Tải bản đầy đủ

Câu 1 thi phần II ky nang giao tiep 2

Câu 2: KỸ NĂNG
GIAO TIẾP
Trước tiên để hiểu rõ về
nội dung trên ta cần phải
biết để là trở thành một
người có kỹ năng giao
tiếp tốt, trước hết cần hiểu
rõ các nguyên tắc ứng xử
trong giao tiếp. Không
phải ai sinh ra cũng có
khả năng giao tiếp tự tin,
khéo léo và thu hút sự chú
ý của người khác, bạn
phải tích lũy và phát triển
khả năng này như một
thói quen hằng ngày để
đạt được thành công trong
sự nghiệp và cuộc sống.
Nhu cầu giao tiếp là nhu
cầu vĩ đại nhất trong các
nhu cầu của con người,

không được đặt nó ngang
hàng với các loại nhu cầu
khác.
Theo đó, giao tiếp là
một quá trình trong đó các
bên tham gia tạo ra hoặc
chia sẻ thông tin, cảm xúc
với nhau nhằm đạt được
mục đích giao tiếp. Giao
tiếp là một chuỗi các tư
duy hay hành vi mang
tính hệ thống trong bản
thân các bên tham gia
giao tiếp hoặc giữa họ với
nhau.
Giao tiếp trong thực thi
và để thực thi công vụ hay
còn gọi là giao tiếp công
vụ: Là toàn bộ các hình
thức giao tiếp được thực
hiện trong bối cảnh thực
thi công vụ, do các bên
tham gia công vụ thực

hiện và để thực thi công
vụ.
Trong công tác quản lý
hành chính, hoạt động
giao tiếp thường xuyên
diễn ra: giao tiếp giữa cấp
trên và cấp dưới, giữa các
đồng nghiệp với nhau...
Hiệu quả của hoạt động
giao tiếp sẽ ảnh hưởng
không nhỏ tới hiệu quả
hoạt động của từng cá
nhân, người lãnh đạo và
hoạt động chung của tổ
chức. Giao tiếp của đội
ngũ công chức hành chính


thường thể hiện trong
quan hệ trong nội bộ cơ
quan hành chính; quan hệ
với công dân và tổ chức
doanh nghiệp trong xã
hội.
Giao tiếp hành chính
góp phần xây dựng nền
hành chính dân chủ; Đem
lại sự trong sạch, vững
mạnh cho nền hành chính
của dân, do dân và vì dân.
Góp phần xây dựng một
nền hành chính chuyên
nghiệp, hiện đại hóa, hoạt
động hiệu lực và hiệu quả
theo nguyên tắc Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ
nghĩa dưới sự lãnh đạo
của Đảng. Xây dựng đội
ngũ công chức có phẩm
chất, năng lực đáp ứng
yêu cầu của xây dựng và
phát triển đất nước.
1. Giao tiếp hành chính
có vai trò như là cầu nối
và thước đo văn hóa quản
lý, cụ thể ở 03 vai trò
chính sau:

- Đối với cuộc sống:
Giao tiếp là một hoạt
động mang tính bản chất
của vạn vật, trong đó có
loài người, nhằm phục vụ
mục đích sinh tồn, giúp
con người tồn tại và phát
triển. Giúp thể hiện mình
và biết người; Quyết định
các "vấn đề" của cuộc
sống nảy sinh và được
giải quyết; Giúp hoàn
thiện nhân cách và tạo
nên cộng đồng, tạo nên
văn hóa. Giao tiếp giúp
con người: Biết; Hiểu;
Hành động; Cộng tác.
- Đối với công sở hành
chính nhà nước: Mỗi tổ
chức đều có những mục
tiêu chung, gắn kết các
thành viên của tổ chức.
Giao tiếp vừa là một nội
dung, lại vừa là công cụ
giúp tổ chức đạt được
mục tiêu chung đó. Trong
các tổ chức giao tiếp có 5
vai trò căn bản là: Định
hướng; Hợp nhất; Duy trì;
Động viên, khuyến khích
và đổi mới. Trong thực thi
công vụ, giao tiếp thể
hiện đầy đủ các chức
năng, vai trò trên. Do vậy,
giao tiếp là điều kiện đảm
bảo các giá trị, thủ tục và
mục tiêu của tổ chức được
hiện thực hóa nhằm đạt
được mục tiêu hành động
và đổi mới. Cũng do vậy,
có thể nói giao tiếp là bộ
phận cấu thành căn bản
của mọi tổ chức kể cả
công sở hành chính nhà
nước.
1


- Đối với các nhà quản
lý công: Đối với các nhà
quản lý, giao tiếp cũng là
một nhu cầu như đối với
bất cứ ai bình thường trên
đời. Giao tiếp còn là một
công cụ quan trọng giúp
họ tổ chức hoạt động; là
một nội dung cơ bản mà
các nhà quản lý chịu trách
nhiệm thiết kế, tổ chức và
"nghiệm thu". Giao tiếp là
một cơ hội quan trọng để
các nhà quản lý gây ảnh
hưởng và thể hiện sự nổi
trội của mình so với các
cán bộ, công chức hay các
nhà quản lý khác, nhằm
làm cho cấp dưới "tâm
phục, khẩu phục" mà
hành động theo cách nhà
quản lý mong muốn.
2. Để đạt được hiệu quả,
các hoạt động giao tiếp
cần đáp ứng một số
nguyên tắc nhất định.
Tương tự, giao tiếp công
vụ cũng cần tuân thủ một
số nguyên tắc sau:
a) Tôn trọng lẫn nhau và
hài hòa lợi ích
- Tôn trọng lẫn nhau:
Thể hiện thái độ tôn trọng
đối với các bên cùng tham
gia giao tiếp là nguyên tắc
hàng đầu trong sinh tồn
trong cộng đồng nói
chung. Thái độ tôn trọng
kèm theo các yêu cầu cụ
thể khác nhau, bản chất
của tôn trọng là sự thừa
nhận hay ghi nhận sự tồn
tại của bên kia như là
chính họ chứ không phải
là họ theo kiểu mình hoặc

mình mong muốn. Sự có
mặt đúng như lời hứa,
ngôn ngữ giao tiếp đề cao
nhân thân của bên kia,
điệu bộ cử chỉ phù hợp
(trang phục, dáng điệu khi
đi đứng, ngồi,..) đều là
những cách để thể hiện sự
tôn trọng đối với người
khác, đồng thời, thể hiện
sự tự trọng của chính
mình.
- Cộng tác - hài hoà lợi
ích: Giao tiếp liên cá nhân
bao gồm một kỹ năng
ngầm định là kỹ năng
thương thuyết, thỏa thuận.
Hài hòa lợi ích không chỉ
đạt được tại chỗ giữa các
bên trực tiếp tham gia đối
thoại còn là vấn đề lâu
dài.
b) Lựa chọn giải pháp
tối ưu trong giao tiếp

- Phù hợp hoàn cảnh:
Đây là nguyên tắc phản
ảnh trực tiếp nhất bản
chất “ứng xử”- khía cạnh
mang tính tình huống của
giao tiếp. Ngôn ngữ, điệu
bộ cử chỉ, thời điểm bắt
đầu và kết thúc,… đều cần
phù hợp với bối cảnh hoạt
động giao tiếp. Các hành
vi giao tiếp với công dân
trong buổi tiếp dân không
thể được thực hiện tương
tự cách ứng xử với giao
tiếp với đồng nghiệp, lại
càng không thể giống cách
giao tiếp với các đối tác.
Sự cứng nhắc trong ứng xử
sẽ đe dọa hiệu quả giao
tiếp.
- Tôn trọng quy luật
tâm, sinh lý: Các hoạt
động giao tiếp đều diễn ra
trong một khoảng thời
gian dài nhất định cũng
cần tính đến các phản
ứng, nhu cầu nhất định về
thể chất theo quy luật
chung của cơ thể. Chính
vì vậy, giải lao giữa giờ,
thay đổi hoạt động,… là
các biện pháp quan trọng
cho phép và hỗ trợ quá
trình trao đổi thông tin
được diễn ra một cách
hiệu quả.

2


- Thẩm mỹ hành vi:
Nguyên tắc này đòi hỏi
các hành vi giao tiếp sẽ
không chỉ cần dừng ở
đúng mà còn phải đẹp. Để
đảm bảo giao tiếp đúng và
đẹp, sự hiểu biết về giao
tiếp trong bối cảnh đa văn
hóa là hết sức quan trọng.
Bên cạnh đó, việc rèn
luyện để các hành vi đẹp
trở thành thói quen cũng
không kém phần quan
trọng.
b) Tôn trọng sự bình
đẳng và các quy luật
khách quan.
- Bình đẳng: Mọi công
dân đều bình đẳng trước
pháp luật. Trong thực thi
công vụ, đòi hỏi thông tin
hay được giải quyết công
việc thuộc phạm vi thẩm
quyền, trách nhiệm của cơ
quan hay cá nhân cán bộ
công chức là quyền hợp
pháp của công dân; Đó là
quyền được biết và được
nghe. Cán bộ, công chức
cũng có quyền yêu cầu
công dân trình bày rõ
ràng, cụ thể vụ việc có
liên quan, để trên cơ sở đó
có cách thức đáp ứng phù
hợp. Việc các nhà quản lý
khăng khăng đòi nhân
viên cung cấp trông tin,
trình bày vấn đề trong khi
bản thân mình lại tìm
cách che giấu, bưng bít là
một hình thức vi phạm
nguyên tắc bình đẳng; Nó
có thể dẫn đến sự nghi kị,
bất tín và xung đột trong
nội bộ.

- Công khai: Giao tiếp
công vụ cần được diễn ra
một cách công khai, ở
những nơi công cộng và
liên quan đến công khai
hóa thông tin về hoạt động
quản lý, điều hành và thực
thi. Vi phạm nguyên tắc
này sẽ vừa là biểu hiện,
vừa là nguồn gốc của sự
lạm quyền từ phía cán bộ,
công chức hoặc lạm dụng
tình thế để làm mất uy tín
của cán bộ, công chức,
làm xấu đi hình ảnh của
chính quyền trong mắt
công chúng.
- Tin cậy: Làm cho bên
kia tin cậy mình và tìm
kiếm các dấu hiệu để có
cơ sở tin cậy ở họ là một
nỗ lực cần thiết cho quá
trình giao tiếp có hiệu quả
lâu dài. Cán bộ, công
chức có thể tạo nên sự tin
cậy ở công dân khi tiếp
xúc, giải quyết công việc
thông qua việc đúng hẹn;
chuẩn bị văn bản, hồ sơ
liên quan một cách đầy
đủ, khoa học; viện dẫn
các văn bản hoặc chứng
cứ khi giải thích, thuyết
phục; ngôn từ chính thức,
đi thẳng vào vấn đề,
không quanh co, ề à; nhìn
thẳng vào mặt người cùng
giao tiếp…
Như chúng ta đã biết
nhu cầu giao tiếp là nhu
cầu vĩ đại nhất trong các
nhu cầu của con người, để
có được đội ngũ công
chức giỏi về chuyên môn,
có kỹ năng thành thạo,

đặc biệt là kỹ năng giao
tiếp hành chính công vụ;
xây dựng một nền hành
chính dân chủ, trong sạch,
vững
mạnh,
chuyên
nghiệp, hiện đại đáp ứng
yêu cầu hội nhập và phát
triển; nâng cao kỹ năng
giao tiếp hành chính cho
đội ngũ CB,CC là yêu cầu
tất yếu trong công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước ngày
08/11/2011 Chính phủ đã
ban hành Nghị quyết
30c/NQ-CP về ban hành
chương trình tổng thể cải
cách hành chính nhà nước
giai đoạn 2011 – 2020.
Bên cạnh, Nhà nước đã
ban hành nhiều chủ
trương, chính sách nhằm
cải thiện xây dựng mối
quan hệ giao tiếp hành
chính dân chủ, bình đảng,
thân thiện, gắn bó giữ
CBCC và nhân dân, việc
quy định các chuẩn mực
xử sự, đạo đức, văn hóa
giao tiếp của cán bộ, công
chức, viên chức làm việc
trong bộ máy chính quyền
trong thi hành nhiệm vụ,
công vụ đã được quy
định, triển khai thực hiện
cụ thể bởi Quyết định số
129/2007/QĐ-TTg ngày
02/8/2007 về “Ban hành
Quy chế văn hóa công sở
tại các cơ quan hành
chính nhà nước”, Quyết
định số 03/2007/QĐ-BNV
ngày 26/02/2007 của Bộ
Nội vụ về ban hành quy
tắc ứng xử của cán bộ,
3


công chức, viên chức làm
việc trong bộ máy chính
quyền địa phương, Luật
Cán bộ, công chức năm
2008,…
Về kỹ năng giao tiếp thì
Chủ tịch Hồ Chí Minh là
bậc thầy trong phong cách
giao tiếp. Ngôn ngữ diễn
đạt của Người có sự kết
hợp đan xen hài hòa của
sự mạnh mẽ và êm dịu; cổ
điển và hiện đại; hiện
thực và trữ tình; sâu sắc
và bình dị; kết hợp tinh
hoa của dân tộc và của
nhân loại. Với nhân dân
thì Người dùng những câu
ca dao, dân ca quen thuộc,
lời lẽ ân cần chỉ bảo. Với
giới trí thức thì Người
dùng lời lẽ uyên bác, lập
luận sắc bén. Người đã
chỉ ra nguyên tắc giao tiếp
là: “Phải biết lắng nghe,
tôn trọng và lễ phép với
nhân dân; phải thương
yêu, quý trọng con người,
biết đồng cảm, chia sẻ và
giúp đỡ; cán bộ công chức
cần phải có đạo đức cần,
kiệm, liêm, chính; phải
giữ chữ “tín” trong quan
hệ giao tiếp hành chính”.
Trong thực thi công vụ,
CBCC thời gian qua đã
thực hiện tốt và đáp ứng
các yêu cầu về kỹ năng
giao tiếp đã được quy
định tại Luật Cán bộ,
công chức năm 2008,
Quyết
định
số
129/2007/QĐ-TTg ngày
02/8/2007, Quyết định số

03/2007/QĐ-BNV ngày
26/02/2007,..
Trong giao tiếp với đồng
nghiệp (giữa cấp trên với
cấp dưới và giữa cấp dưới
với cấp trên) và nhân dân
đa số CBCC đều có thái
độ, phong cách ứng xử
văn minh, lịch sự, bình
đẳng, tôn trọng, nghiêm
túc trong giao tiếp; tiếp
thu và giải quyết công
việc một cách khoa học
và hợp lý, hài hòa lợi ích;
luôn biết tự mình điều
chỉnh hành vi cho phù
hợp trong quá trình giao
tiếp; ngôn ngữ giao tiếp
chuẩn mực, rõ ràng, mạch
lạc…
Đối với nhân dân trong
quá trình tiếp xúc, trao
đổi CBCC luôn giữ thái
độ tôn trọng và bình đẳng;
tận tình giúp đỡ, hướng
dẫn nhười dân khi đến
liên hệ; không gây khó
khăn, phiền hà, những
nhiễu; không bưng bít
thông tin, lắng nghe và
giải đáp mọi thắc mắc cho
người dân một cách tận
tình; Đặt lợi ích của dân
lên trên, vận dụng chính
sách giải quyết theo
hướng có lợi cho dân;
chịu khó lắng nghe ý kiến
của nhân dân; biết vận
dụng hiểu biết để giải
thích đến người dân, giúp
người dân hiểu rõ thêm và
thực hiện các quyền của
mình một cách hợp pháp,
không lợi dụng chính sách
để làm sai; góp phần xây

dựng Nhà nước của dân,
do dân và vì dân.
Khi thực hiện nhiệm vụ
CBCC luôn đeo thẻ, ăn
mặc gọn gàn, lịch sự,
trang phục phù hợp thể
hiện được văn hóa nơi
công sở. Đa số cán bộ,
công chức giữ quan điểm
hết việc chứ không hết
giờ, thực hiện nhiệm vụ
với tinh thần, trách nhiệm
cao; Giữ vững lập trường
tư tưởng, trung thành với
lý tưởng cách mạng, chấp
hành tốt chủ trương,
đường lối, chính trị của
Đảng, chính sách pháp
luật của Nhà nước; không
quan liêu, tham nhũng,
lãng phí, không tham ô,
không nhận hối lộ, sẵng
sàng chống lại các biểu
hiện tiêu cực. Trong hoạt
động công vụ CBCC luôn
thực hiện cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư.
Tuy nhiên trong giao
tiếp của CBCC vẫn còn
một số hạn chế sau:
Đôi lúc CBCC chưa biết
cười, chưa biết cám ơn
trong khi giải quyết công
việc cho nhân dân. Những
biểu hiện tiêu cực như:
hách dịch, cửa quyền, gây
khó dễ cho dân, coi
thường nhân dân, xa cách,
lãnh đạm, vô cảm với
dân, … vẫn còn diễn ra.
Ngôn ngữ giao tiếp chưa
được mạch lạc, chuẩn
mực, rõ ràng.
Đội ngũ CBCC còn
nhiều điểm yếu về phẩm
4


chất, tinh thần trách
nhiệm, năng lực chuyên
môn. Đôi lúc CBCC đồng
nhất quyền lực nhà nước
với quyền lực cá nhân,
không hiểu được đặc thù
của giao tiếp công sở
hành chính, nảy sinh hiện
tượng cửa quyền. Đôi khi
CBCC còn thái độ thiếu
tôn trọng, điệu bộ, cử chỉ
giao tiếp chưa phù hợp.
Giờ giấc làm việc chưa
đảm bảo, còn tình trạng đi
trễ, về sớm, uống cà phê
trong giờ làm việc. Một
vài nội dung, công việc
chưa được thực hiện công
khai minh bạch…
Qua các mặt hạn chế,
yếu kém nêu trên, bản
thân xin đề ra một số giải
pháp như sau:
- Tăng cường công tác
tuyên truyền nâng cao
nhận thức cho cán bộ lãnh
đạo, cán bộ công chức và
nhân dân về văn hóa công
sở. Xây dựng một nhận
thức tiến bộ về giao tiếp
hành chính giữa công
chức và người dân phù
hợp với các giá trị văn
hóa truyền thống và tuân
thủ các nguyên tắc chung.
Phải tạo một không gian
thoải mái cho những
người dân đến cơ quan
nhà nước và CBCC phải
có một thái độ đón tiếp
lịch sự, nềm nở.
- Tăng cường vai trò và
hiệu lực quản lý của nhà
nước trên cơ sở kết hợp
đồng bộ mọi giải pháp từ

giáo dục, đào tạo đến đổi
mới cơ chế, chính sách
trong tuyển dụng và sử
dụng cán bộ.
- Ban hành cơ chế đánh
giá CBCC đi đôi với điều
chỉnh hợp lý chế độ tiền
lương.
- Xây dựng chiến lược
và lập kế hoạch hoạt
động, xây dựng và vận
hành một cơ cấu tổ chức
hợp lý, quản lý và phát
triển đội ngũ CBCC.
- Tăng cường công tác
Giám sát và kiểm tra hoạt
động của CBCC, xây
dựng và quản lý hệ thống
thông tin quản lý, tổ chức
hoạt động giao tiếp (trong
nội bộ công sở và với bên
ngoài, đặc biệt là hoạt
động tiếp dân). Xử lý
nghiêm minh đối với
những cán bộ, công chức
có hành vi vi phạm về
ứng xử, giao tiếp không
đúng chuẩn mực; vi phạm
nội quy, quy chế của cơ
quan, Luật CBCC.
Tóm lại: Quá trình hình
thành kỹ năng giao tiếp
hành chính là con đường
nhận thức chân lý, cảm
nhận thực tiễn và khả
năng ứng dụng vào công
việc, tình huống nghề
nghiệp của công chức. Đó
là con đường gắn lý luận
với thực tiễn, trong đó kỹ
năng giao tiếp của đội ngũ
công chức là cầu nối và
phương tiện để đạt được
hiệu quả cải cách hành
chính. Người giao tiếp

giỏi chính là người biết
kết hợp khéo léo, nhuần
nhuyễn các nguyên tắc cơ
bản trong giao tiếp.

5



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×