Tải bản đầy đủ

Atlas cấu tạo và kiến trúc quặng việt nam

PHẦN BỐN
ATLAS KIẾN TRÚC VÀ CẤU TẠO QUẶNG VIỆT NAM
Tác giả: Nguyễn Văn Học (chủ biên), Nguyễn
Văn Nhân, Nguyễn Thị Cánh, Lã Thị Kim Liên, Lê Thị
Thanh Hương, Phạm Diệu Linh
Biên tập: Nguyễn Văn Học, Lê Thị Thanh Hương


CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA CÁC KIẾN TRÚC
VÀ CẤU TẠO QUẶNG
Kiến trúc phản ánh đặc tính của điều kiện hoá lý và nhiệt động thành tạo các
khoáng vật trong quặng và trình tự phân tách của chúng. Cấu tạo quặng cho phép xác lập
mối tương quan giữa tập hợp khoáng vật tạo quặng và cho phép phân chia các thời kỳ và
giai đoạn tạo khoáng, kết nối chúng với hoàn cảnh địa chất chung.
Trong quặng nguồn gốc khác nhau thường thoạt nhìn đã thấy nhiều điểm rất giống
nhau về hình thái kiến trúc và cấu tạo. Để phân biệt chúng cần phải nghiên cứu tỉ mỉ hình
dạng cấu tạo và sự thay đổi hạt khoáng vật và tập hợp hạt khoáng vật.
Đặc tính kiến trúc và cấu tạo của quặng, các loại hình mỏ khác nhau được chú ý để
lựa chọn công nghệ khai thác cũng như để khai thác hợp phần có ích cần phải biết không
những thành phần khoáng vật quặng mà còn quy luật ghép và phân bố các khoáng vật và
tập hợp khoáng vật quặng.

Khái niệm kiến trúc và cấu tạo quặng và bảng phân loại kiến trúc quặng đầu tiên
do I. F. Grigoriev đưa ra năm 1928. Theo ông kiến trúc là sự kết hợp của các khoáng vật
được quan sát dưới kính hiển vi, còn cấu tạo là sự kết hợp của các khoáng vật được quan
sát bằng mắt thường. Bảng phân loại của I. F. Grigoriev chỉ bao gồm sự kết hợp của các
khoáng vật được quan sát dưới kính hiển vi (kiến trúc).
Vào năm 1937 A. G. Betectin đưa ra bảng phân loại cả kiến trúc và cấu tạo quặng.
Theo định nghĩa của ông, kiến trúc là đặc tính cấu trúc của các tập hợp khoáng vật được
quy định bởi hình dạng, kích thước và phương thức kết hợp của các hạt tinh thể tạo nên
tập hợp khoáng vật. Cấu tạo quặng cũng là những đặc điểm cấu trúc của chúng được quy
định bởi hình dạng, kích thước và phương thức kết hợp của các tập hợp khoáng vật như
hợp phần quặng khác biệt nhau về thành phần và thường về kiến trúc.
A. G. Betectin phân chia kiến trúc quặng ra 5 nhóm nguồn gốc:
1. Kiến trúc kết tinh của các khoáng vật từ dung dịch nóng chảy lỏng
2. Kiến trúc tách dung dịch cứng
3. Kiến trúc tái kết tinh vật chất trong trạng thái rắn
4. Kiến trúc cà nát
5. Kiến trúc quặng nguồn gốc trầm tích
Cấu tạo quặng được chia ra 3 nhóm nguồn gốc:
1. Cấu tạo quặng nội sinh
2. Cấu tạo quặng ngoại sinh
3. Cấu tạo quặng biến chất
2


Trong bảng phân loại của X.A. Vakhromeev vào năm 1950 khái niệm kiến trúc cấu
tạo quặng cũng giống A.G. Betectin. Các kiểu kiến trúc khác nhau được ông gộp vào 5
nhóm nguồn gốc:
1. Kiến trúc kết tinh.
2. Kiến trúc tách dung dịch cứng
3. Kiến trúc tái kết tinh chất keo
4. Kiến trúc gặm mòn
5. Kiến trúc áp lực
Cấu tạo Vakhromeev phân chia theo điều kiện thành tạo và chia ra thành 06 nhóm
nguồn gốc:
1. Magma
2. Tiếp xúc trao đổi
3. Nhiệt dịch
4. Phong hoá
5. Trầm tích
6. Biến chất


Atlas kiến trúc và cấu tạo quặng do X.I. Taldukin, N.F. Goncharock, G.N.
Enhikieva. . . thành lập được xuất bản năm 1945. Khái niệm kiến trúc được hiểu là đặc
tính cấu trúc của khối quặng quy định bởi hình dạng, kích thước và mối tương quan của
các hợp phần, còn cấu tạo là sự phân bố không gian của các tập hợp khoáng vật cùng một
kiến trúc hoặc khác kiến trúc.
Vào năm 1958 một nhóm cộng tác viên của IGEM do A.G. Betectin chủ biên đưa
ra công trình: “ Kiến trúc và cấu tạo quặng” trong đó mô tả chi tiết các kiểu nguồn gốc
khác nhau của các kiến trúc và cấu tạo quặng.
Cùng trong thời gian này ở các nước phương tây xuất hiện nhiều công trình về kiến
trúc cấu tạo quặng. Đáng chú ý là các công trình của E. Baxtin (1950), A.Iedvarde (1945),
G. Wvatrtx (1951), P. Ramdor (1955), G. Sneiderkhen (1955). Hầu hết các công trình này
đều không có sự khác biệt rõ ràng giữa khái niệm kiến trúc và cấu tạo.
Trong atlas này chúng tôi sử dụng khái niệm kiến trúc và cấu tạo quặng của X.A.
Iucko (1966). Theo đó cấu tạo quặng là cấu trúc quặng được quy định bởi hình dạng, kích
thước, thành phần khoáng vật và kiểu kết hợp của tập hợp khoáng vật. Tập hợp khoáng
vật được hiểu là các khoáng vật trầm đọng cùng nhau, sự hình thành của chúng xảy ra
trong các giai đoạn và thời kỳ tạo khoáng xác định.
Kiến trúc quặng là cấu trúc tập hợp khoáng vật tạo quặng, được quy định bởi hình
dạng kích thước và kiểu kết hợp của các khoáng vật. Hình dạng các khoáng vật có thể là
3


tự hình, nửa tự hình và tha hình, đồng thời có thể ở dạng thành tạo keo, mảnh vỡ và mảnh
vụn.
I.1. KIẾN TRÚC QUẶNG
I.1.1. NHÓM KIẾN TRÚC HẠT
- Kiến trúc hạt tự hình (idiomorphic granular texture) đặc trưng cho tập hợp
khoáng vật mà đa số các khoáng vật có hình dạng tinh thể hoàn chỉnh. Kiến trúc này đặc
trưng cho các khoáng vật kết tinh trong các ổ mở và khe nứt. Nếu các khoáng vật tự hình
dạng kéo dài mọc vuông góc với thành khe nứt thì gọi là kiến trúc hình lược. Kiến trúc
hạt tự hình thường gặp trong quặng được kết tinh từ dung dịch nhiệt dịch, biến chất trao
đổi, quặng tái kết tinh và tách dung dịch cứng. Một dạng của kiến trúc tự hình là kiến trúc
tấm tự hình (idiomorphic lamellar texture) khi các tinh thể khoáng vật tự hình có dạng
tấm.
- Kiến trúc hạt nửa tự hình (hipidiomorphic granular texture) đặc trưng cho các
khoáng vật trong đó các hạt tinh thể của các khoáng vật khác nhau có mức độ tự hình
khác nhau. Kiến trúc này rất phổ biến trong các tập hợp khoáng vật có thứ tự kết tinh thể
hiện rõ. Các hạt tinh thể khoáng vật kết tinh trước có hình dạng tự hình, còn các hạt
khoáng vật kết tinh sau thì tha hình.
- Một dạng kiến trúc hạt nửa tự hình là kiến trúc sideronit (sideronitic texture).
Kiến trúc này đặc trưng cho quặng có nguồn gốc magma và đặc trưng bởi tập hợp tinh thể
silicat (olivin, pyroxen, plagioclas . . . ) và quặng (magnetit, ilmenit, pyrotin, penlandit,
chalcopyrit). Các khoáng vật silicat kết tinh sớm hơn quặng vì thế chúng có dạng tự hình.
Các khoáng vật quặng kết tinh muộn vì thế chúng lấp đầy vào các khoảng trống giữa các
hạt silicat và có hình dạng tha hình. Đối với kiến trúc hạt nửa tự hình và sideronit đặc
trưng là sự có mặt của ranh giới gặm mòn của các khoáng vật thành tạo trước.
- Kiến trúc porphyr (porphyritic texture) là một dạng của kiến trúc hạt nửa tự hình
nhưng khác biệt ở chỗ là các hạt tinh thể kết tinh trước có kích thước lớn hơn nhiều so với
hạt khoáng vật thành tạo sau và ranh giới các hạt hình thành trước bị gặm mòn vũng vịnh.
- Kiến trúc khảm (poikilitic texture) cũng là một dạng kiến trúc hạt nửa tự hình
đặc trưng bởi sự phân bố không trật tự của các hạt nhỏ của một khoáng vật quặng mọc
ghép trong các hạt tinh thể lớn của khoáng vật quặng khác. Hạt khoáng vật nhỏ đôi khi có
dạng tự hình. Kiểu kiến trúc này đặc trưng nhất cho các hạt tinh thể sphalerit, chalcopyrit
và pyrit trong quặng conchedan. Đồng thời kiến trúc này khá phổ biến trong quặng có
nguồn gốc nhiệt dịch, quặng kết tinh từ dung dịch, quặng biến chất trao đổi, quặng tái kết
tinh từ dung dịch và tách dung dịch cứng.
- Kiến trúc hạt tha hình (allotriomorphic granular texture) đặc trưng cho tập hợp
khoáng vật mà hạt tinh thể có thể có hình dạng méo mó tạo nên ranh giới giữa chúng
4


dạng răng cưa, đặc biệt là tập hợp khoáng vật xuất hiện đồng thời. Kiến trúc này khá phổ
biến trong quặng kết tinh từ dung thể nóng chảy, trong quặng biến chất trao đổi, tách dung
dịch cứng, tái kết tinh và cà nát.
- Một dạng của kiến trúc hạt tha hình là kiến trúc vân chữ (graphic texture) đặc
trưng là sự mọc xen của hai khoáng vật kiểu kiến trúc vân chữ granit.
- Kiến trúc á vân chữ (subgraphic texture), một dạng của kiến trúc vân chữ trong
trường hợp một trong hai khoáng vật hợp kép, khoáng vật thành tạo sau luôn tồn tại lượng
ít và có dạng mọc ghép từng phần giống vân chữ. Kiến trúc này thường hay gặp trong
quặng với hợp kép bornit và chalcopyrit, chalcopyrit và sphalerit, sphalerit và galenit,
chancozin và covelin .....
- Kiến trúc ngọn lửa (flame texture) là một dạng của kiến trúc lưới. Khi sự phân
tách của một trong số các khoáng vật được tạo thành trong quá trình tách dung dịch cứng
nằm ở rìa các hạt và dọc theo các khe cát khai của khoáng vật khác và có dạng ngọn lửa.
Kiến trúc này đặc trưng cho dung dịch cứng pyrotin – penlandit.
I.1.2. NHÓM KIẾN TRÚC KEO
Nhóm kiến trúc keo đặc trưng cho tổ hợp khoáng vật hình thành trong quá trình
lắng đọng trầm tích, tái kết tinh. Tuy nhiên cũng thường gặp kiểu kiến trúc ẩn tinh trong
quặng kết tinh dung dịch nhiệt dịch và biến chất trao đổi.
- Kiến trúc ẩn tinh (aphanitic texture) là một dạng của kiến trúc keo đặc trưng là
các hạt tinh thể riêng biệt không thể phân biệt được thậm chí dưới kính hiển vi. Kiến trúc
này được tạo thành khi kết tinh nhanh các khoáng vật từ dung dịch quá bão hoà. Quá bão
hoà dung dịch đôi khi xảy ra do sự bay hơi của dung dịch dưới ảnh hưởng của sự giảm áp
đột ngột.
- Kiến trúc keo (colloid texture) có tập hợp khoáng vật với cấu trúc vô định hình.
Đồng thời trong khối chặt xít các khoáng vật thường thấy các khe nứt khô tóp và từng
phần hình dạng cầu và toả tia có cấu trúc đồng tâm. Kiến trúc này đặc trưng cho hydroxit
Mn, Fe trong đới oxi hoá và đới làm giàu thứ sinh sunfua, đồng thời phổ biến rộng rãi
trong quặng nguồn gốc trầm tích.
- Kiến trúc spherolit (spherulitic texture) hay gọi là kiến trúc toả tia tạo thành
trong quá trình tái kết tinh keo đơn thành phần, nếu tinh thể phát triển ở phần trung tâm
của vật chất keo hoặc tái kết tinh vật chất keo trên mặt của một bao thể lạ. Kiểu kiến trúc
này phổ biến cho các khoáng vật pyrit, markazit, vurtzit, malachit, pyroluzit.
I.1.3. NHÓM KIẾN TRÚC NHŨ TƯƠNG (EMULSION TEXTURE)
Nhóm kiến trúc nhũ tương chủ yếu gặp trong quặng hình thành trong quá trình tách
dung dịch cứng, là kiểu kiến trúc có sự mọc ghép của các hạt khoáng vật dạng chấm nằm
trong một khoáng vật khác, chúng thường có ranh giới phẳng không có dấu hiệu gặm
5


mòn. Đôi khi các thể nhũ tương phân bố có quy luật như phát triển dọc theo đường khâu
song tinh và cát khai. Kiến trúc nhũ tương xuất hiện khi tách dung dịch cứng chalcopyrit
– sphalerit, pyrotin – sphalerit, chalcopyrit – stanin.
- Một dạng của kiến trúc nhũ tương là kiến trúc mọc xen tách dung dịch cứng, khi
các thể nhũ tương có lượng ít và kích thước lớn dạng mọc xen trong một khoáng vật khác.
I.1.4. NHÓM KIẾN TRÚC DẠNG TẤM
- Kiến trúc dạng tấm (lamellar texture) được hình thành khi tách dung dich cứng
có dạng trụ dọc theo cát khai của khoáng vật khác. Ranh giới giữa các khoáng vật phẳng
và không có dấu vết gặm mòn. Kiến trúc này đặc trưng cho các khoáng vật như pyrotin –
pentlandit, cubanit – chalcopyrit, ilmenit – magnetit.
- Kiến trúc ô mạng là một dạng của kiến trúc tấm. Khi các tấm của một khoáng vật
sắp xếp theo hai hướng vuông góc tương ứng với mặt cát khai của khoáng vật khác. Kiểu
kiến trúc này đặc trưng cho tách dung dịch cứng của ilmenit – magnetit, ilmenit – hematit,
chalcopyrit – bornit.
- Kiến trúc lưới (netted texture ) được tạo thành trong trường hợp một trong số
khoáng vật phân tách nằm ở rìa hạt khoáng vật khác. Kiểu kiến trúc này quan sát thấy khi
tách dung dịch cứng pentlandit – pyrotin, argentit – galenit.
I.1.5. NHÓM KIẾN TRÚC SÓT
- Kiến trúc gặm mòn (corrosion texture): được thành tạo trong quá trình kết tinh
liên tục các khoáng vật khi các hạt của khoáng vật kết tinh trước một phần bị gặm mòn.
Phần bị gặm mòn được thay thế bởi khoáng vật kết tinh sau.
- Kiến trúc khung xương (skeleton texture) được tạo thành trong quá trình kết
tinh liên tục các khoáng vật khi mà các tinh thể tự hình của khoáng vật sinh trước do bị
gặm mòn chỉ còn lại phần khung tinh thể. Khung xương được gắn kết bởi khoáng vật kết
tinh muộn tạo nên kiến trúc khung xương. Kiến trúc này đặc trưng cho tập hợp kép pyrit
và chalcopyrit, pyrit và sphalerit, arsenopyrit và galenit, arsenopyrit và thạch anh.
- Kiến trúc tàn dư (relic texture) được tạo thành trong quá trình kết tinh khoáng
vật từ dung dịch khi các hạt tinh thể kết tinh trước bị dập vỡ dưới tác dụng của sự thay đổi
điều kiện hoá lý. Các mảnh hạt tinh thể bị tác động gặm mòn mạnh mẽ, sau đó được gắn
kết lại bởi ximăng là khoáng vật kết tinh sau. Một đặc điểm nổi bật của kiến trúc tàn dư là
sự sắp xếp của vật chất tàn dư vẫn giữ nguyên hình dạng bên ngoài của khoáng vật trước.
Kiến trúc này đặc trưng cho hợp kép pyrit và sphalerit, pyrit và chalcopyrit, pyrit và
bornit.
- Kiến trúc thay thế là một biến thể kết hợp giữa kiến trúc tàn dư và kiến trúc gặm
mòn.

6


- Kiến trúc vành riềm là một dạng của kiến trúc gặm mòn thay thế khi các khoáng
vật nguyên sinh được thay thế bởi khoáng vật thứ sinh, tạo nên vành riềm bao quanh.
I.1.6. NHÓM KIẾN TRÚC VỤN CÀ NÁT
- Kiến trúc vụn được hình thành trong quá trình lắng đọng vụn cơ học của khoáng
vật trong các hồ đầm lầy. . . . Đặc trưng của kiến trúc này là ranh giới tròn cạnh bền vững
khi bị phong hoá và hình dạng méo mó của các mảnh vụn khoáng vật dễ bị phá huỷ. Kiểu
kiến trúc này chỉ gặp trong quá trình trầm tích.
- Kiến trúc cà nát (cataclastic texture) thường thấy trong các tổ hợp khoáng vật bị
dập vỡ bởi nhiều khe nứt. Các hạt khoáng vật bị dập vỡ bởi nhiều khe nứt. Các hạt
khoáng vật dòn bị cà vỡ với sự hình thành các mảnh hình dạng và kích thước khác nhau.
Thường gặp hai biến thể của kiến trúc này là hạt cà nát và pocfia cà nát.
- Kiến trúc xuyên lấp là một dạng của kiến trúc cà nát. Các khoáng vật thành tạo
trước bị cà nát tạo thành các khe nứt và được lấp nhét bởi các khoáng vật sinh sau.
- Kiến trúc ximăng đặc trưng cho quặng có nguồn gốc trầm tích và phong hoá
thấm đọng. Xi măng gắn kết các hạt vụn là vật chất quặng.
I.2. CẤU TẠO QUẶNG
- Cấu tạo dải là sự xen kẽ các dải quặng và phi quặng sắp xếp song song nhau.
Cấu tạo này thường gặp trong quặng nguồn gốc dung ly, trầm tích, biến chất trao đổi, biến
chất nhiệt động khu vực.
- Cấu tạo lớp đặc trưng bởi sự xen kẽ các lớp có thành phần khoáng vật màu sắc
và độ cứng khác nhau trong quặng nguồn gốc trầm tích hoặc các tập hợp khoáng vật do có
tỷ trọng khác nhau, tách biệt thành các lớp có sự khác nhau về thành phần khoáng vật và
kiến trúc trong quặng phân dị magma, trong quặng biến chất trao đổi.
- Cấu tạo thấu kính là một dạng của cấu tạo lớp được hình thành trong trường hợp
vát nhọn nhanh của các lớp quặng. Kiểu cấu tạo này thường gặp trong quặng có nguồn
gốc trầm tích, quặng biến chất trao đổi và quặng biến chất trao đổi và quặng biến chất
khu vực.
- Cấu tạo phân phiến được tạo nên do áp suất định hướng và đặc trưng bởi sự
phân bố định hướng song song hoặc tuyến kéo dài của tập hợp khoáng vật dạng kéo dài.
- Cấu tạo gân mạch trong quặng kết tinh từ magma hình thành do phần silicat của
dung dịch đá đông cứng gần như hoàn toàn, phần quặng nằm trong trạng thái dung thể có
tính linh động lớn ngấm theo khe nứt tách của silicat và gắn kết chúng. Đối với quặng
trầm tích cấu tạo này hình thành trong quá trình tạo đá các khoáng vật quặng chui vào các
khe nứt trong các khoáng vật phi quặng. Riêng đối với quặng nhiệt dịch quặng lấp đầy
vào các khe nứt tách của đá vây quanh.
7


- Cấu tạo ximăng hình thành khi các khoáng vật quặng gắn kết các hạt vụn hoặc
mảnh đá vây quanh.
- Cấu tạo xâm tán là các hạt quặng nhỏ xâm tán trong đá. Hình dạng của các hạt
xâm tán phụ thuộc vào điều kiện thành tạo. Kích thước không vượt quá 10mm, hàm lượng
trong đá không vượt quá 5%.
- Cấu tạo dăm hình thành khi thay đổi điều kiện trong quá trình kết tinh hoặc bị tác
động của quá trình biến chất động lực. Đặc trưng là các mảnh khoáng vật sinh trước được
gắn kết bởi các khoáng vật thành tạo sau. Cấu tạo dạng dăm là một dạng của cấu tạo
dăm, có sự khác ở hình dạng phẳng, trơn của các mảnh dăm.
- Cấu tạo khối đặc trưng bởi sự phân bố chặt xít của khoáng vật quặng và tập hợp
khoáng vật trong quặng không có lỗ hổng và khe nứt.
- Cấu tạo kết hạch đặc trưng bởi sự hình thành các kết hạch hoặc cầu kéo dài hình
ovan, hiếm hơn là dạng méo mó của khoáng vật quặng.

8


CHƯƠNG IV
CÁC KIẾN TRÚC – CẤU TẠO QUẶNG VIỆT NAM
IV.1 CÁC KIẾN TRÚC – CẤU TẠO QUẶNG NHÓM NGUỒN GỐC
MAGMA
Quặng nguồn gốc magma được hình thành trong quá trình kết tinh magma. Các
khoáng vật quặng nặng kết tinh sớm hơn các silicat và lắng trong dung thể silicat thường
là do trọng lực. Thuộc kiểu này có các khoáng vật của quặng crom, platin, titan. Các
khoáng vật thường tự hình tạo nên kiến trúc hạt hoặc tấm tự hình (hình IV.1.1, IV.1.2,
IV.1.3). Một kiểu quặng khác là nhờ sự có mặt của chất bốc các khoáng vật silicat kết
tinh trước, còn quặng tồn tại ở dạng dung dịch tàn dư cho đến khi các silicat kết tinh hết.
Dung dịch tàn dư dưới ảnh hưởng của tác động cơ học bên ngoài và sức nén bên trong từ
từ được tích góp chất bốc và kết tinh lấp nhét vào khoảng trống giữa các khoáng vật
quặng hoặc silicat kết tinh trước tạo nên kiến trúc nửa tự hình (hình IV.1.4, IV.1.5,
IV.1.6); hoặc tha hình (hình IV.1.7, IV.1.8). Đôi khi phát triển theo mặt cát khai của các
khoáng vật silicat tạo nên kiến trúc ô mạng (hình IV.1.9).
Quá trình biến đổi thứ sinh hay xuất hiện kiến trúc vành riềm thay thế (hình
IV.1.10) hoặc kiến trúc tàn dư (hình IV.1.11).
Cấu tạo chủ yếu của quặng nhóm nguồn gốc magma là xâm tán (hình IV.1.12)

9


Hình IV.1.1: Kiến trúc tấm - hạt tự hình (idiomorphic lamellar texture), song tinh liên phiến
trong quặng titanomagnetit (Tm) nguồn gốc magma. Nicol (+). Mỏ Cây Châm, Thái Nguyên.
Sưu tập và ảnh: Lê Thị Thanh Hương.

Hình IV.1.2: Kiến trúc hạt tự hình (idiomorphic granular texture), cấu tạo xâm tán. Các hạt
cromit (Cr) hình dạng tương đối đẳng thước, bị nứt vỡ nhẹ, xâm tán xen giữa các khoáng vật
silicat bị serpentinit hoá trong đá siêu mafic. Nicol (-). Hón Vắng, Thường Xuân, Thanh Hoá.
Sưu tập và ảnh: Nguyễn Thị Cánh.
10


Hình IV.1.3: Kiến trúc hạt tự hình (idiomorphic granular texture), cấu tạo khối. Toàn bộ
mẫu là Ilmenit (Il) dạng hạt nhỏ, tự hình gắn kết chặt chẽ tạo thành khối đặc xít. Nicol (+). Mỏ
Cây Châm, Thái Nguyên. Sưu tập và ảnh: Lê Thị Thanh Hương.

Hình IV.1.4: Kiến trúc hạt nửa tự hình (hipidiomorphic granular texture). Magnetit (Mt)
dạng hạt khá đẳng thước tự hình, phản quang màu xám ánh nâu. Pyrotin (Pyr) phản quang
màu kem và pentlandit (Ptn) phản quang màu vàng sáng hạt nửa tự hình bao quanh
magnetit. Chalcopyrit (Chp) tha hình bao quanh và xuyên lấp vào khe nứt của các khoáng
vật magnetit. Nicol (-), x100. Mỏ Bản Phúc, Sơn La. Sưu tập và ảnh: Lê Thị Thanh Hương.
11


Hình IV.1.5: Kiến trúc hạt nửa tự hình (hipidiomorphic granular texture). Sulvanit (Sl) tự hình
phản quang màu trắng vàng chứa các bao thể của germanit (Ge) phản quang màu hồng, được
bao quanh bởi chalcopyrit (Chp) tha hình phản quang màu vàng trong quặng đồng – nickel
nguồn gốc magma. Nicol (-). Tạ Khoa, Sơn La. Sưu tập và ảnh: Nguyễn Thị Cánh.

Hình IV.1.6: Kiến trúc hạt nửa tự hình (hipidiomorphic granular texture). Các hạt pyrit (Py) tự
hình phản quang màu vàng sáng được bao quanh gắn kết bởi chalcopyrit (Chp) tha hình phản
quang màu vàng tạo thành đám ổ trong quặng đồng – nickel nguồn gốc magma. Nicol (-). Tạ
Khoa, Sơn La. Sưu tập và ảnh: Lã Thị Kim Liên.
12


Hình IV.1.7: Kiến trúc hạt tha hình (allotriomorphic granular texture). Tập hợp khoáng vật
pentlandit (Ptn) phản quang màu vàng sáng + pyrotin (Pyr) phản quang màu kem + chalcopyrit
(Chp) phản quang màu vàng dạng hạt nhỏ tha hình, cộng sinh chặt chẽ với nhau trong cùng một
tập hợp hạt, lấp đầy ranh giới các hạt olivin trong đá siêu mafic. Nicol (-) Cao Bằng.
Sưu tập và ảnh: Nguyễn Thị Cánh.

Hình IV.1.8: Kiến trúc hạt tha hình (lattice texture). Tổ hợp cộng sinh khoáng vật pentlandit
(ptn) + chalcopyrit (chp) + pyrotin (pyr) có riềm cromit (cr) bao quanh, thay thế hạt olivin trong
đá siêu mafic bị biến đổi. Nicol (-). Mỏ Bản Phúc, Sơn La.
Sưu tập và ảnh: Lê Thị Thanh Hương
13


Hình IV.1.9: Kiến trúc ô mạng (lattice texture). Các tinh thể pentlandit (Ptn) dạng tấm mỏng
phân bố định hướng theo phương mặt cát khai của pyrotin (Pyt) do quá trình tách dung dịch
cứng trong đá siêu mafic. Nicol (-). Cao Bằng. Sưu tập và ảnh: Nguyễn Thị Cánh.

Hình IV.1.10: Kiến trúc vành riềm thay thế (replacement texture). Bornit (Bo) tha hình phản
quang màu hồng bị thay thế bởi covenlin (Co) phản quang màu xanh tạo thành vành riềm
bao quanh rìa hạt bornit trong quặng đồng – nickel nguồn gốc magma. Nicol (-). Tạ Khoa,
Sơn La. Sưu tập và ảnh: Nguyễn Thị Cánh.
14


Hình IV.1.11: Kiến trúc tàn dư ( relic texture). Các hạt đồng tự sinh (Cu) phản quang màu
hồng còn sót lại trong nền cuprit (Cp) phản quang màu trắng xám sắc xanh lam trong quặng
đồng – nickel nguồn gốc magma. Nicol (-).Tạ Khoa, Sơn La.
Sưu tập và ảnh: Lã Thị Kim Liên.

Hình IV.1.12: Cấu tạo xâm tán dày trong quặng cromit. Các hạt cromit xâm tán trong đá
siêu mafic bị biến đổi. Núi Nưa, Thanh Hoá. Sưu tập: Bảo tàng Địa Chất Viện NCĐC&KS.

15


IV.2 CÁC KIẾN TRÚC – CẤU TẠO NHÓM QUẶNG NGUỒN GỐC
NHIỆT DỊCH VÀ BIẾN CHẤT TRAO ĐỔI
Trong quá trình xuyên lên của magma dung nham có nhiệt độ rất cao tới 10000 C tiếp
xúc với đất đá vây quanh có nhiệt độ tương đối lạnh. Các khoáng vật tạo đá trở nên không bền
vững, xảy ra hiện tượng tái tạo khoáng vật mới. Sự thay đổi thành phần không chỉ xảy ra trong
đá vây quanh mà còn cả trong bản thân đá magma, hình thành một loạt các khoáng vật biến
chất trao đổi và quặng hoá liên quan.
Sau khi định hình và đông kết magma, xảy ra sự phân tách các dung dịch khí lỏng hậu
magma, từ magma mang đi không những chất bốc mà còn nhiều kim loại và phi kim loại có
giá trị lắng đọng trong các loại đất đá vây quanh để hình thành các mỏ nhiệt dịch.
Kiến trúc và cấu tạo quặng của nhóm nguồn gốc này khá phong phú và đa dạng.
Kiến trúc tấm tự hình của hematit (hình IV.2.13, IV.2.14), casiterit, wolframit (hình
IV.2.15, 2.16). Kiến trúc hạt tự hình của magnetit (hình IV.2.17), arsenopyrit và pyrit (hình
IV.2.18, 2.24), casiterit (IV.2.19, 2.20, 2.21, 2.22, 2.23). Kiến trúc tấm tự hình của cubanit
(hình IV.2.25), tấm tự hình của bertierit, buocnonit (hình IV.2.26, 2.27), tấm – sợi tự hình của
molybdenit (IV.2.28, 2.29).
Kiến trúc nửa tự hình thường gặp trong quặng thiếc đa kim (hình IV.2.30, IV.2,32),
quặng chì kẽm (hình IV.2.31, 2.31). Kiến trúc tấm tha hình khá đặc trưng cho antimonit (hình
IV.2.33). Kiến trúc hạt tha hình đặc trưng cho quặng chì kẽm (hình IV.2.34, IV.2,35), vàng tự
sinh và electrum (hình IV.2.36, 2.37, 2.38, 2.39, 2.40, 2.41, 2.43, 2.44).
Kiến trúc xuyên lấp khá phổ biến đối với quặng đa kim, đồng và vàng; chúng được thể
hiện bởi sự xuyên lấp của tổ hợp các khoáng vật thành tạo muộn hơn với các khoáng vật thành
tạo sớm hơn, hình (IV.2.45, 2.46, 2.47, 2.48, 2.49, 2.50, 2.51, 2.52, 2.53, 2.54). Trong
nhóm nhiệt dịch trao đổi cũng thường gặp kiến trúc khảm (hình IV.2.55), kiến trúc mọc xen
(hình IV.2.56, 2,57, 2.58, 2.59), kiến trúc nhũ tương (IV.2.60), kiến trúc lưới (hình IV.2.61).
Kiến trúc mọc xen (hình IV.2.62, 2.63, 2.64, 2.65, 2.66). Kiến trúc gặm mòn thay thế (hình
IV.2.67, 2.68, 2.69), kiến trúc tấm thay thế (hình IV.2.70), kiến trúc tàn dư (hình IV.2.71), kiến
trúc tỏa tia (hình IV.2.72), kiến trúc keo , đới keo (hình IV.2.73, 2.74, 2.75, 2.76, 2.80). Do
ảnh hưởng của các hoạt động phá hủy kiến tạo thường tạo nên kiến trúc cà nát trong quặng
(hình IV.2.77, 2.78, 2.79). Về cấu tạo quặng cũng khá đa dạng: cấu tạo phân dải (hình IV.2.81,
2.82), cấu tạo mạch, mạch định hướng (hình IV.2.82, 2.83, 2.84, 2.85, 2.86) cấu tạo răng lược
(hình IV.2.87), cấu tạo xâm tán (hình IV.2.88, 2.89), cấu tạo khối (hình IV.2.90, 2.91) và cấu
tạo cầu (hình IV.2.92).

16


Hình IV.2.13: Kiến trúc tấm tự hình ( idiomorphic lamellar texture), cấu tạo xâm tán. Các
tấm hematit (Hm) dạng tấm, trụ ngắn, rất tự hình, xâm tán trong nền thạch anh. Nicol(-).
Sông Ba. Sưu tập: Nguyễn Quang Nương. Ảnh:

Phạm Diệu Linh

Hình IV.2.14: Kiến trúc tấm tự hình ( idiomorphic lamellar texture). Các tấm hematit (hm)
tự hình, tạo thành cụm tinh thể, bị magnetit (mt) phản quang màu nâu thay thế từng phần
trên bề mặt tấm. Nicol (-). Quảng Bình . Sưu tập và ảnh: Lê Thị Thanh Hương.
17


Hình IV.2.15: Kiến trúc tấm tự hình (idiomorphic lamellar texture). Các tinh thể casiterit
(Cas) tự hình phản quang màu xám có chứa các bao thể tantalit – columbit (Ta) phản quang
màu xám trắng. Nicol (-). Kim Cương, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Sưu tập và ảnh: Lã Thị Kim Liên

Hình IV.2.16: Kiến trúc tấm tự hình (idiomorphic lamellar texture). Các tấm wolframit (W)
rất tự hình phản quang màu xám, phân bố trong nền thạch anh. Piaoăc, Cao Bằng. Nicol (-).
Sưu tập và ảnh: Nguyễn Quang Nương.

18


Hình IV.2.17: Kiến trúc hạt tự hình (idiomorphic granular texture), cấu tạo xâm tán. Các
tinh thể magnetit (Mt) tự hình bị martit hóa yếu ở phần rìa hạt, kích thước khá đồng đều, xâm
tán rải rác trong nền phi quặng. Nicol(-). Mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh.
Sưu tập và ảnh: Nguyễn Thị Cánh

Hình IV.2.18: Kiến trúc hạt tự hình (idiomorphic granular texture), cấu tạo xâm tán. Các tinh
thể arsenopyrit (Ar) tự hình dạng hình thoi, lăng trụ, phản quang màu trắng sắc vàng, xâm
tán rải rác trong nền phi quặng. Nicol (-). Đồng Nai. Sưu tập và ảnh: Nguyễn Thị Cánh.

19


Hình IV.2.19: Kiến trúc hạt tự hình (idiomorphic granular texture), cấu tạo xâm tán. Các hạt
casiterit (Cas) tự hình dạng tấm, trụ ngắn, dạng hạt đẳng thước, phản quang màu xám, độ
nổi cao, xâm tán trong nền phi quặng. Nicol (-). Đà Lạt, Lâm Đồng.
Sưu tập và ảnh: Nguyễn Thị Cánh.

Hình IV.2.20: Kiến trúc hạt tự hình (idiomorphic granular texture), cấu tạo khối. Các tinh thể
casiterit (Cas) tự hình dạng tấm, hoặc méo mó, phản quang màu xám, tạo thành khối đặc xít.
Nicol (-). Mỏ thiếc Quỳ Hợp, Nghệ An. Sưu tập và ảnh: Nguyễn Thị Cánh
20


Hình IV.2.21: Kiến trúc hạt tự hình (idiomorphic granular texture), vành riềm, cấu tạo khối.
Các hạt casiterit (Cas) tự hình dạng tấm, trụ hoặc hạt hơi méo mó, phản quang màu
xám, bị bao quanh bởi các riềm limonit (Li) phản quang màu xám sắc lục. Nicol (-).
Quỳ Hợp, Nghệ An. Sưu tập và ảnh: Nguyễn Thị Cánh.

Hình IV.2.22: Kiến trúc hạt tự hình (idiomorphic granular texture). Các hạt casiterit (cas)
màu xám tự hình, nằm trong đám khoáng vật pyrotin (pyr) dạng hạt nhỏ, có hạt bismuth (bi)
xen lẫn. Nicol (-). Sơn Dương, Tuyên Quang. Sưu tập và ảnh: Lê Thị Thanh Hương.
21


Hình IV.2.23: Kiến trúc hạt tự hình (idiomorphic granular texture). Casiterit (Cas) dạng tinh
thể tự hình phản quang màu xám tạo thành cụm tinh thể, xen lẫn với asenopyrit (Ar) phản
quang màu trắng sắc vàng hồng bị cà nát và biến đổi nhẹ. Nicol (-). Quỳ Hợp, Nghệ An.
Sưu tập và ảnh: Lã Thị Kim Liên.

Hình IV.2.24: Kiến trúc hạt tự hình (idiomorphic granular texture). Các tinh thể arsenopyrit
(asp) và pyrit (py) tự hình, sphalerit đẳng thước xen ít hạt galenit, nằm trong nền đá
carbonat. Nicol (-). Bản Ran, Bảo Lâm, Cao Bằng . Sưu tập và ảnh: Lê Thị Thanh Hương.
22


Hình IV.2.25: Kiến trúc dạng tấm tự hình (idiomorphic lamellar texture). Cubanit (Cn) dạng
tấm tự hình phản quang màu kem sắc vàng mọc xen cùng với chalcopyrit (Chp) phản quang
màu vàng do quá trình tách dung dịch cứng, nằm trong nền đá biến đổi. Nicol (-). Tà Phời,
Lào Cai. Sưu tập: Tăng Đình Nam. Ảnh: Nguyễn Thị Cánh.

Hình IV.2.26: Kiến trúc tấm – kim tự hình (idiomorphic granular texture). Tập hợp bertierit
(Be) dạng kim que phản quang màu trắng xám sắc hồng xen lẫn với antimonit (Anm) hạt tha
hình phản quang màu trắng. Nicol (-). Tấn Mài, Quảng Ninh.
Sưu tập và ảnh: Nguyễn Thị Cánh.
23


Hình IV.2.27: Kiến trúc hạt tự hình (idiomorphic granular texture). Tập hợp hạt nhỏ burnonit
(Bu) với song tinh mạng phát triển theo hai phương điển hình. Nicol(+). Thanh Mọi, Lạng
Sơn. Sưu tập và ảnh: Lã Thị Kim Liên.

Hình IV.2.28: Kiến trúc tấm dạng quạt (fan – shaped texture). Các tinh thể molybdenit (Mo)
dạng tấm nhỏ dạng hình quạt phản quang màu trắng, phân bố trong nền đá granit. Nicol (-).
Núi Sam, Châu Đốc, An Giang. Sưu tập và ảnh: Lã Thị Kim Liên.

24


Hình IV.2.29: Kiến trúc tấm tự hình, hạt tha hình (idiomorphic lamellar, allotriomorphic
granular texture). Các tinh thể molybdenit (Mo) dạng tấm nhỏ, tự hình, tạo thành cụm nhỏ
phản quang màu xám được chalcopyrit (Chp) tha hình phản quang màu vàng xuyên lấp.
Nicol (-). Y Tý, Sa Pa, Lào Cai. Sưu tập và ảnh: Lã Thị Kim Liên.

Hình IV.2.30: Kiến trúc hạt nửa tự hình (hipidiomorphic granular texture). Các hạt sphalerit
(Spl) tha hình phản quang màu xám sắc tím và stanin (Sn) nửa tự hình, tập hợp pyrit (Py)
dạng trứng cá cùng với phi quặng xuyên lấp, thay thế cho stanin (Sn). Nicol (-). Bản Ngọc,
Nghệ An. Sưu tập và ảnh: Lã Thị Kim Liên.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×