây là lúc cơ thể tái tạo tế bào và tự phục hồi, và cũng
chính trong giai đoạn giấc ngủ delta này, cơ thể của trẻ em phát triển. Cần lưu ý
rằng nếu không trải qua giai đoạn ngủ sâu delta thì một người, dù nhỏ hay lớn, sẽ
dễ bị mệt mỏi, lừ đừ hoặc thậm chí buồn bã vào ngày hôm sau[5].
Mỗi chu kỳ kết thúc với giai đoạn giấc ngủ REM có tính chất hoàn toàn
khác. Trong giai đoạn này (thường xảy ra sau mỗi 90 phút), máu dồn về não nhiều
hơn và sóng não đồ hầu như giống với khi bạn thức. Tuy nhiên, cơ bắp bạn không
thể cử động được, có lẽ để bạn khỏi hành động theo giấc mơ, nhằm tránh làm tổn
thương chính mình và người khác.Giai đoạn REM, hoặc mơ, xảy ra mỗi lần mỗi
dài thêm và rất quan trọng đối với sức khỏe tâm thần. Giống như máy vi tính, não
sàng lọc các thông tin trong bộ nhớ tạm, xóa bớt dữ liệu không quan trọng và lưu
lại những gì cần nhớ lâu. Giai đoạn REM nếu diễn ra không đều đặn theo chu kỳ
và không đủ dài thường gây rối loạn cảm xúc. Chẳng hạn, những người mất ngủ
có giấc ngủ REM ngắn hơn mức trung bình thường bị rơi vào vòng luẩn quẩn mất

8


ngủ lo lắng mất ngủ, khiến họ ngày càng hoang mang, lo sợ. Những người bị
thiếu ngủ trầm trọng sẽ bị giảm trí nhớ, giảm khả năng tập trung, diễn đạt, phân
tích và sáng tạo.
Điều gì khiến cơ thể buồn ngủ: Dường như có nhiều yếu tố phối hợp tạo
nên chu kỳ thứcngủ. Một trong các yếu tố đó là hóa chất trong não. Một khối tế
bào thần kinh trong não dường như cũng ảnh hưởng đến chu kỳ này. Chiếc “đồng
hồ” này nằm gần nơi hai dây thần kinh thị giác giao nhau. Chính vì vậy mà lượng
ánh sáng cũng có ảnh hưởng đến cảm giác buồn ngủ. Ánh sáng khiến bạn tỉnh
giấc, còn bóng tối có tác dụng ru ngủ.Một yếu tố nữa là thân nhiệt. Khi thân nhiệt
lên đến mức cao nhất-thường vào khoảng giữa buổi sáng và giữa buổi tối-là lúc
bạn tỉnh táo nhất. Thân nhiệt càng thấp, bạn càng cảm thấy buồn ngủ. Tuy nhiên
theo các nhà nghiên cứu, mỗi người có chu kỳ thứcngủ khác nhau [5].
1.2.

Tầm quan trọng của giấc ngủ:
Giấc ngủ có vai trò rất quan trọng là giúp cơ thể nghỉ ngơi và phục hồi

năng lượng. Giấc ngủ có chất lượng khi đáp ứng một số yêu cầu cơ bản sau: đủ
giờ, đủ sâu, cảm thấy khoẻ khoắn khi thức dậy... Các khảo sát cho thấy thời gian
ngủ giảm dần theo tuổi, thí dụ như bé mới sinh ngủ tới 17 giờ mỗi ngày, trẻ lớn
ngủ từ 9 - 10 giờ mỗi đêm, người trưởng thành ngủ từ 7-8 giờ mỗi đêm, riêng
người cao tuổi thường ngủ dưới 6 giờ mỗi đêm. Theo các nhà khoa học để đi vào
giấc ngủ, cơ thể chúng ta có một cơ chế điều hoà hết sức tinh vi và chặt chẽ bao
gồm sự kết hợp và tác động qua lại lẫn nhau của các yếu tố sau [9]:
-Yếu tố thần kinh trung ương: Với sự tham gia điều hoà và chỉ huy của hệ thống
cấu tạo lưới ở thân não đặc biệt vùng dưới đồi và đồi thị.
-Yếu tố thể dịch: Dưới sự phát động của hệ thần kinh trung ương các tuyến nội
tiết và não bộ tiết ra các nội tiết tố, hoóc môn, chất trung gian dẫn truyền thần
kinh có tính chất gây ngủ phong toả ức chế toàn bộ vỏ não.
- Yếu tố tâm lý, tâm thần: Trạng thái tinh thần thư thái yên tĩnh, nghỉ ngơi , không
bị kích thích, nhiệt độ và ánh sáng thích hợp…

9


1.3. Rối loạn giâc ngủ không thực tổn:
Ở đây chúng tôi đề cập đến loại mất ngủ mà không có nguyên nhân thực
thể nào được tìm thấy nhưng nguyên nhân tâm lý và cảm xúc là yếu tố nổi bật.
Theo phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ 10 (ICD –10) nhóm này bao gồm:
- Rối loạn giấc ngủ: biến đổi về số lượng, chất lượng và thời gian ngủ do các
nguyên nhân cảm xúc bao gồm mất ngủ, ngủ nhiều và rối loạn nhịp thức ngủ.
- Giấc ngủ thất thường: có sự kiện bất thường xảy ra trong lúc ngủ như trẻ con
quấy khóc, mê sảng, mê mộng hoặc người lớn trong khi ngủ có miên hành, hoảng
sợ, ác mộng [8]
F51.0: Mất ngủ không thực tổn
F51.1: Ngủ nhiều không thực tổn
F51.2: Rối loạn nhịp thức ngủ không thực tổn
F51.3: Đi trong lúc ngủ (chứng miên hành)
F51.4: Hoảng sợ khi ngủ (hoảng sợ ban đêm)
F51.5: Ác mộng
F51.8: Các rối loạn giấc ngủ không thực tổn khác.
F51.9: Rối loạn giấc ngủ không thực tổn, không biệt định.
Nguyên tắcđiều trị rối loạn giấc ngủ [10].
-Trước hết phải tìm nguyên nhân của các rối loạn giấc ngủ. Từ đó tìm biện pháp
giải quyết nguyên nhân.
-Áp dụng vệ sinh tâm lý giấc ngủ
-Tạo thói quen thức ngủ đúng giờ
-Tránh dùng thuốc và các chất có thể kích thích thần kinh trung ương
-Tránh các căng thẳng tâm lý
-Chế độ làm việc, nghỉ ngơi, luyện tập hợp lý, hài hoà tránh quá mức
-Trước khi đi ngủ dùng các phương pháp gây êm dịu cổ truyền như: bấm huyệt,
xoa bóp, tắm nước ấm…Áp dụng các liệu pháp tâm lý (có sự hỗ trợ của các nhà
tâm lý, thầy thuốc) như là thư giãn, luyện tập, âm nhạc,…

10


-Sử dụng các thuốc ngủ: Đây là biện pháp cuối cùng khi các phương pháp trên
không có hiệu quả. Sử dụng thuốc ngủ phải có sự chỉ định của thầy thuốc. Không
nên tự ý dùng thuốc ngủ vì có thể có tác dụng phụ hoặc lệ thuộc (nghiện) đặc
biệtlà các thuốc hướng thần. Hiện nay có nhiều thuốc được sử dụng để cải thiện
giấc ngủ.
• Các thuốc có nguồn gốc thảo dược: sen vông, rotundin, cao lạc tiên…
• Các thuốc ngủ thuộc nhóm Benzodiazepine: seduxen, tranxen, rivotril,
lexomil…
• Các thuốc ngủ không thuộc nhóm Benzodiazepine: stilnox, gardenal…
• Các thuốc chống trầm cảm có tác dụng gây ngủ: amitriptylin, sertraline,
fluvoxamine, remeron…
• Các thuốc an thần kinh: Aminazin, theralene, tisercin, olanzapin…Để điều trị
rối loạn giấc ngủ một cách tốt nhất, thầy thuốc phải chọn được một thuốc ngủ
thích hợp với tình trạng của từng người bệnh.
Thuốc ngủ lý tưởng cải thiện giấc ngủ phải đạt được các tiêu chuẩn sau
-Khởi đầu tốt và duy trì tốt giác ngủ
-Hiệu lực dài hạn mà không bị nhờn thuốc
-Phạm vi điều trị rộng và không gây ngộ độc quá liều
-Cải thiện chất lượng giấc ngủ, ngày hôm sau phải khoẻ khoắn và không mất tập
trung
-Thiết lập và duy trì giấc ngủ như bình thường
-Không gây khó chịu và tác dụng phụ khác
-Không gây tương tác với các thuốc và chất khác
-Không gây tình trạng lệ thuộc thuốc (nghiện), có thể bỏ và cắt giảm được.
1.4. Phương pháp tiếp cận mới trong điều trị mất ngủ
Một số người bị mất ngủ cần phải uống thuốc ngủ đều đặn mới duy trì
được giấc ngủ, nhưng đa số người mất ngủ đến khám bác sỹ không phải tối nào
cũng mất ngủ. Do đó trong nhiều trường hợp nên dùng thuốc gián đoạn và chỉ
uống thuốc khi người bệnh thấy cần thiết [10].Nguyên tắc này cho phép điều
chỉnh việc điều trị phù hợp với từng người bệnh và ngăn ngừa tình trạng dùng

11


thuốc ngủ liên tục hay dài hạn không cần thiết có thể dẫn đến nghiện, lệ thuộc đặc
biệt các thuốc ngủ dòng hướng thần Benzodiazepine (Seduxen, Rivotril…). Trong
mọi trường hợp điều trị mất ngủ kết hợp với cố gắng của bản thân, các biện pháp
y học dân tộc cổ truyền khác (tập yoga, tập thiền) để giảm tối đa việc dùng thuốc
- là lời khuyên của thầy thuốc dành cho những người bị mất ngủ.
1.5. Đặc điểm của rối loạn giấc ngủ
1.5.1. Mất ngủ thoáng qua và ngắn hạn
Thật ra thì cho đến nay vẫn chưa có một cuộc điều tra cơ bản nghiên cứu
chuyên biệt các rối loạn giấc ngủ thoáng qua và ngắn hạn, các dữ liệu chủ yếu
dựa trên các khảo sát tổng quát với các đối tượng có than phiền mất ngủ. Thí dụ
như vào 1975 Karacan, Thornby và Williams nghiên cứu trên 2347 cư dân nội thị
của Houston (Hoa Kỳ) thấy rằng có 25,4% than phiền vì thỉnh thoảng bị rối loạn
giấc ngủ và 6% thường xuyên.
Một nghiên cứu sâu rộng hơn trên mẫu đại diện cho dân số Hoa Kỳ trong
độ tuổi 18-79 của Méllinger, Balter, Uhlenhuthn vào 1985 cho thấy có 35% thỉnh
thoảng bị mất ngủ trong vòng 1 năm nay và 17% nói rằng tình trạng mất ngủ của
họ là nghiêm trọng.
Một nghiên cứu đoàn hệ của Angst, Vollrath, Koch và Dobbler - Mikola
(Thụy Sĩ) được công bố vào năm 1989 với 591 người được theo dõi từ lúc 20 - 21
tuổi đến năm 27 - 28 tuổi tại tổng Zurich (Thụy Sĩ) với 3 nhóm mất ngủ: mất ngủ
kéo dài trên 2 tuần, mất ngủ ngắn dưới 2 tuần và mất ngủ ngắn dưới 2 tuần nhưng
tái phát hàng tháng. Qua theo dõi ta thấy nhóm mất ngủ kéo dài có khuynh hướng
gia tăng nhẹ theo tuổi, thí dụ như ở độ tuổi 21 có 8% nam và 12% nữ thì lên 28
tuổi là 10% nam và 16% nữ. Nhóm mất ngủ ngắn thì hằng định với 17% nam,
20% nữ ở 21 tuổi và 18% nam, 19% nữ ở 28 tuổi. Nhóm mất ngủ ngắn tái phát thì
giảm nhẹ với 22% nam và 19% nữ ở 21 tuổi và 17% nam 13% nữ ở 28. Điều đặc
biệt trong nghiên cứu là các đối tượng dù mất ngủ ngắn luôn có chỉ số lo âu, trầm
cảm, ám ảnh cưỡng chế, tâm thể cao hơn nhóm chứng.
1.5.2.Mất ngủ kéo dài

12


Căn nguyên thực thể luôn được xem xét hàng đầu. Tạm chia 2 nhóm:
- Nhóm căn nguyên thần kinh với chấn thương sọ não, các bệnh lý thoái hóa
(Parkinson, sa sút tâm thần, xơ cứng rải rác, Creutzfedt-Jakob…), bệnh lý mạch
máu não… và nhóm căn nguyên cơ thể khá đa dạng với bệnh lý tim mạch, hô
hấp, tiêu hóa, thận, khớp, nội tiết, chuyển hóa [4].
- Nhóm tâm thần kinh luôn là nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất, ước tính từ 30-80% các
trường hợp mất ngủ kéo dài theo Vollrath (Thụy Sĩ 1989) Touchon (Pháp 1991)
Déalberto (Pháp 1992). Trong nghiên cứu trên 461 bệnh nhân tới khám vì mất
ngủ của Garma (Pháp 1993) đã thống kê được là 59,4% có các rối loạn tâm lý tâm
thần được chia ra các nhóm sau: rối loạn khí sắc 23,9%, tâm thần phân liệt 4,3%,
rối loạn lo âu (lo âu lan tỏa, ám ảnh) 25,6%; các rối loạn khác 6,6% [4].Ở TP.Hồ
Chí Minh các công trình điều tra về mất ngủ chuyên biệt chưa được thực hiện,
chúng ta chỉ có các dữ liệu về mất ngủ thông qua các khảo sát các loại bệnh tâm
thần, thí dụ cuộc điều tra trên bệnh nhân đa khoa bị trầm cảm năm 2001 cho thấy
con số là 72% bị mất ngủ, 91,4% ở bệnh nhân rối loạn stress sau sang chấn trong
cuộc điều tra năm 2001[6].
1.6. Thủy châm, khái niệm và phương pháp.
Thủy châm là phương pháp tiêm vào huyệt các thuốc tây y có chỉ định tiêm
bắp nhằm mục đích chữa bệnh. Với hai tác dụng của thủy châm là vừa phát huy
tác dụng lên hệ kinh lạc của dung dịch thuốc, vừa phát huy tác dụng dược lý của
thuốc.
Châm cứu Việt Nam trong những năm qua liên tục phát triển, trong các
phương pháp châm cứu truyền thống được kế thừa một cách có chọn lọc, các
phương pháp mới đã được nghiên cứu phát triển mạnh mẽ như điện châm, thủy
châm, laser châm(đưa năng lượng ánh sáng qua da và được hấp thụ vào mô, nó
làm nóng lên các mạch máu tại chỗ, gia tăng lưu thông máu làm giảm đau
các cơ vận động và khớp, các điểm đau, và cơ cứng cứng, thư giãn cơ bắp và
giảm co thắt cơ, giảm đau và cứng khớp liên quan với viêm khớp), từ châm…
Phương pháp thủy châm đã được nghiên cứu phát triển từ những năm 1971 từ

13


phòng nghiên cứu thủy châm của Hội Đông y Việt Nam do cố lương y Đặng Văn
Cáp và bác sỹ Nguyễn Tài Thu, Bác sỹ Nguyễn Năng An…thực hiện.
Đến nay phương pháp thủy châm đã được nghiên cứu phát triển, phổ cập
sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Công trình nghiên cứu tác dụng giảm đau của điện
châm và thủy châm trong điều trị một số chứng đau như đau sau phẫu thuật, đau
do K vòm giai đoạn cuối, đau lưng, đau dạ dày- tá tràng do PGS.TS Nghiêm Hữu
Thành là chủ nhiệm đề tài khoa học cấp nhà nước đã nghiệm thu năm 2010, là
một công trình khoa học chứng minh tính khoa học khách quan tính năng tác
dụng điều trị của phương pháp thủy châm.
1.6.1. Điều trị thủy châm dùng thuốc
Châm cứu, phương pháp trị liệu hiệu quả cho bệnh mất ngủ
Mất ngủ là căn bệnh phổ biến trong cuộc sống hiện đại ngày nay. Nếu
trước kia, mất ngủ chỉ thường gặp ở những người già thì giờ đây số lượng người
trẻ tuổi mắc chứng mất ngủ ngày càng tăng. Một trong những phương pháp điều
trị bệnh mất ngủ được mọi người quan tâm và đem lại hiệu quả cao hiện nay là
dùng biện pháp thủy châm.
Các nhà khoa học đã nghiên cứu và chứng minh rằng những cây kim thực
sự có công dụng thần kì trong việc điều trị các bệnh như đau đầu, mất ngủ, suy
nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, đau lưng cấp,… Bởi châm cứu lập lại cân
bằng âm dương, điều hòa hoạt động của hệ kinh lạc, làm giảm đau, phục hồi chức
năng vận động, điều hòa khí huyết, điều hoà nội tiết tố trong cơ thể. Cũng chính
vì lý do đó, mà châm cứu được coi là phương pháp chữa bệnh an toàn, đơn giản,
ít tốn kém, phù hợp với mọi lức tuổi, điều trị được nhiều loại bệnh (trong đó có
bệnh nan y, mãn tính) hiệu quả cao hiện nay.
Ưu điểm nổi trội của chữa bệnh bằng phương pháp châm cứu là không yêu
cầu bệnh nhân phải nhập viên, phương pháp châm cứu có thể chữa trị cho bệnh
nhân ở bất kỳ nơi nào từ bệnh viện đông y, trạm xá, phòng y tế, nhà bệnh nhân,…
Mặc dù phải điều trị trong một thời gian dài nhưng mỗi lần trị liệu chỉ thực hiện
khoảng 30 phút - 60 phút, thao tác nhanh đơn giản, không cần trang bị nhiều. Đối

14


với những bệnh nhân có bệnh nhưng do hệ miễn dịch kém hoặc dị ứng với thuốc
thì châm cứu sẽ rất hữu hiệu giúp bệnh nhân chống lại bệnh tật.
Ngoài ra, một thành tích không thể không nói đến của châm cứu là phương
pháp phương pháp châm tê đã giúp cho các bác sĩ gây mê giảm hoặc thay thế
hoàn toàn lượng thuốc mê, thuốc tê trong phẫu thuật cho những người già yếu
không đủ sức khỏe chịu đựng lượng thuốc mê lớn.
Theo Y học cổ truyền, nguyên nhân chung gây ra bệnh mất ngủ là do “Dương khí không giao hòa được với âm khí” nên tạng Tâm không “tàng được
thần”. Sách cổ nói“Vì âm hư nên mắt không nhắm được”. Âm ở đây là nói đến
chức năng của ba tạng là Can, Tỳ, Thận.Trong điều trị bệnh mất ngủ, các bác sỹ
sẽ đánh giá các dấu hiệu của mất ngủ liên quan như: tần suất mất ngủ, tình trạng
thể chất và tinh thần, nhịp tim, lưỡi, chế độ ăn uống và lối sống,… Theo đó châm
cứu sẽ tập trung vào các điểm phản ứng trên cơ thể. Cụ thể là:
Châm cứu hỗ trợ điều trị bệnh Mất ngủ hiệu quả
- Bổ 4 huyệt chủ yếu là: Tam âm giao, Chương môn, Thái xung, Thái khê.
- Tả nhóm huyệt an thần: Bách hội , Thượng tinh, Nội quan, Thần môn, An miên.
+ Nếu do Tâm huyết hư: Bổ nội quan, Thần môn, Tâm du, Cách du, Huyết hải,
Thái xung, Trung đô.
+ Nếu do Tâm – Tỳ khuy tổn: Bổ Tam âm giao, Thái bạch, Nội quan, Tâm du,
Cách du, Túc tam lý.
+ Nếu do Tâm - Thận bất giao: Bổ Tam âm giao, Quan nguyên, Khí hải, Thận du,
Thái khê.
+ Nếu do Can huyết hư: Bổ can du, Cách du, Tam âm giao, Huyết hải, Thái xung.
+ Nếu do Thận âm hư – Can, Đởm hoả vượng: Bổ Tam âm giao, Quan nguyên,
Khí hải, Thận du. Tả Bách hội, Thái xung, Khâu khư.
+ Nếu do Vỵ khí không điều hoà: Tả Thiên đột, Trung quản, Thiên khu. Bổ Tam
âm giao, Túc tam lý, Thái bạch, Nội quan, Tỳ du, Vỵ du. Châm cứu các huyệt
trên giúp kích thích sản xuất ra các hormon có ích và emdorphin (giúp giảm đau

15


tự nhiên) và làm dịu hệ thống thần kinh trung ương. Ngoài ra Châm cứu tác động
lên các huyệt đạo của cơ thể còn giúp làm ấm và thả lỏng cơ bắp.
Bên cạnh đó, trong phương pháp châm cứu, các lương y cũng sẽ sử dụng
phép thủy châm: châm lên các vùng có nhiều cơ như: Thận du, Túc tam lý, Phong
trì, Khúc trì,... kết hợp dùng các vitamin nhóm B và các thuốc có tác dụng dinh
dưỡng và bảo vệ tế bào thần kinh, đồng thời kết hợp với xoa bóp bấm huyệt tác
động cơ học trực tiếp lên các điểm cảm thụ về xúc giác của da, cơ và hệ thần
kinh. Làm thay đổi về tuần hoàn, về thần kinh – thể dịch từ đó có những ảnh
hưởng tích cực đến tiến triển của bệnh.
Châm cứu chữa trị bệnh mất ngủ hầu hết có hiệu quả trong mọi trường hợp.
Nếu các bạn cảm thấy trong người có các dấu hiệu của mất ngủ, căng thẳng, mệt
mỏi,... thì có thể tìm đến biện pháp châm cứu này và đã chữa khỏi cho hàng ngàn
bệnh nhân mắc các bệnh Thần kinh, trong đó có bệnh Mất ngủ bằng các phương
pháp y học cổ truyền như bắt mạch, châm cứu, xoa bóp và bào chế các bài thuốc
từ các loại thảo dược quý trong tự nhiên.
1.6.2. Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với ngành y tế Việt Nam.
Người cho rằng: “Y học phải dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc, đại
chúng. Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh
bằng thuốc ta, thuốc bắc. Ðể mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên
chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc Ðông và thuốc Tây” (Thư gửi Hội nghị
cán bộ y tế, ngày 27/2/1955). Theo Bác, “Thuốc tây chữa được nhiều bệnh,
nhưng cũng có bệnh chữa không được mà thuốc ta chữa được; thuốc ta chữa được
nhiều bệnh, nhưng cũng có bệnh chữa không được mà thuốc tây chữa được... Bên
nào cũng có cái ưu điểm, hai cái ưu điểm cộng lại thì chữa được bệnh tốt cho
đồng bào, cho nhân dân, phục vụ cho xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thầy thuốc tây
phải học Đông y, thầy thuốc ta cũng phải học Tây y... Đó chính là sự kết hợp giữa
y học hiện đại và y học dân tộc. Định hướng đúng đắn này của Bác kính yêu đã
được Đảng và Nhà nước ta thực hiện đạt kết quả tốt. Những năm qua, ngành y tế
nước nhà đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, kết hợp chặt chẽ giữa Y học cổ

16


truyền và Tây y, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Những vốn quý của y học cổ truyền đã được lưu giữ và phát triển. Hiện nay, ở tất
cả các cấp y tế, các cấp đào tạo từ thấp đến cao đều có giảng dạy Y học cổ truyền,
điều này làm cho các cán bộ y tế nước ngoài đến chúng ta rất ngạc nhiên bởi sự
có mặt của Khoa (Bộ môn) Y học cổ truyền trong trường đào tạo và Khoa Đông
Y trong các Bệnh viện hoặc Viện nghiên cứu chuyên ngành Y học cổ truyền.
Theo Hồ Chí Minh, Đông y và Tây y không phải là hai ngành y tế mâu
thuẫn đối lập nhau mà có thể kết hợp, hỗ trợ nhau. Trên cơ sở thực hiện quan
điểm của Người, nền y học nước ta cũng đã có sự kết hợp trên nhiều phương diện
giữa Đông y, Tây y và đã hình thành một đội ngũ thày thuốc nắm vững cả y dược
học cổ truyền và y được học hiện đại. Đây là một nét đặc sắc của nền y học nước
ta. Trên cơ sở kế thừa tư tưởng y lý truyền thống, y học cổ truyền dân tộc và tiếp
thu tinh hoa y học thế giới, trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế vào tháng 2 1955, Hồ Chí Minh viết: ''Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu
về cách chữa bệnh bằng thuổc ta, thuốc bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô,
các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc ''Đông'' và thuốc ''Tây''.
Quan điểm về kết hợp Đông - Tây y thể hiện rõ nét nhất khi Người phát biểu tại
Bệnh viện Đông y (nay là Viện y học cổ truyền) vào ngày 16 - 1 - 1961: thuốc
Tây y cũng chữa đựợc nhiều bệnh song có bệnh không chữa được mà thuốc ta
chữa được. Thuốc ta cũng chữa được nhiều bệnh nhưng có bệnh cũng chữa không
được mà thuốc Tây chữa được. Thuốc ta có sa nhân, phụ tử chữa được nhiều
bệnh; thuốc Tây có Aspirin, Penixillin cũng chữa được nhiều bệnh. Bên nào cũng
có ưu điểm, hai cái ưu điểm cộng lại thì chữa bệnh tốt cho nhân dân.
Theo Người, Đông y và Tây y có thể bổ sung, hỗ trợ nhau cùng phát triển.
Bởi lẽ, không có một thứ y học nào hoàn hảo chữa được hết thảy mọi bệnh tật mà
con người mắc phải. Nhưng nếu chúng ta biết nghiên cứu loại bỏ cái dở, phối hợp
cái hay của y học cổ truyền dân tộc với y học hiện đại sẽ có nhiều khả năng chăm
sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân một cách hiệu quả. Do vậy, thày thuốc Tây y phải
học Đông y, thày thuốc ta cũng phải học Tây y. Thày thuốc Đông y và thày thuốc

17


Tây y đều phục vụ nhân dân giống như mỗi người có hai cái tay, hai cái tay cùng
làm việc thì việc được tốt. Vì thế phải đoàn kết từ trên xuống dưới, từ dưới lên
trên, kết hợp thuốc ta và thuốc.
Tây để chữa bệnh cho nhân dân. Kết hợp Đông - Tây y là biểu hiện cơ bản
của quan điểm xây dựng nền y học Việt Nam của Hồ Chí Minh theo nguyên tắc:
khoa học, dân tộc và đại chúng. Theo Người, trong quá trình xây dựng nền y học
nước nhà cần phải dựa trên nguyên tắc khoa học chứ không chỉ dừng lại ở mức
sao cho thích hợp với nhu cầu của nhân dân. Thực tế, không phải chỉ Tây y mới
khoa học mà Đông y cũng là khoa học. Không chỉ máy móc hiện đại là khoa học
mà cách thức bắt mạch, kê đơn, dùng thuốc lá, thuốc cây, thuốc con, kể cả việc ăn
ở hợp vệ sinh cũng là khoa học. Nguyên tắc khoa học trong xây dựng nền y học
nước ta nói chung và hoạt động nghề nghiệp của người thày thuốc nói riêng bao
gồm không chỉ hệ thống tri thức khoa học, trang thiết bị khoa học mà còn gồm cả
thái độ khoa học, tác phong khoa học. Theo Người, đội ngũ thày thuốc y tế ở mọi
ngành, mọi cấp, mọi lĩnh vực khác nhau đều cần phải thực hiện nguyên tắc khoa
học trên đây. Tri thức khoa học, thuốc chữa bệnh và máy móc khám chữa bệnh là
rất cần thiết nhưng như thế là chưa đủ. Khác với nhiều lĩnh vực, trong hoạt động
chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, khâu khám, chữa bệnh không được
phép làm thử nghiệm hoặc để xảy ra sai sót. Bởi lẽ, đằng sau các chẩn đoán, nhận
định, cách điều trị đúng hay sai là liên quan trực tiếp đến cái sống và cái chết, đến
tính mạng một con người. Do đó, không có thái độ khoa học, phong cách khoa
học trên nền tảng y đức ''lương y như từ mẫu'' thì hậu quả sẽ là khôn lường. Kết
hợp Đông - Tây y sẽ tạo cơ sở cho người thày thuốc vừa có tri thức khoa học vừa
có thái độ và tác phong khoa học trên bề dày y đức của truyền thống y học Đông Tây y để chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về kết hợp Đông - Tây y ở đội ngũ thày thuốc
Việt Nam đồng thời còn dựa trên nguyên tắc dân tộc. Hồ Chí Minh đánh giá cao
truyền thống chữa bệnh của cha ông ta bằng thuốc ta, thuốc bắc. Do vậy, khi gửi
thư cho cán bộ ngành y dược, Người thường căn dặn thi đua tìm ra những thứ

18


thuốc mà nước ta sẵn có nguyên liệu, dễ kiếm và chữa bệnh hiệu nghiệm. Những
thày thuốc tiêu biểu như Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông, với một lôgíc chặt
chẽ và sắc bén, đã kết hợp kinh nghiệm dân gian cổ truyền và thực tiễn trên lâm
sàng, nhờ đó đã giữ vững và phát triển nền y học dân tộc. Nguyên tắc dân tộc còn
có nghĩa là trên cơ sở bản sắc văn hóa dân tộc tiếp thu tất cả những cái tốt của cả
Đông y và Tây y để xây dựng nền y học Việt Nam. Đối với đội ngũ thày thuốc,
nguyên tắc dân tộc, việc tổng hợp tri thức y học Đông - Tây là phương châm hành
động để đáp ứng được nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, góp
phần xây dựng nền y học Việt Nam dân tộc và hiện đại.
Nguyên tắc khoa học, dân tộc trong xây dựng nền y học nước ta xét đến
cùng là xuất phát từ con người và hướng đến con người, thể hiện chủ nghĩa nhân
văn thấm đượm từ bản chất đến hành động. Vì vậy, nguyên tắc khoa học, dân tộc
tất nhiên đến nguyên tắc đại chúng. Đội ngũ thày thuốc trong quá trình thực hiện
kết hợp Đông- Tây y luôn luôn phải dựa vào phong trào quần chúng, nhất là trong
lĩnh vực vệ sinh phòng bệnh rèn luyện sức khoẻ. Kết hợp Đong - Tây y là để phục
vụ nhân dân lao động, trước hết ở cơ sở. Nguyên tắc khoa học, dân tộc, đại chúng
gắn bó chặt chẽ với nhau. Kết hợp Đông - Tây y trong hoạt động chăm sóc, bảo
vệ sức khoẻ nhân dân của đội ngũ thày thuốc phải dựa vào các nguyên tắc khoa
học, dân tộc và đại chúng, để xây dựng nền y học Việt Nam hiện đại, thích hợp
với nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân.
Từ nhiều thập kỷ nay, chúng ta đã thực hiện tốt quan điểm của Hồ Chí
Minh về kết hợp Đông - Tây y trong việc đào tạo và hoạt động của đội ngũ thày
thuốc Việt Nam. Các văn kiện của Đảng, từ Đại hội III đến nay, đều yêu cầu phải
thực hiện kết hợp Đông - Tây y trên mọi mặt: phòng bệnh, chữa bệnh, sản xuất
thuốc men, đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học. Đến tháng 6 - 1999, Nghị định
37/CP của Chính phủ đã xác định những phương hướng mang tính chiến lược cho
những năm 1996-2000 và 2020 trong việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện
đại:
- Triển khai toàn diện chương trình mục tiêu của ngành y tế về y học cổ truyền.

19


- Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng và hiện đại hoá y học cổ truyền
trên các mặt: nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, chẩn đoán điều trị, sản xuất
thuốc và nguyên liệu làm thuốc.
- Đẩy mạnh đào tạo đội ngũ cán bộ thực hành y học cổ truyền, thành lập các khoa
y học cổ truyền tại Đại học y Hà Nội và Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh.
- Ngành y tế phối hợp với Hội Y học cổ truyền Việt Nam và các Hội quần chúng
khác vận động nhân dân phát triển các loại cây con làm thuốc. Cho đến nay, kết
quả thực hiện các phương hướng mang tính chiến lược trên đây là đã đào tạo
đuợc một đội ngũ thày thuốc mang nét đặc sắc của nền y học nước ta. Đó là đội
ngũ thày thuốc thành thạo cả y dược học cổ truyền và y học hiện đại. Nói khác đi
đây là đội ngũ “thầy thuốc kết hợp'' theo các chuyên ngành y học hiện đại lớn
khác nhau như: đa khoa, nha khoa, vệ sinh địch tễ, răng hàm mặt. Từ các chuyên
ngành lớn này các bác sĩ có thể am hiểu một hoặc vài chuyên ngành y học cổ
truyền như: am hiểu Hán Nôm; luật trị theo lý pháp, phương, dược trong điều trị;
thày thuốc chuyên khoa gia truyền dùng thuốc nam hay thuốc bắc trong điều trị;
chuyên dùng lý liệu trong điều trị (châm cứu, bấm huyệt, xoa bóp, chích lể, khí
công...). Xét về cấp bậc học hàm, học vị, đội ngũ này cho đến năm 2000 có: 22
giáo sư, phó giáo sư, 20 tiến sĩ, 25 thạc sĩ, 48 bác sĩ chuyên khoa 2 và350 bác sĩ
chuyên khoa 1. Ngoài ra còn phải kể đến hơn 5.000 bác sĩ và 250 dược sĩ đại học
của y dược học hiện đại được bồi dưỡng y dược học cổ truyền dân tộc. Đội ngũ
thày thuốc này đã và đang là những người nòng cốt trong quá trình kế thừa, ứng
dụng và nghiên cứu kết hợp y học cổ truyền dân tộc với y học hiện đại ở Trung
ương và địa phương.
Hội Y học cổ truyền, Hội Châm cứu cũng đã mở các lớp bồi dưỡng nâng
cao trình độ cho hàng nghìn lương y, y bác sĩ là hội viên. Bộ Y tế đã tổ chức được
cho khoảng 300 lương y giỏi trong tổng số khoảng 22.000 thày thuốc y học cổ
truyền dân tộc sinh hoạt tại 2.618 chi hội cơ sở của Hội Y học cổ truyền dân tộc,
để bồi dưỡng và nâng cao trình độ theo hướng kết hợp Đông - Tây y. Hoạt động
của đội ngũ thầy thuốc kết hợp Đông - Tây y đã nâng cao phương pháp phòng

20


bệnh, chữa bệnh của y học cổ truyền như phương pháp dưỡng sinh, phương pháp
nắn bó gãy xương, phương pháp bào chế, chế biến thuốc cổ truyền... Khoa học
châm cứu của Việt Nam đã đạt trình độ cao được thế giới công nhận. Phương
pháp châm cứu đã được sử dụng trong nhiều lĩnh vực y học hiện đại. Hiện nay,
châm tê để mổ đã được thực hiện trên 60 loại phẫu thuật, từ tiểu phẫu đến đại
phẫu khác nhau và có hiệu quả tại nhiều cơ sở ngoại khoa. Một số phác đồ châm
tê mổ bướu cổ, mổ tuyến ức đã được phổ biến đến một số cơ sở ngoại khoa. Các
thày huốc kết hợp Đông - Tây y đã xác định được 35 loại bệnh chữa có kết quả
tốt bằng thuốc y học cổ truyền và châm cứu. Phương pháp biện chứng luận trị của
y học cổ truyền dân tộc đã được vận dụng để chữa trị có kết quả nhiều chứng
bệnh về nội nhi, phụ, ngoại, nhãn khoa, tai mũi họng và ngoài da. Nhiều trường
hợp bệnh khó chữa, mãn tính đã được giải quyết tốt bằng y học cổ truyền hoặc
bằng kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại
Việc chữa bệnh bằng y học cổ truyền hiện nay không chỉ được các thầy
thuốc thực hiện tại các viện, bệnh viện y học cổ truyền, tại các phòng chẩn trị, tổ
chẩn trị y học cổ truyền. mà đã trở thành việc làm bình thường tại nhiều khoa y
học cổ truyền trong nhiều viện, bệnh viện y học hiện đại. Các thầy thuốc tại cơ sở
cũng đã chú trọng hướng dẫn nhân dân sử dụng cây thuốc gia đình: cây rau ăn,
cây cảnh, cây ăn quả... ''Tủ thuốc xanh'' của gia đình đang được các thầy thuốc ở
cơ sở tiếp tục sưu tầm, làm phong phú hơn. Việc kết hợp xoa bóp, day ấn để tự
chữa một số bệnh thông thường tại gia đình và cộng đồng đang được mở rộng ở
cơ sở.
Quá trình đào tạo và hoạt động của đội ngũ thầy thuốc kết hợp Đông - Tây
y theo quan điểm của Hồ Chí Minh đã góp phần xây dựng nền y học nước ta đáp
ứng được nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân phù hợp với truyền thống
văn hoá dân tộc. Các nguyên tắc khoa học, dân tộc và đại chúng đã được chỉ đạo
và thẩm thấu vào quá trình đào tạo, hoạt động của đội ngũ thày thuốc nước ta ở
mọi ngành, mọi cấp. Đây là một nét đặc sắc của giới thày thuốc Việt Nam.
1.6.3. Theo thuyết âm dương ngũ hành:

21


Trong khi nghiên cứu tìm hiểu để thừa kế vốn Y học cổ truyền của dân tộc,
người cán bộ y dược quen với phương pháp và cách suy nghĩ làm việc theo khoa
học hiện đại truyền đạt trên ghế nhà trường đại học hiện nay thường vấp phải một
trở ngại. Hầu hết các sách, các kinh nghiệm chữa bệnh, chế thuốc, dùng thuốc đều
viết và nói bằng những tiếng rất xa lạ đối với khoa học ngày nay như âm dương,
hàn nhiệt, hư thực, biểu lý, thận thủy, thận hỏa…Học thuyết này trước nay lại
được diễn đạt một cách rất khó hiểu, nhiều khi được bao phủ bởi một lớp vỏ
đượm màu mê tín, vì học thuyết này đồng thời là cơ sở của nhiều ngành học cổ
như môn địa lý, tử vi, bói toán… Cho nên nhiều người cho rằng trong lúc nghiên
cứu theo phương pháp của khoa học hiện đại còn chưa đủ thời giờ thì tội gì lại
đâm đầu vào tìm hiểu một vấn đề đã lạc hậu. Sự thực thì sau khi tước bỏ lớp
ngoài đượm màu mê tín, huyền bí do người đời sau thêm thắt xuyên tạc, chúng ta
sẽ thấy học thuyết “Âm dương ngũ hành” chứa đựng những chân lý khách quan
và giúp ta một phương pháp suy luận mới khác với những suy luận quen thuộc.
Thực vậy, theo học thuyết này vạn vật biến chuyển không ngừng, vạn vật chứa
mâu thuẫn và sự sinh tồn của vạn vật là do sự ức chế và thúc đẩy lẫn nhau của hai
lực lượng đối lập và gắn liền với nhau gọi là “âm” và “dương”. Sau đây gần như
nguyên là lời văn của người xưa: “Vũ trụ khi mới hình thành là một khối thống
nhất gọi là thái cực. Thái cực biến hóa sinh ra lưỡng nghi là âm và dương. Âm
dương kết hợp với nhau để sinh ra ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ.
Ngũ hành (năm thứ vật chất) này lại có sự kết hợp chặt chẽ để tạo ra “Tam
tài” (ba lực lượng) là Thiên (trời), Địa (đất) và Nhân (người). Trong mỗi lực
lượng này lại có sự kết hợp chặt chẽ và cân bằng giữa “âm” “dương” và “ ngũ
hành”.Âm dương không phải là một vật chất cụ thể nào, mà là thuộc tính mâu
thuẫn n»m trong tất cả mọi sự vật. Nó giải thích hiện tượng mâu thuẫn chi phối
mọi sự biến hóa và phát triển của sự vật.Phàm cái gì hoạt động tích cực, hưng
phấn, hướng lên… đều thuộc dương. Tất cả những gì trầm tĩnh, ức chế, mờ tối, đi
xuống… đều thuộc âm. Âm dương bao hàm ý nghĩa đối lập, nhưng còn bao hàm
ý nghĩa nguồn gốc ở nhau mà ra; hỗ trợ, chế ước lẫn nhau mà tồn tại. Do đó,

22


không thể chỉ có âm, hoặc chỉ có dương. Trong hình vẽ người xưa về hình tượng
âm và dương, người ta vẽ hai phần bằng nhau đen và trắng và ước gọi với nhau
phần trắng là dương, còn phần đen là âm. Nhưng trong phần trắng lại có một
điểm đen và trong phần đen có một điểm trắng để tượng trưng trong dương có
mầm mống của âm; trong âm có mầm mống của dương. Người ta còn nói: “Trong
âm có âm dương và trong dương cũng có âm dương; âm đến cực độ sinh ra
dương, dương đến cực độ sinh ra âm, tức là hàn đến cực độ sinh ra nhiệt, nhiệt
đến cực độ sinh ra hàn”. Những lời lẽ có vẻ huyền bí khó hiểu ấy lại trở thành rất
chính xác, dễ hiểu khi ta nhìn cục nam châm với hai cực Nam và Bắc. Nếu ta bẻ
đôi cục nam châm ấy ra thì lập tức ở phần cực Nam lại xuất hiện một đầu Nam và
một đầu bắc; và ở cực hoàn toàn Bắc lại xuất hiện một cực Nam và một cực Bắc.
Nghĩa là Nam nằm sẵn trong Bắc và Bắc cũng đã nằm sẵn trong Nam; trong Nam
có Nam, Bắc và trong Bắc cũng có cả Bắc, Nam. Thuyết “Ngũ hành” với luật
sinh khắc, chế hóa cũng chỉ là một cách diễn đạt những đặc tính và sự liên quan
với nhau, đối lập và nương tựa thống nhất với nhau của các sự vật. Ví dụ như
người xưa tượng trưng thận (bao gồm cả tuyến thượng thận) thuộc chất “nước”
(thủy); gan và mật thuộc chất “gỗ”(mộc); tim (bao gồm cả bao tim) thuộc chất
“lửa” (hỏa); dạ dày thuộc chất “đất” (thổ)… thực ra là người xưa đã diễn đạt một
số tính chất và sự liên quan chặt chẽ giữa các cơ quan đó với nhau. Và khi chữa
bệnh một cơ quan nào phải luôn nhớ sự liên quan đó. Ví dụ để diễn đạt sự liên
quan giữa thận, gan và tim, thuyết “Ngũ hành” nói rằng thận thuộc thủy, gan
thuộc mộc và tim thuộc hỏa, trong đó “thủy” (thận) sinh ra “mộc”; “mộc” (gan)
lại sinh ra “hỏa” (tim). Do đó, muốn chữa bệnh ở tim có khi người ta dùng vị
thuốc tác động trực tiếp lên tim, nhưng có khi người ta lại dùng những vị thuốc
tác động vào gan; hoặc hơn nữa có khi vào thận. Vì như vậy là tác động lên
nguồn gốc bệnh nằm ở cơ quan trực tiếp hay xa hơn nữa đã sinh ra nó, vì tim là
“con” của gan và cháu của “thận”.
Các nhà khoa học chỉ muốn nhắc lại rằng, trong khi chưa có khoa học hiện
đại, ông cha ta đã nhờ những học thuyết này mà tìm thuốc chữa bệnh có kết quả.

23


Như Hải Thượng Lãn Ông, một thầy thuốc Việt Nam nổi tiếng ở vào thế kỷ
XVIII, trước khi vào nghề y đã học được thuật “âm dương”. Cho nên khi tình cờ
đọc sách thuốc đã thâu nhận môn học này một cách nhanh chóng và đã vận dụng
một cách sáng tạo học thuyết này trong chữa bệnh mà trở nên bất tử. Ai đã đọc
sách của Hải Thượng đều thấy rõ trong bất kỳ trường hợp chẩn đoán nào Hải
Thượng cũng tìm cho ra bệnh thuốc chứng “dương” hay chứng “âm” để rồi dùng
những vị thuốc hay bài thuốc thuộc “âm” hay thuộc “dương” (như các bài lục vị,
bát vị để điều hòa cơ thể trở về cái thế cân bằng của “âm dương”).
Có người hỏi học thuyết “Âm dương” có đặt ra cách đây hàng nghìn năm,
một nguyên lý y học của ông cha ta hiện nay còn giúp gì cho ta trong việc nghiên
cứu y dược? Để trả lời, tác giả Ohsawa, một nhà khoa học Nhật Bản đã rút ra từ
học thuyết “Âm dương” một phương pháp nghiên cứu vận dụng vào môn học
“Khoa học về trường sinh” (Macrobiotika). Ông đã đem đến cho học thuyết “Âm
dương” một nội dung hiện đại bằng cách đem so sánh thành phần hóa học của
thức ăn, chia thức ăn ra hai loại thức ăn acid và thức ăn kiềm tùy theo lượng Natri
hay Kali chứa trong đó. Nếu tỷ lệ giữa Kali và Natri lớn hơn 5 thì đó là thức ăn
acid hay là “âm”; nếu nhỏ hơn 5 thì đó là thức ăn kiềm hay là “dương”, một số
thức ăn còn được chia thêm thành “rất âm”, “rất dương”, “âm hơn”, “dương hơn”.
Mệnh đề chính của thuyết “Macrobiotika” là sự mất cân bằng về âm dương trong
thức ăn sẽ dẫn đến trạng thái ốm đau. Nếu như một người nào đó ăn chủ yếu
những thức ăn âm (acid) thì cơ thể dễ mắc những chứng bệnh cảm cúm, chức
năng của cơ thể bị phá hoại, một số bệnh mạn tính xuất hiện… Để nhằm chữa
nhanh chóng bệnh này, chỉ cần lập lại sự cân bằng đã bị phá hoại do sự ăn uống
không đúng bằng cách cho ăn cơm và thức ăn thuộc nhóm dương như lúa mạch,
gà tây…Trong châm cứu người ta tìm ra các loại ngũ du huyệt ngũ du. Tuỳ vào
kinh âm kinh dương mỗi loại huyệt tương ứng với một hành; trong một đường
kinh quan hệ giữa các huyệt là quan hệ tương sinh, giữa hai đường kinh âm và
dương quan hệ giữa các huyệt là quan hệ tương khắc Tên các huyệt ngũ du được
đặt theo ý nghĩa của kinh khi đi trong đường kinh như dòng nước chảy. Như vậy

24


học thuyết Ngũ hành, cùng học thuyết Âm Dương là nền tảng của y học cổ
truyền, chỉ đạo xuyên suốt từ quá trình tư duy đến hoạt động phòng bệnh, chữa
bệnh, y học cổ truyền cần học tập và ứng dụng vào việc khám, chữa bệnh của bản
thân.
1.6.4. Học thuyết Pavlov:
Người đầu tiên thiết lập mối quan hệ thôi mien và giấc ngủ trêncơ sở thực
nghiện là Pavlov. Đã mô tả ba giai đoạn của giấc ngủ thôi miên; được giọi là ba
giai đoạn của giấc ngủ nhân tạo: giai đoạn cân bằng, giai đoạn nghịch lý và giai
đoạn siêu nghịch lý. Trong giai đoạn đầu, tất cả mọi tác nhân kích thích mạnh hay
yếu, đều sinh hiệu quả như nhau. Trong giai đoạn thứ hai, tác nhân kích thích
mạnh gây một phản ứng nhẹ hoặc bằng không, còn tác nhân kích thích yếu gây
một phản ứng mạnh.
Trong giai đoạn siêu nghịch lý , cũng được gọi là “giai đoạn ám thị ”, một
phản ứng có thể được gây ra bởi một “tác nhân kích thích âm tính”
(stimulusnégatif), nghĩa là một tác nhân không kích thích các tế bào não khi thức.
Điều hiển nhiên là kho so sánh với con vật, những hiện tượng phản xạ có điều
kiện (conditionnenment) ở người có đặc tính do sự can thiệp của lời nói (tối thiểu
trong đa số các trường hợp) theo Pavlov, lời nói là “hệ tín ngưỡng thứ hai”, mỗi
lới nói có thể được xem như là một tín hiệu, một tác nhân kích thích có tính “vật
chất” như bất cứ một tác nhân kích thích nào. Ông cho rằng hai loại tác nhân kích
thích đó không thể nào đồng hóa hoàn toàn với nhau được vì lịch sử quá khứ của
con người. Nhưng trường pháp Pavlov đã coi nhẹ một phần quan trong của vấn đề
khi không chú ý đến cơ sở vô thức của nó.
Cũng cần nói rằng tất cả các công trỉnh nghiên cứu về thôi niêm đều được bắt
đầu ở Nga vào đầu thế kỷ thứ XX, được tiếp tục một cách tự do sau năm 1917 ở
Liên Xô (cũ), Thôi miên đã được coi như một liệu pháp tâm lý trên cơ sở sinh lý.
Người ta chứng minh rằng điện não đồ của giấc ngủ bình thường không khớp với
điện não đố của giấc ngủ thôi miên. Mặt khác, những trạng thái thôi miên thay
đổi nhiều đến mức không thể nào phát hiện được dựa theo các đường điện não đồ,

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×