Tải bản đầy đủ

ky nang giao tiep cau 1 hoan chinh

Câu 1: Nêu các đặc điểm của nhà nước pháp quyền XHCN VN. Anh chị
cần phân tích làm rõ đặc điểm NN của dân, do dân, vì dân?
Mở bài: Xây dựng Nhà nýớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nói tới một
phýõng thức tổ chức nền chính trị XHCN và Nhà nýớc XHCN mà mục ðích là
không ngừng duy trì bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân của Nhà nýớc
ta, phát huy cao ðộ dân chủ XHCN, làm cho Nhà nýớc ta thật sự trong sạch, vững
mạnh, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý và ðiều hành.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là gì?
Là Nhà nước xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân; tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, quản
lý xã hội theo pháp luật nhằm phục vụ lợi ích và hạnh phúc của nhân dân, do Đảng
tiền phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đồng thời chịu trách nhiệm trước nhân
dân và sự giám sát của nhân dân.
* Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là gì?
Là Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, quản
lý xã hội theo pháp luật, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đồng thời chịu trách
nhiệm trước nhân dân và sự giám sát của nhân dân. Nhà nước pháp quyền là một
hình thức tổ chức nhà nước với sự phân công và phối hợp khoa học, hợp lý giữa
các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, đồng thời có cơ chế kiểm soát quyền lực.
* Những đặc điểm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo đảm tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được tổ chức, hoạt động trên cơ sở
hiến pháp và pháp lực bảo vệ hiến pháp và pháp luật.
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa VN phải phản ánh được tính chất
dân chủ trong mối quan hệ giữa nhà nước với công dân và xã hội, bảo vệ quyền
con người.
- trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa VN, quyền lực NN là thống
nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan NN trong việc thực
thi 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa VN đặt dưới sự lãnh đạo của ĐCS
VN.
* Phân tích đặc điểm Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.


Từ những Đặc điểm trên thì đặc điểm thứ nhất của Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đây là đặc điểm cơ bản, được xem là bản
chất dân chủ của nhà nước ta, được ghi nhận trong Hiến pháp và được thể hiện
trong các quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước từ
trung ương đến địa phương của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Nhà nước của dân: Do nhân dân đấu tranh tạo ra. Dân là chủ thể tối cao của
quyền lực. Dân là chủ, dân làm chủ, cán bộ công chức là người phục vụ nhân dân.
Cán bộ công chức phải chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước
nhân dân. Nhà nước phải đổi mới tư duy quản lý từ tư duy cai trị sang tư duy phục
vụ nhân dân.
Nhân dân lao động làm chủ Nhà nước thì nhân dân có quyền kiểm soát Nhà
nước, cử tri bầu ra các đại biểu, ủy quyền cho các đại biểu đó bàn và quyết định
những vấn đề quốc kế dân sinh. Đây thuộc về chế độ dân chủ đại diện bên cạnh
chế độ dân chủ trực tiếp. Quyền làm chủ đồng thời cũng là quyền kiểm soát của
nhân dân thể hiện ở chỗ nhân dân có quyền bãi nhiệm những đại biểu quốc hội và
Đại biểu Hội đồng nhân dân nào nếu những đại biểu đó tỏ ra không xứng đáng với
sự tính nhiệm của nhân dân.
Dân là chủ có nghĩa là xác định vị thế của dân, còn dân làm chủ có nghĩa là
xác định quyền và nghĩa vụ của dân. Người dân được hưởng mọi quyền dân chủ,
nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm quyền làm chủ của dân, để cho dân thực thi
quyền làm chủ của mình trong hệ thống quyền lực của xã hội. Quyền lực của nhân
dân được đặt ở vị trí tối thượng. Điều này có cũng nhằm nhắc nhở những người
lãnh đạo, những đại biểu của nhân dân phải làm đúng với chức trách và vị thế của


mình, không phải là đứng trên nhân dân, cậy thế với dân quyền rằng dân bầu mình
ra là để làm việc cho dân.
Nhà nước do dân: Nhà nước do nhân dân lập nên, do dân ủng hộ, dân bầu ra,
đóng thuế để chi tiêu hoạt động. Tổ chức và hoạt động của Nhà nước phải theo ý
chí của nhân dân. Nhân dân quyết định sự tồn tại của Nhà nước. Do dân phê bình,
xây dựng, giúp đỡ.
Chính vì vậy, Hồ chính Minh thường nhấn mạnh nhiệm vụ của những người
cách mạng là phải làm cho dân hiểu, làm cho dân giác ngộ để nâng cao được trách
nhiệm làm chủ, nâng cao được ý thức trách nhiệm chăm lo xây dựng nhà nước của
mình. Hồ Chí Minh cũng khẳng định: Việc nước là việc chung, mỗi người phải có
trách nhiệm “Ghé vai gánh vác một phần” và quyền lợi, quyền hạn bao giờ cũng đi
chung với trách nhiệm, nghĩa vụ.
Nhà nước vì dân:


Nhà nước vì dân là một nhà nước lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm
mục tiêu, mọi hoạt động của Nhà nước đều hướng đến lợi ích của nhân dân, không
có bất cứ một lợi ích nào khác, phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của
người dân. Đó là một nhà nước trong sạch không có đặc quyền, đặc lợi nào. Trên
tinh thần đó Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Mọi đường lối, chính sách đều chỉ nhằm
đưa lại quyền lợi cho dân, việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố gắng làm, việc gì
có hại cho dân dù nhỏ cũng cố gắng tránh. Dân là gốc của nước. Hồ Chí Minh luôn
luôn tâm niệm: Phải làm cho dân có ăn, phải làm cho dân có mặc, phải làm cho dân
có chỗ ở, phải làm cho dân được học hành, phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và
hạnh phúc của nhân dân.
Vì vậy, Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì
dân, là cách thức cơ bản để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động nội
lực của toàn thể nhân dân, của tất cả các thành phần kinh tế vào sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và xã hội công dân là bộ ba hợp thành không thể tách rời, là điều kiện
và tiền đề cho nhau, là bảo đảm và kết quả của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể rút ra các tiêu chí chung giữa giữa
NN PQ XHCN VN và NN PQ TƯ SẢN:
- Đều là NN pháp quyền.
- Thượng tôn hiến pháp và pháp luật.
- NN dân chủ, quyền quản lý NN thuộc về nhân dân.
- Đều mang tính giai cấp.
Trên cơ sở các tiêu chí chung về NNPQ chúng ta có thể nhận thấy tương đối
rõ ràng sự khác nhau giữa NN PQ XHCN VN và NN PQ TƯ SẢN:
NN PQ XHCN VN Mang bản chất của giai cấp công nhân và do ĐCS VN
lãnh đạo, còn NN PQ TƯ SẢN mang bản chất giai cấp tư sản và do giai cấp tư sản
lãnh đạo.
Trong NN PQ XHCN VN, NN và công dân đều phải thể hiện tính tối cao
của pháp luật, vì pháp luật thể hiện toàn bộ ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
Trong NN PQ TƯ SẢN, NN và công dân cũng phải thừa nhận tính tối cao của PL,
nhưng PL tư sản không phải là PL của toàn dân, không thể hiện đầy đủ ý chí,
nguyện vọng của toàn dân, mà chỉ phản ánh, ý chí, nguyện vọng của một bộ phận
nhân dân, đó là những người giàu, là giai cấp tư sản và gạt ra ngoài lề quyền lợi
của người lao động, những người bị áp bức bóc lột.


NN PQ TƯ SẢN coi thuyết tam quyền phân lập là học thuyết cơ bản trong
việc thực hiện quyền lực NN, các cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp hoàn toàn
độc lập với nhau trong việc thực hiện 3 quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp. NN
PQ XHCN VN không thừa nhận việc phân chia quyền lực mà coi quyền lực NN là
thống nhất và thuộc về nhân dân, trong đó có sự phân công phối hợp để thực hiện
các quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp nhằm bao đảm cho quyền lực NN thống
nhất, được thực hiện với hiệu quả cao nhất.
Liên hệ thực tiễn: Thành tựu, hạn chế, giải pháp
Thành tựu:
Quá trình xây dựng, tăng cường nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,
vì dân ở nước ta trong suốt thời gian qua đã đem lại nhiều kết quả tích cực. Thực tế
đã khẳng định công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đã có những tiến bộ quan trọng:
Đã từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Hiến pháp và
nhiều Bộ luật, Luật, Pháp lệnh đã được ban hành, tạo khuôn khổ pháp lý để nhà
nước quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc
phòng... Đã có nhiều quyết định cải cách có ý nghĩa quan trọng trên lĩnh vực xây
dựng nhà nước và pháp luật, làm cơ sở cho đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới tổ
chức hoạt động của bộ máy nhà nước.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy trên nhiều lĩnh vực. Dân
chủ về kinh tế ngày càng được mở rộng đã tác động tích cực đến việc giải phóng
sức sản xuất, là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao đời sống nhân dân.
Dân chủ về chính trị có bước tiến quan trọng, thể hiện ở việc bầu các cơ quan dân
cử, ở chất lượng sinh hoạt của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, tại các cuộc
thảo luận của nhân dân tham gia ý kiến xây dựng các dự án luật, trong hoạt động
của báo chí...
Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, trước hết là của cơ
quan hành chính nhà nước, đã có một bước điều chỉnh theo yêu cầu của quá tŕnh
chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang quản lý nền kinh tế nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước đã có bước
đổi mới, vừa bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy trách
nhiệm, tính chủ động của các cơ quan nhà nước.
Cải cách thủ tục hành chính, cơ chế một cửa rất tốt đã giảm bớt phiền hà cho
nhân dân về thời gian, công sức và tiền của.


Sửa đổi, bổ sung các ngành luật, Hiến pháp đều lấy ý kiến của người dân, để
người dân tham gia đóng góp ý kiến của mình.
Người dân tham gia bầu cử trưởng, phó, khóm ấp, bầu đại biểu Hội đồng
nhân dân các cấp, để họ tự do dân chủ, lựa chọn, bầu người tài đức thay mặt họ
giải quyết các vấn đề xã hội.
Tổ chức các diễn đàn, các chương trình để người dân trực tiếp trao đổi, thắc
mắc những điều chưa hiểu rõ, còn bức xúc với cơ quan nhà nước như chương trình
Dân hỏi Bộ trưởng trả lời, lập các trang mạng xã hội của các bộ trưởng. Tổ chức
đối thoại.
Hạn chế:
Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức và hoạt động của nhà nước ta cũng đang bộc lộ
nhiều yếu kém:
- Bộ máy nhà nước ta chưa thật trong sạch, vững mạnh; tình trạng tham
nhũng, lãng phí, quan liêu còn xảy ra với một số ít cán bộ, chưa được ngăn chặn;
hiệu lực quản lý, điều hành chưa cao; kỷ cương xã hội còn bị buông lỏng, làm
giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, nhà nước ta.
- Quản lý nhà nước chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới; chưa phát
huy đầy đủ mặt tích cực và hạn chế được tính tự phát, tiêu cực của kinh tế thị
trường. Đất đai, vốn và tài sản nhà nước chưa được quản lý chặt chẽ, sử dụng lãng
phí và thất thoát nghiêm trọng.
- Tổ chức bộ máy nhà nước còn nặng nề, sự phân công và phối hợp giữa các
cơ quan nhà nướctrong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp còn
có những điểm chưa rõ về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ, phân cấp trung ương
- địa phương.
- Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước vẫn còn tình trạng buông lỏng và
bao biện, chống chéo nên chưa phát huy tốt vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực
điều hành của bộ máy nhà nước.
Từ thực tiễn trên, để cho NNPQ ở VN trở thành hiện thực, cần thực
hiện các p/hướng XD NNPQ cơ bản sau:
Một là, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân: mở rộng
dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của ND trong XD và quản lý NN. Đây là
p/hướng vừa cơ bản, vừa cấp bách hàng đầu là nhằm giữ vững và phát huy bản
chất tốt đẹp của NN ta, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về đạo đức, tham
nhũng, lãng phí, quan liêu sách nhiễu ND trong bộ máy NN. Đây là vấn đề có ý


nghĩa sống còn đối với chế độ ta. Mở rộng dân chủ phải đi đôi với tăng cường kỷ
luật, kỷ cương, quyền lợi đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ.
Hai là,Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực
hiện pháp luật
Ba là, Tiếp tục đổi mới, tổ chức, hoạt đọng của HĐND thành phố: đảm bảo
thực hiện được vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và luật quy
định; bảo đảm hiệu lực, hiệu quả tính chuyên nghiệp, hiện đại, tính minh bạch,
công khai trong tổ chức, hoạt động của HĐND.
Bốn là, đẩy mạnh cải cách nền hành chính NN trên cả ba mặt: cải cách thể
chế hành chính; tổ chức bộ máy và XD, kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức hành
chính; cải cách tài chính công.
Năm là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp. Tiếp tục
sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống PL; đổi mới tổ chức h/động của các cơ quan
tư pháp; Chấn chỉnh các tổ chức và các h/động bổ trợ tư pháp; đẩy mạnh công tác
xây dựng đội ngũ Cb tư pháp đáp ứng về số lượng và chất lượng theo yêu cầu
mới…
Sáu là,Xây dựng đội ngũ CB, công chức đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng
yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN của dân , do dân, vì dân:
Bảy là, Đẩy mạnh hoạt động đấu tranh chống quan lieu và những biểu hiện
tiêu cực khác trong bộ máy NN:
Tám là,Đổi mới tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với NN trong điều
kiện xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân và vì dân:
Tóm lại, trong công cuộc đổi mới của đất nước, XD NNPQ của dân, do dân,
vì dân là yêu cầu khách quan của sự nghiệp XD CNXH, và việc tiếp tục XD và
hoàn thiện NNPQ là đòi hỏi khách quan và phù hợp với xu hướng chung của thời
đại. Vì vậy, trong đ/lối l/đạo của mình, Đảng ta đặc biệt coi trọng việc đề ra đ/lối
XD và hoàn thiện BMNN- yếu tố trung tâm của HTCT. Để thực hiện mục tiêu đó,
phải tăng cường hiệu lực của BMNN, mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền
làm chủ của ndân trong XD và quản lý NN, đồng thời tăng cường sự l/đạo của
Đảng trên mọi lĩnh vực….



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×