Tải bản đầy đủ

Hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các bài văn thơ viết cho trẻ em ở sách giáo khoa tiếng việt lớp 3

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: GIÁO DỤC TIỂU HỌC

TRẦN THỊ PHƢƠNG

HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH
TRONG CÁC BÀI VĂN THƠ VIẾT CHO TRẺ EM
Ở SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT LỚP 3

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học
TH.S LÊ BÁ MIÊN

HÀ NỘI – 2014


LỜI CẢM ƠN!
Bằng những kiến thức đƣợc thầy cô trong nhà trƣờng trang bị trong
suốt thời gian học, với sự nỗ lực của bản thân cùng với sự hƣớng dẫn chỉ bảo

tận tình của các thầy cô giáo, tôi đã hoàn thành xong luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy cô, đặc
biệt là thầy giáo Lê Bá Miên, ngƣời đã tận tình chỉ bảo và hết lòng giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Sinh viên

Trần Thị Phƣơng


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả riêng của bản
thân, không trùng với bất cứ một kết quả nào khác.

Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Sinh viên

Trần Thị Phƣơng


CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
HS

Học sinh

GV

Giáo viên

SGK

Sách giáo khoa

TV

Tiếng Việt


MỤC LỤC


Trang
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................... 2
3. Lịch sử nghiên cứu ...................................................................................... 2
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu ............................................................ 3
5. Giả thuyết khoa học .................................................................................... 3
6. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................. 3
7. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................. 4
8. Cấu trúc luận văn ........................................................................................ 4
PHẦN NỘI DUNG ....................................................................................... 5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ........................... 5
1. Cơ sở lí luận ................................................................................................ 5
1.1. Những hiểu biết chung về phép tu từ so sánh .......................................... 5
1.2. Ngôn ngữ văn chƣơng với biện pháp tu từ so sánh ................................. 11
2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................ 13
2.1. Đặc điểm tâm lí và khả năng tiếp nhận của học sinh tiểu học
trong hoạt động giao tiếp................................................................................. 13
2.2. Thống kê các hình ảnh so sánh đƣợc sử dụng trong các bài văn thơ
ở SGK Tiếng Việt lớp 3 .................................................................................. 15
CHƢƠNG 2. MIÊU TẢ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH
TRONG CÁC BÀI VĂN THƠ Ở SGK TIẾNG VIỆT LỚP 3 ....................... 21
1. Hƣớng dẫn học sinh nhận biết và cảm nhận giá trị của các hình ảnh
so sánh ............................................................................................................. 21
1.1. Hƣớng dẫn học sinh nhận biết biện pháp tu từ so sánh ........................... 21
1.2. Các bƣớc nhận diện biện pháp tu từ so sánh ............................................ 25


2. Miêu tả hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các bài văn thơ
viết cho trẻ ở SGK Tiếng Việt lớp 3 ............................................................... 28
2.1. Hiệu quả đối với việc giáo dục nhận thức............................................... 30
2.2 Hiệu quả đối với việc giáo dục tình cảm ................................................. 38
2.3. Hiệu quả đối với việc giáo dục thẩm mỹ ................................................ 42
PHẦN KẾT LUẬN ......................................................................................... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 49


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1 : Các hình ảnh so sánh trong các văn bản Tập đọc ở lớp 3 ................ 16
Bảng 2: Nội dung dạy học phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ
và câu............................................................................................................... 19
Bảng 3 : Tìm hiểu biện pháp so sánh trong bài thơ
“Mẹ vắng nhà ngày bão” ................................................................................ 37
Bảng 4: Khả năng nhận biết và hiệu quả mà biện pháp tu từ so sánh đem lại
cho trẻ ở mặt tình cảm trong bài thơ “Quê hƣơng” ........................................ 40
Bảng 5: Khả năng nhận biết và hiệu quả mà biện pháp tu từ so sánh
đem lại cho trẻ ở mặt thẩm mỹ trong bài thơ “Mặt trời xanh của tôi” ........... 45


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
PH.ĂNGGHEN đã từng nói: “Ngôn ngữ là một trong hai yếu tố đã làm
cho con vật trở thành con ngƣời” khi xem xét vai trò của ngôn ngữ đối với
nhận thức. Câu nói đó quả thực chí lí vì lẽ ngôn ngữ liên quan đến tất cả các
quá trình tâm lí của con ngƣời. Ngôn ngữ là thành tố quan trọng nhất về mặt
nội dung và cấu trúc của tâm lí con ngƣời, đặc biệt là quá trình nhận thức.
Văn học là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ, ngôn ngữ làm phƣơng
tiện thể hiện. Có khả năng tác động đến đời sống tâm hồn của con ngƣời.
Trong đó các biện pháp tu từ đặc biệt là biện pháp tu từ so sánh góp một phần
không nhỏ làm nên điều này.
Ngay từ lớp 1, các bài học của sách giáo khoa đã đƣa vào khá nhiều
hình ảnh so sánh... Tuy nhiên, đến lớp 3 học sinh mới chính thức đƣợc học về
phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu. Cụ thể hơn, sách giáo
khoa Tiếng Việt lớp 3 đã giới thiệu sơ bộ về phép so sánh, hình thành những
hiểu biết và kĩ năng ban đầu về so sánh cho học sinh thông qua các bài văn
thơ, của bài tập thực hành. Từ đó, giúp học sinh cảm nhận đƣợc cái hay của
một số câu văn, câu thơ và vận dụng phép so sánh vào quan sát sự vật, hiện
tƣợng xung quanh và thể hiện vào bài tập làm văn đƣợc tốt hơn. Mặt khác,
việc dạy phép tu từ so sánh cho học sinh lớp 3 cũng là một cách chuẩn bị dần
để các em sử dụng thành thạo hơn phép tu từ này khi làm các bài văn kể
chuyện, miêu tả ở lớp 4, lớp 5. So sánh tu từ giúp các em hiểu và cảm nhận
đƣợc những bài thơ, bài văn hay, từ đó góp phần mở mang tri thức làm phong
phú về tâm hồn, tạo hứng thú khi viết văn, rèn luyện ý thức, yêu quý Tiếng
Việt và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
Xuất phát từ vai trò và tác dụng của phép tu từ so sánh, từ mục tiêu của
môn Tiếng Việt ở tiểu học, từ thực tế dạy và học và là một sinh viên trƣờng
1


Đại học Sƣ Phạm Hà Nội 2, sau này sẽ đứng trên bục giảng để dạy cho các
học sinh của mình về biện pháp tu từ so sánh nên ngay từ bây giờ chúng tôi đã
chọn thực hiện đề tài “Hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các bài
văn thơ viết cho trẻ em ở sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các bài
văn thơ viết cho trẻ em ở sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 này hƣớng tới hai
mục đích:
- Thứ nhất là xem xét các hiệu quả biện pháp tu từ so sánh mang lại
trong các bài văn thơ viết cho trẻ em ở SGK Tiếng Việt lớp 3. Hiệu quả này
tác động trực tiếp vào việc giáo dục nhận thức, giáo dục tình cảm, giáo dục
thẩm mỹ cho HS.
- Thứ hai là nghiên cứu về hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh, từ đó
góp phần giúp ngƣời GV đƣa ra các phƣơng pháp dạy học nhằm nâng cao
hứng thú và kết quả học tập về phép tu từ so sánh cho học sinh.
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa phổ biến, biện pháp so sánh tu từ đã
đƣợc miêu tả trong các sách văn phạm tiếng Việt trƣớc đây và trong các giáo
trình phong cách học tiếng Việt sau này.
Trong các giáo trình phong cách học của nhóm Võ Bình và cộng sự
(1982), Cù Đình Tú (1983), Đinh Trọng Lạc – Nguyễn Thái Hòa (1993) đều
có chung quan niệm về so sánh tu từ từ tên gọi, khái niệm, đặc điểm cấu tạo,
phân loại nhƣng chƣa bàn đến hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh.
Các công trình nghiên cứu trong nƣớc:
- Lê Thị Hạnh, ĐH Vinh nghiên cứu đề tài “Phƣơng pháp dạy học phép
tu từ so sánh ở lớp 3”.
- Bùi Trọng Ngoãn, Đại học Sƣ phạm, Đại học Đà Nẵng nghiên cứu đề
tài “Bàn thêm về phép tu từ so sánh”.
2


Về cơ bản, các giáo trình và các đề tài nghiên cứu kể trên đều có nghiên
cứu về biện pháp tu từ so sánh. Mặc dù đƣợc khảo sát ở các mức độ nông sâu
khác nhau nhƣng hầu nhƣ không hề nhắc đến hiệu quả mà biện pháp tu từ này
mang lại. Trong thực tế, nhận dạng về biện pháp tu từ so sánh không phải quá
khó, nhƣng để khám phá giá trị nghệ thuật cũng nhƣ hiệu quả của một phép tu
từ so sánh thì không phải là việc dễ. Kế thừa những kết quả của các nhà
nghiên cứu khoa học đi trƣớc và của một số sinh viên, chúng tôi đã mạnh dạn
đi sâu nghiên cứu về vấn đề “Hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong
các bài văn thơ viết cho trẻ em ở SGK Tiếng Việt lớp 3”. Đây là một đề tài
có sự kế thừa nhƣng không trùng lặp.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các bài văn thơ viết cho trẻ
em ở SGK Tiếng Việt lớp 3.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học phép tu từ so sánh ở lớp 3.
5. Giả thuyết khoa học
Nghiên cứu tìm hiểu về biện pháp tu từ so sánh đƣợc sử dụng ở các bài
văn thơ trong SGK Tiếng Việt lớp 3 sẽ mang lại các kết luận về hiệu quả của
biện pháp này trong quá trình giảng dạy.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu các vấn đề lý thuyết về phép tu từ so sánh.
- Tổ chức dạy học, khảo sát thực tế để tìm hiểu khả năng phát hiện ra
các hình ảnh so sánh trong các bài văn thơ ở SGK Tiếng Việt lớp 3 của học sinh.
- Tìm hiểu về hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các bài văn
thơ viết cho trẻ em ở SGK Tiếng Việt lớp 3.

3


7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, đề tài sử dụng các phƣơng pháp
nghiên cứu sau đây:
- Phƣơng pháp thống kê
- Phƣơng pháp phân loại
- Phƣơng pháp miêu tả
- Phƣơng pháp phân tích ngôn ngữ học
- Phƣơng pháp tổng hợp
- Phƣơng pháp so sánh đối chiếu
Đề tài đƣợc thực hiện theo các bƣớc sau:
- Bƣớc 1: Lựa chọn đề tài nghiên cứu, tìm hiểu và đọc các tài liệu liên
quan đến đề tài.
- Bƣớc 2: Khảo sát, thực nghiệm ở trƣờng tiểu học, tiến hành thu thập
và xử lý số liệu, viết đề tài, chỉnh sửa đề tài.
- Bƣớc 3: Hoàn chỉnh đề tài, đóng quyển, nộp văn bản.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung chính của luận văn gồm 2 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn.
Chƣơng 2: Miêu tả hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các bài văn
thơ ở SGK Tiếng Việt lớp 3.

4


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Những hiểu biết chung về phép tu từ so sánh
1.1.1 Khái niệm
Trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt”, tác giả
Đinh Trọng Lạc đã phát biểu nhƣ sau:
“So sánh tu từ là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối
chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với
nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng
hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng” [13,tr.154].
Sau này, ở giáo trình “Phong cách học Tiếng Việt” tác giả Đinh Trọng
Lạc và Nguyễn Thái Hòa cũng đƣa ra định nghĩa về so sánh:
“So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu
với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi
ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc,
người nghe” [12,tr.190].
Cù Đình Tú trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt và đặc điểm tu từ
tiếng Việt” cũng đƣa ra định nghĩa về so sánh:
“ So sánh tu từ là so sánh công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng
có một nét giống nhau nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối
tượng” [26,tr.272] .
Sau định nghĩa, Cù Đình Tú bổ sung:
“Trong so sánh tu từ các đối tượng đưa ra so sánh là đối tượng khác
loại và mục đích của phép so sánh là nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc
điểm của một đối tượng”.

5


Từ các định nghĩa đã trình bày ở trên, chúng tôi chọn định nghĩa của Cù
Đình Tú, đồng thời tiếp nhận ý kiến bổ sung của tác giả để đƣa ra cách hiểu
sau về so sánh tu từ:
So sánh tu từ là công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác loại
dựa trên một nét tương đồng nào đó giữa chúng, nhằm biểu thị bằng hình ảnh
một trong những đối tượng đó.
1.1.2. Hình thức và các dạng của phép tu từ so sánh
a. Hình thức của phép tu từ so sánh
Theo giáo trình “Phong cách học Tiếng Việt” của các tác giả Đinh
Trọng Lạc (chủ biên) và Nguyễn Thái Hòa (2002) thì hình thức đầy đủ nhất
của phép so sánh tu từ gồm 4 yếu tố nhƣ sau:

1.Cái so sánh

2. Cơ sở so sánh

3. Từ so sánh

Gái

có chồng

như

Các chóp mái

đều lượn rập rờn

như

4. Cái được so sánh

gông đeo cổ

các nếp sóng bạc đầu
(Nguyễn Tuân)

Lòng ta

như

vẫn vững

kiềng ba chân
(Tố Hữu)

Trong đó:
- Yếu tố (1 ) là cái so sánh, đây là yếu tố đƣợc hoặc bị so sánh tùy theo
việc so sánh là tích cực hay tiêu cực.

6


- Yếu tố (2) là cơ sở so sánh, đây là yếu tố chỉ tính chất sự vật hay
trạng thái của hành động đƣợc nhìn nhận theo một cách nào đó có vai trò nêu
rõ phƣơng diện so sánh.
- Yếu tố (3) là từ so sánh, mức độ so sánh thƣờng đƣợc diễn ra ở mức
độ ngang bằng nhƣ nhau. Ngoài từ “như” còn có các từ: “tựa”,“tựa như”,
“giống như”…
- Yếu tố (4) là cái đƣợc so sánh tức là cái đƣa ra để làm chuẩn so sánh.
b. Các dạng của phép tu từ so sánh
Khi xem xét phép so sánh, có thể dựa vào mặt cấu trúc hoặc dựa vào
mặt ngữ nghĩa của nó.
Dựa vào cấu trúc, có thể chia ra các dạng so sánh như sau:
Dạng 1: Phép so sánh đầy đủ 4 yếu tố:
Đây là dạng so sánh chuẩn vì nó có đầy đủ cả 4 yếu tố: cái so sánh, cơ
sở so sánh, mức độ so sánh và cái đƣợc so sánh.
Ví dụ:

Ông hiền như hạt gạo
1

2

3

4

Bà hiền như suối trong
1

2

3

4
(TV3, t.1, tr.117)

Dạng 2: So sánh vắng yếu tố (1):
Đây là dạng so sánh khuyết yếu tố 1, tức là không có cái so sánh. Cái so
sánh là gì, điều đó phụ thuộc vào khả năng liên tƣởng của ngƣời đọc, ngƣời nghe.
Ví dụ:
Chòng chành như nón không quai
Như thuyền không lái như ai không chồng.
(Ca dao)
Dạng so sánh này có rất nhiều trong thành ngữ so sánh: đông như hội,
xấu như ma, lặng như tờ, ngọt như đường...
Dạng 3: So sánh vắng yếu tố (2):

7


So sánh vắng yếu tố 2 còn gọi là so sánh chìm, tức là so sánh không có
cơ sở so sánh. Thông thƣờng, khi bớt cơ sở so sánh thì phần thuyết minh miêu
tả ở cái đƣợc so sánh sẽ rõ ràng hơn. Ngoài ra, nó còn tạo điều kiện cho sự
liên tƣởng rộng rãi, phát huy sự sáng tạo của ngƣời đọc, ngƣời nghe hơn là so
sánh có đủ 4 yếu tố. Dạng so sánh này kích thích sự làm việc của trí tuệ và
tình cảm nhiều hơn để có thể xác định đƣợc những nét giống nhau giữa 2 đối
tƣợng ở 2 vế và từ đó nhận ra đặc điểm của đối tƣợng đƣợc miêu tả.
Ví dụ:

Đây con sông như dòng sữa mẹ
(TV3, t.1, tr.106)

“con sông” đƣợc so sánh nhƣ “dòng sữa mẹ” và từ hình ảnh so sánh
này ngƣời đọc có thể suy nghĩ, liên tƣởng tới nhiều hình ảnh khác nhau.
Chẳng hạn:
Con sông đầy ăm ắp như dòng sữa mẹ
Con sông ngọt ngào như dòng sữa mẹ
Con sông tốt lành như dòng sữa mẹ
Dạng 4: So sánh vắng yếu tố (2) và yếu tố(3)
Đây là một dạng so sánh không đầy đủ, chỉ có cái so sánh và cái đƣợc
so sánh. Yếu tố (2) và (3) đƣợc thay thế bằng chỗ ngắt giọng, dấu gạch ngang
hoặc là hình thức đối chọi.
Ví dụ:
Thân dừa bạc phếch tháng năm
Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao
Đêm hè hoa nở cùng sao
Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh
(TV3, t.1, tr.43)
Tác giả đã rất thành công khi sử dụng hình thức so sánh này. Trong
đoạn thơ trên, nhà thơ đã dùng chỗ ngắt giọng (đƣợc ghi lại bằng gạch ngang)
và đối chọi (giữa quả dừa và tàu dừa) để tạo nên một hình thức so sánh có âm
8


điệu nhịp nhàng. Cách so sánh thứ nhất vừa đúng vừa lạ: những quả dừa có
khác gì đàn lợn con mà đàn lợn con này lại nằm trên cao. Cách so sánh thứ
hai vừa đẹp vừa lạ: tàu dừa mà thành chiếc lƣợc, mây xanh mà thành suối tóc
thì thật kì diệu và thơ mộng.
Ngoài ra, còn có trƣờng hợp yếu tố (1) và yếu tố (4) đổi chỗ cho nhau,
còn gọi là so sánh đổi chỗ.
Ví dụ:
Trên trời mây trắng như bông
Ở giữa cánh đồng bông trắng như mây
(Ca dao)
Có khi dùng cặp từ “bao nhiêu...”, “bấy nhiêu... ” để so sánh.
Ví dụ:
Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.
(Ca dao)
Trong so sánh tu từ, còn có hình thức kết hợp một vế so sánh, một đối
tƣợng so sánh với nhiều đối tƣợng đƣợc so sánh.
Ví dụ: Đất Ê-ti-ô-pi-a là cha, là mẹ, là anh em ruột thịt của chúng tôi.
(TV3, t.1, tr. 85)
Dựa vào mặt ngữ nghĩa ta có thể chia phép so sánh thành các dạng:
Dạng 1: So sánh ngang bằng
Đây là dạng so sánh thƣờng dùng từ “như”, từ “là”, từ “tựa”... để làm
từ so sánh.
Ví dụ:

Hai bàn tay em
Như hoa đầu cành
(TV3, t.1, tr. 8)

9


Hoa đầu cành luôn là hoa luôn tƣơi thắm, xinh đẹp và bàn tay của bé
cũng xinh đẹp, và đáng yêu nhƣ bông hoa kia. Đây chính là một sự so sánh
ngang bằng.
Dạng 2: So sánh bậc hơn - kém
Là dạng so sánh mà cơ sở so sánh luôn gắn liền với từ hơn: khoẻ hơn,
cao hơn, đẹp hơn... .
Ví dụ:

Thần chết chạy nhanh hơn gió
(TV3, t.1, tr.29)

Đây là một hình ảnh so sánh trích trong tác phẩm “Ngƣời mẹ” của
An-đéc-xen. Thần Đêm tối vì muốn thử thách ngƣời mẹ đã nói với bà rằng:
“Thần chết chạy nhanh hơn gió”. Trong tâm thức của mỗi ngƣời, gió là vị
thần chạy nhanh hơn cả, và không có cách nói nào miêu tả sự chạy nhanh của
thần chết hay hơn bằng một sự so sánh nhƣ thế. Tuy nhiên, ngƣời mẹ vẫn
đuổi kịp thần chết, bởi một điều: không có gì chiến thắng đƣợc trái tim ngƣời
mẹ, không có gì so sánh đƣợc với tình yêu của mẹ dành cho con.
Dạng 3: So sánh bậc cao nhất (bậc tuyệt đối)
Đây là dạng so sánh dùng để khẳng định một việc gì đó theo cách nhìn
nhận, cách đánh giá riêng của ngƣời so sánh.
Ví dụ:

Ôi lòng Bác bao la trong di chúc
Vẫn hạt lúa củ khoai chân chất bình thường
Cả dân tộc khóc Người thương mình nhất
Người được thương trên tất cả người thương
Người suốt đời quên mình cho Tổ quốc.
(Việt Phƣơng)

Cũng có thể so sánh bậc cao nhất đƣợc thể hiện bằng câu hỏi tu từ:
Ví dụ:

Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
Hiu quạnh bên trong một tiếng hò?
(Tố Hữu)
10


Những ví dụ trên cho ta thấy các đối tƣợng đƣợc đƣa ra để so sánh khác
nhau về bản chất. Nhƣng do một cách nhìn đặc biệt, các đối tƣợng vốn là khác
loại, khác bản chất có thể chuyển hóa đƣợc cho nhau, có những đặc điểm,
những nét giống nhau. Một so sánh đẹp là một so sánh phát hiện, phát hiện ra
những gì nhiều ngƣời không nhìn ra, không nhận thấy.
1.2. Ngôn ngữ văn chƣơng với biện pháp tu từ so sánh
Ngôn ngữ văn thơ có các chức năng đặc thù sau:
- Chức năng tạo hình - biểu cảm
- Chức năng tạo tính hàm súc
- Chức năng tác động
- Chức năng thẩm mỹ
Tƣơng ứng với bốn chức năng kể trên là các chức năng của so sánh tu
từ. Ví dụ:
Chức năng nhận thức
Bản chất của sự so sánh là lấy một hình ảnh cụ thể để miêu tả một hình
ảnh chƣa đƣợc cụ thể.
Chẳng hạn:
- Gầy như cò hương
- Vui như hội
hoặc:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
(Hồ Chí Minh)
Nhờ “tiếng hát xa” mà ngƣời đọc có thể hình dung ra âm thanh của
tiếng suối và có tình cảm với tiếng suối. Nhờ “vẽ” mà ngƣời đọc hình dung ra
rõ rệt độ sáng và đƣờng nét của cảnh rừng với đêm trăng.
Chức năng biểu cảm- cảm xúc

11


Bên cạnh chức năng nhận thức, phép so sánh còn có chức năng biểu
cảm- cảm xúc. Trong lời nói hàng ngày chúng ta gặp nhiều cách ví von rất
hay. Mỗi một sự so sánh là một lời nhận xét mà ít có cách nói nào diễn đạt
hiệu quả hơn: gầy như mắm, béo như lợn, hôi như cú, gầy như quỷ...
Rõ ràng cũng nói về biển nhƣng nếu nói theo cách bình thƣờng là: “Biển
rất rộng và nước có màu xanh thẳm” thì sẽ không tác động nhiều đến ngƣời
nghe bằng cách nói của Vũ Tú Nam: “Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng
lồ bằng ngọc thạch” (TV3, t.1, tr. 8). Ở cách nói thứ hai không chỉ đơn thuần là
thông tin, sự kiện mà nó còn thể hiện thái độ của ngƣời nói đối với sự kiện đó.
Đúng là cũng nói về biển nhƣng qua xúc cảm của nhà văn, biển trở nên đẹp
và có hồn hơn bởi vì nhà văn đã sử dụng phép so sánh trong khi miêu tả.
Với chức năng biểu cảm, so sánh là cách nói dễ đi vào lòng ngƣời, dễ
chiếm đƣợc lòng ngƣời, làm cho ngƣời ta dễ nhớ, dễ thuộc và nhớ lâu. So
sánh tu từ chính là một phƣơng thức tạo hình, gợi cảm, là đôi cánh giúp cho
chúng ta bay vào thế giới của cái đẹp, của trí tƣởng tƣợng vô cùng phong phú.
Tìm hiểu hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các bài văn thơ viết
cho trẻ ở sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3, chúng tôi cho rằng việc dựa vào
những lí luận về chức năng của ngôn ngữ văn, thơ là rất cần thiết.
Ngoài những hiểu biết về biện pháp tu từ so sánh, về giao tiếp bằng
ngôn ngữ, đặc biệt là về chức năng ngôn ngữ văn, thơ trong giao tiếp giữa nhà
văn, nhà thơ và độc giả, tôi cho rằng chúng ta cần phải có những hiểu biết về
đặc điểm tâm lí của ngƣời tiếp nhận. Ở đây ngƣời tiếp nhận chính là những
học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh thuộc khối lớp 3.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1. Đặc điểm tâm lí và khả năng tiếp nhận của học sinh tiểu học trong
hoạt động giao tiếp
Tuy cùng chịu sự chi phối của những quy luật và yếu tố nhƣ ở các giai
đoạn phát triển khác, nhƣng mỗi một giai đoạn lứa tuổi trong quá trình phát
12


triển tâm lí của cá thể nói chung và trẻ em nói riêng là một khoảng thời gian
nhất định với những đặc trƣng riêng của một trình độ phát triển.
Học sinh tiểu học thƣờng là những trẻ có tuổi từ 6 – 11, 12 tuổi. Đây là
lứa tuổi đầu tiên đến trƣờng- trở thành học sinh và có hoạt động chủ đạo. Trẻ
em lứa tuổi tiểu học thực hiện bƣớc chuyển từ hoạt động vui chơi là hoạt động
chủ đạo sang học tập là hoạt động chủ đạo. Lứa tuổi học sinh tiểu học là một
giai đoạn phát triển với các đặc trƣng sau:
Sự phát triển của quá trình nhận thức (sự phát triển trí tuệ):
Nhận thức cảm tính
Các cơ quan cảm giác nhƣ thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc
giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện.
Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi
tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thƣờng gắn với
hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc
cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tƣợng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri
giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phƣơng hƣớng rõ ràng - Tri giác có
chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm
các bài tập từ dễ đến khó,...)
Nhận thức lý tính
Tƣ duy: Tƣ duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ƣu thế ở tƣ duy
trực quan hành động. Các phẩm chất tƣ duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tƣ
duy trừu tƣợng khái quát. Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi,
lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích,
tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học.
Tƣởng tƣợng: Tƣởng tƣợng của học sinh tiểu học đã phát triển phong
phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm
ngày càng dầy dạn. Tuy nhiên, tƣởng tƣợng của các em vẫn mang một số đặc
điểm nổi bật nhƣ ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tƣởng tƣợng còn đơn giản,
13


chƣa bền vững và dễ thay đổi. Còn ở cuối tuổi tiểu học thì tƣởng tƣợng tái tạo
đã bắt đầu hoàn thiện: Từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh
mới. Tƣởng tƣợng sáng tạo tƣơng đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học,
trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,.... Đặc biệt, tƣởng
tƣợng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm,
tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tƣợng đều gắn liền với các rung động
tình cảm của các em.
Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học:
Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn
liền với các sự vật hiện tƣợng sinh động, rực rỡ...Lúc này khả năng kiềm chế
cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện
cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cƣời, rất hồn nhiên vô tƣ...
Có thể nói tình cảm của trẻ chƣa bền vững, dễ thay đổi, dễ xuất hiện
những tình cảm mới. Vì vậy việc dùng các tác phẩm văn thơ để tác động đến
cảm xúc của học sinh đặc biệt quan trọng, lời nói sinh động, giàu hình ảnh có
sức cuốn hút mạnh mẽ, để lại ấn tƣợng sâu sắc trong tâm hồn các em, bồi
dƣỡng tình cảm yêu ghét cho các em.
Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ của học sinh tiểu học:
Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ: Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp quan
trọng nhất của xã hội loài ngƣời. Ngôn ngữ tồn tại dƣới hai dạng: nói và viết.
Cùng diễn đạt một nội dung nào đó bằng phƣơng tiện ngôn ngữ, có thể sử
dụng dạng nói hoặc dạng viết tùy theo yêu cầu, mục đích, đối tƣợng, điều
kiện, hoàn cảnh giao tiếp.
Định hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học của bộ môn Tiếng Việt là
phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, tạo cơ hội để có thể tăng cƣờng
rèn luyện cho học sinh cả 4 kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết).
Mục tiêu đó đƣợc đặt lên hàng ƣu tiên vì vậy hoạt động giao tiếp và kĩ năng
sử dụng ngôn ngữ chính là mục đích số một và cũng là phƣơng tiện khi dạy
14


học môn Tiếng Việt. Môn Tiếng Việt gợi mở cho học sinh cảm nhận cái hay,
cái đẹp của ngôn từ Tiếng Việt và hiểu đƣợc cuộc sống xã hội xung quanh;
bồi dƣỡng cho học sinh những tình cảm về quê hƣơng, đất nƣớc, gia đình;
hình thành ở trong con ngƣời các em những phẩm chất tốt đẹp.
2.2. Thống kê các hình ảnh so sánh đƣợc sử dụng trong các bài văn thơ ở
SGK Tiếng Việt lớp 3
Qua tìm hiểu thực tế, chúng tôi thấy rằng biện pháp tu từ so sánh là một
trong những biện pháp tu từ dễ nhận biết và đem lại hiệu quả cao trong quá
trình cảm thụ cái hay, cái đẹp ở các bài văn thơ sử dụng trong chƣơng trình
SGK Tiếng Việt cấp tiểu học nói chung, chƣơng trình SGK Tiếng Việt khối
lớp 3 nói riêng. Đối với học sinh lớp 3, các em đã đƣợc học những bài văn thơ
có nhiều hình ảnh so sánh thân thuộc, gần gũi với cuộc sống xung quanh
mình, từ đó ngoài việc nhận biết đƣợc trong câu thơ, câu văn nào sử dụng
hình ảnh so sánh thì các em còn có thể hiểu đƣợc những hiệu quả mà biện
pháp tu từ này đem lại.
Chƣơng trình SGK Tiếng Việt 3 tập 1, tập 2 do NXB Giáo dục phát
hành có 85 văn bản nghệ thuật bao gồm thơ, truyện ngắn, truyện cƣời, truyện
ngụ ngôn...Trong đó, có 32 văn bản chứa hình ảnh so sánh đƣợc phân bố đều
ở mỗi chủ điểm, mỗi tuần học nhƣ sau:

Bảng 1 : Các hình ảnh so sánh trong các văn bản Tập đọc ở lớp 3
TT

Hình ảnh so sánh

Bài

1

Hai bàn tay em nhƣ hoa đầu cành

2

Cái Anh hai má núng nính, ngồi gọn tròn

Hai bàn tay em

nhƣ củ khoai

Cô giáo tí hon

Trang
7
17

3

Thần Chết chạy nhanh hơn gió

Ngƣời mẹ

29

4

Mẹ về nhƣ nắng mới

Mẹ vắng nhà ngày bão

32

15


Sáng ấm cả gian nhà
5

Trời xanh ngắt trên cao, xanh nhƣ dòng

34

sông trong, trôi lặng lẽ giữa những ngọn ông ngoại
cây hè phố.
6

Mùa thu của em

42
Mùa thu của em

Là vàng hoa cúc
Nhƣ nghìn con mắt
Mở nhìn trời êm
7

- Đi đón ngày khai trƣờng

49
Ngày khai trƣờng

Vui nhƣ là đi hội
- Lá cờ bay nhƣ reo.
8

- Những cảm giác trong sáng ấy nảy nở
trong lòng tôi nhƣ mấy cánh hoa tƣơi
mỉm cƣời giữa bầu trời quang đãng.

51
Nhớ lại buổi đầu đi học

- Mấy ngƣời học trò bỡ ngỡ nhƣ con chim
nhìn quãng trời rộng muốn bay nhƣng
còn ngập ngừng e sợ.
10

- Quê hƣơng là chùm khế ngọt

79

- Quê hƣơng là đƣờng đi học

Quê hƣơng

- Quê hƣơng là con diều biếc
- Quê hƣơng là con đò nhỏ
- Quê hƣơng là cầu tre nhỏ
- Quê hƣơng là đêm trăng tỏ
- Quê hƣơng mỗi ngƣời chỉ một
Nhƣ là chỉ một mẹ thôi.
11

Đất Ê-ti-ô-pi-a là cha, là mẹ, là anh em
ruột thịt của chúng tôi

16

Đất quý, đất yêu

84


12

- Lá rau nhƣ mạ bạc, trông nhƣ đƣợc phủ
một lớp tuyết cực mỏng.

91
Chõ bánh khúc của dì tôi

- Những hạt sƣơng sớm đọng trên lá long
lanh nhƣ những bóng đèn pha lê.
- Những cái bánh màu rêu xanh lấp ló
trong cái áo xôi nếp trắng đƣợc đặt vào
những chiếc lá chuối hơ qua lửa thật
mềm, trông đẹp nhƣ những bông hoa
- Cắn một miếng bánh thì nhƣ thấy cả
hƣơng đồng, cỏ nội gói vào trong đó
13

Đi giữa rừng hoa nhƣ đi trong mơ

Nắng phƣơng Nam

94

14

Non xanh nƣớc biếc nhƣ tranh họa đồ

Cảnh đẹp non sông

97

15

Ông sao Rua mọc lên giữa lòng suối nhƣ Ngƣời con của Tây Nguyên

103

một chùm hạt ngọc
16

Đây con sông nhƣ dòng sữa mẹ

106

Nƣớc về xanh đồng lúa vƣờn cây

Vàm Cỏ Đông

Và ăm ắp nhƣ lòng ngƣời mẹ
Chở tình thƣơng trang trải đêm ngày
17

- Bình minh, mặt trời nhƣ chiếc thau đồng
đỏ ối chiếu xuống mặt biển, nƣớc biển

Cửa Tùng

109

nhuộm màu hồng nhạt.
- Bờ biển Cửa Tùng giống nhƣ một chiếc
lƣợc đồi mồi cài vào mái tóc bạch kim của
sóng biển
18

Những tảng đá ven đƣờng sáng hẳn lên
nhƣ vui trong nắng sớm

19

- Ngƣời, xe đi nhƣ gió thổi

Ngƣời liên lạc nhỏ

112

124

17


- Nhà cao sừng sững nhƣ núi

Nhà bố ở

- Đƣờng lên đi vào trong ruột
Quanh co nhƣ Páo leo đèo
- Bố ở tầng năm chót vót
Gió nhƣ đỉnh núi bản ta
20

- Ban đêm, đèn điện lấp lánh nhƣ sao sa

Đôi bạn

130

21

Vầng trăng nhƣ lá thuyền trôi êm đềm

Về quê ngoại

133

22

Anh Đóm quay vòng nhƣ sao bừng nở

Anh Đom đóm

143

23

Tiếng hát bùng lên nhƣ ngọn lửa rực rỡ
giữa đêm rừng lạnh tối

24

Đoàn quân nối thành vệt dài từ thung lũng tới
đỉnhcaonhƣ một sợi dâykéothẳngđứng

25

Những con dơi xoè cánh chao đi chao lại
nhƣ chiếc lá bay

26

27

Ở lại với chiến khu
Trên đƣờng mòn Hồ Chí Minh
Ông tổ nghề thêu

Cáicầutrenhƣ võngtrên sôngrungƣời qualại Cái cầu
- Cái chân tựa nhƣ bằng cột sắt

13

19

23

34

59

- Ông nắm lấy khố Quắm Đen nhấc bổng Hội vật
anh ta lên nhẹ nhàng nhƣ giơ con ếch có
sợi rơm ngang bụng vậy.
28

29

Cả bầy hăng máu phóng nhƣ bay

Hội đua voi ở Tây Nguyên

Bƣớc mỗi bƣớc say mê

Đi hội chùa Hƣơng

Nhƣ giữa trang cổ tích
30

- Đê-rốt-xi và Cô-rét-ti leo nhƣ hai con khỉ.
- Cậu khoẻ chẳng khác gì một con bò Buổi học thể dục
mộng non

18

60

68

89


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×