Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo bé (3 4 tuổi) có kỹ năng định hướng không gian”.

MỤC LỤC
STT

Phần nội dung

Số trang

I

ĐẶT VẤN ĐỀ

2

II

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

4

1


Cơ sở lý luận

4

2

Thực trạng vấn đề

5

a

Đặc điểm chung

5

b

Thuận lợi

5

c

Khó khăn

5

3

Các biện pháp thực hiện

5

4
III
1

Biện pháp 1: Khảo sát mức độ định hướng không gian


5

Biện pháp 2: Tạo môi trường học tập cho trẻ

6

Biện pháp 3: Tạo hứng thú cho trẻ trong hoạt động làm quen
với toán

8

Biện pháp 4: Qua tích hợp làm quen với toán vào các môn
học khác
Biện pháp 5: Tổ chức dạy “Định hướng không gian” trong
chế độ sinh hoạt hàng ngày
Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm

19

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Ý nghĩa của SKKN

22
27
28
28

2

Bài học kinh nghiệm

28

3

Ý kiến đề xuất

29

TÀI LIỆU THAM KHẢO

30

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
0/30


Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Mục tiêu của giáo dục mầm non là hình thành cơ sở ban đầu về nhân cách, giúp
con người phát triển toàn diện. Một trong những nội dung quan trọng góp phần
thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non là hình thành các biểu tượng toán học cơ
bản cho trẻ. Hoạt động làm quen với toán đóng vai trò vô cùng quan trọng trong
việc cung cấp những kiến thức ban đầu cho trẻ, trẻ làm quen với những biểu
thức toán ngay từ tuổi mầm non là một việc làm hoàn toàn đúng đắn và cần thiết
đó chính là cơ hội tốt để giúp trẻ hình thành phẩm chất năng lực hoạt động cho
mình như: Tìm tòi, quan sát, so sánh… Trong các nội dung dạy trẻ mẫu giáo làm
quen với toán, nội dung dạy trẻ định hướng trong không gian có tầm quan trọng
đặc biệt góp phần giúp trẻ lĩnh hội những kĩ năng, kĩ xảo và phát triển trí tuệ của
trẻ trong độ tuổi mầm non, phổ thông và trong cuộc sống.
Việc hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ là một việc làm hoàn toàn
đúng đắn và cần thiết vì đó chính là cơ hội tốt giúp trẻ hình thành những phẩm
chất năng lực hoạt động cho mình như: Tìm tòi, sáng tạo, quan sát, so sánh, phân
tích…Thông qua hoạt động làm quen với toán giúp trẻ hình thành những biểu
tượng ban đầu về toán như: Số lượng, kích thước, hình dạng, định hướng trong
không gian để sau này trẻ vững vàng, tự tin hơn khi tiếp nhận những kiến thức
của môn toán trong giai đoạn tiếp theo.Mặt khác cho trẻ làm quen với toán còn
góp phần phát triển trí tuệ giúp tư duy của trẻ chuyển từ tư duy trực quan hành
động sang tư duy trực quan hình tượng đến lôgíc.Tạo tiền đề nền móng hình
thành nhân cách cho trẻ.
Trên thực tế, khả năng định hướng trong không gian của trẻ còn nhiều hạn
chế. Đặc biệt là trẻ mẫu giáo bé 3 - 4 tuổido đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, khả
năng ghi nhớ có chủ định của trẻ mới hình thành, trẻ dễ nhớ mau quên nhất là trẻ
3 tuổi giai đoạn đầu tiên của lứa tuổi mẫu giáo. Vì vậy phải đảm bảo nguyên tắc
“Học bằng chơi, chơi mà học” mà môn Làm quen với toán lại là một môn học
khô khan và cứng nhắc nhất là việc “Dạy trẻ định hướng trong không gian” là
một loại tiết trẻ rất khó tiếp thu. Vì định hướng không gian là cách xác định
khoảng cách, vị trí tương quan trong không gian với nhau. Đa số trẻ 3 tuổi chưa
biết cách xác định vị trí đứng của mình so với các đối tượng xung quanh. Mà
chủ yếu các cháu chỉ nhận biết vị trí các vật trong thực tiễn theo các hướng khác
nhau do cảm giác của bản thân trẻ đưa lại.Vậy để dạy trẻ học tốt định hướng
trong không gian đòi hỏi người giáo viên phải tổ chức linh hoạt sáng tạo các
hoạt động để trẻ được hoạt động một cách tích cực và đạt kết quả cao.
Năm học 2016 - 2017 tôi được phân công dạy lớp mẫu giáo bé 3 tuổi. Bản
thân tôi gặp rất nhiều khó khăn vì trẻ ra lớp không đồng đều,nhiều trẻ nhút nhát,

1/30


chưa tích cực tham gia hoạt động, nhiều cháu chưa qua lớp nhà trẻ, kiến thức về
toán của trẻ còn nhiều hạn chế, đa số phụ huynh làm nông nghiệp.Với nhận thức
và kinh nghiệm của một giáo viên nhiều năm liền dạy trẻ 3 tuổi tôi và từ những
lý do trên, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo bé
(3- 4 tuổi) có kỹ năng định hướng không gian”.
Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Đánh giá mức độ nhận khả năng định hướng trong không gian của trẻ
mẫu giáo bé (3 – 4 tuổi) để từ đó đề xuất các biện pháp dạy trẻ mẫu giáo bé (34 tuổi) có kỹ năng định hướng không gian tại trường mầm non.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo bé (3- 4 tuổi) có kỹ năng định hướng
không gian.
Phạm vi áp dụng:
Trẻ lứa tuổi mẫu giáo bé (3 – 4 Tuổi ) trong trường mầm non năm học
2016 - 2017.

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1.CƠ SỞ LÍ LUẬN

2/30


“Toán học” đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của
trẻ, giúp trẻ nhận biết được thế giới xung quanh về các mối quan hệ: số lượng,
kích thước, hình dạng, vị trí trong không gian giữa các đồ vật với nhau.
Trong đó “Định hướng không gian” là sự xác định vị trí của chủ thể định
hướng so với các khách thể xung quanh nó. Là vị trí của vật xung quanh so với
chủ thể định hướng. Định hướng không gian bao gồm cả sự đánh giá khoảng
cách, xác định kích thước, hình dạng và vị trí tương đối của chúng so với vật
chuẩn.Vì vậy việc dạy trẻ định hướng không gian là một hoạt động rất quan
trọng. Nó giúp trẻ xác định được các đồ vật, các vị trí so với bản thân trẻ. Định
hướng không gian cũng là một trong những nội dung của chương trình giáo dục,
hình thành những biểu tượng “Toán” sơ đẳng cho trẻ mầm non. Nội dung dạy trẻ
mẫu giáo bé “Định hướng không gian” bao gôm:
- Dạy trẻ nhận biết, phân biệt, nắm được tên gọi và vị trí sắp đặt của các
bộ phận của cơ thể trẻ.
- Dạy trẻ xác định các hướng: Phía trên - phía dưới, phía trước - phía sau
khi trẻ lấy mình làm chuẩn.
- Dạy trẻ xác định tay phải, tay trái của bản thân trẻ.
- Dạy trẻ bước đầu biết định hướng trên mặt phẳng.
Đối với trẻ 3 tuổi hệ tọa độ cảm giác là hệ tọa độ đầu tiên mà trẻ nhỏ sử
dụng để định hướng trong không gian, đây là hệ tọa độ dựa theo các chiều của
cơ thể, chúng được hình thành ở trẻ 3 tuổi dựa trên những hiểu biết của trẻ về sự
sắp đặt của các bộ phận cơ thể của bản thân trẻ.Và cơ thể trẻ là trung tâm “Điểm
xuất phát” để dựa vào đó mà trẻ xác định được các hướng trong không gian. Qua
đó sẽ giúp trẻ lĩnh hội được những kiến thức khái quát cơ bản về xác định các
hướng đối với bản thân trẻ. Quá trình nhận biết, tìm hiểu không gian phát triển
dần cùng với sự phát triển khả năng vận động của bản thân trẻ. Nhờ sự vận động
mà trẻ nhận biết được khoảng cách khác nhau giữa các đối tượng cũng như vị trí
sắp đặt của chúng trong không gian. Làm quen với toán đã cung cấp cho trẻ vốn
từ về các biểu tượng toán học giúp trẻ hiểu và diễn đạt các từ phù hợp với thực
tế.
Có thể nói rằng việc cho trẻ “Làm quen với toán” rất quan trọng giúp trẻ
phát triển một cách toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ tạo nên một con
người mới.

2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
a. Đặc điểm chung :

3/30


- Trường mầm non tôi đang làm việc là trường chuẩn quốc gia mức độ 1
và nhà trường trang bị đầy đủ cơ sở vật chất cũng như đồ dùng đồ chơi cho các
lớp học.
- Năm học 2016 - 2017 tôi được Ban Giám Hiệu phân công dạy lớp mẫu
giáo bé. Hiện nay, lớp tôi có 2 giáo viên phụ trách có 21 cháu. Trong đó có
11nam và 10 nữ.
b. Thuận lợi:
- Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu, tổ chuyên môn
nhà trường cho nên thường xuyên được trao đổi phương pháp từ ban giám hiệu
cũng như những giáo viên dày dạn kinh nghiệm thông qua các buổi sinh hoạt
chuyên môn.
- Bản thân đã tốt nghiệp đại học sư phạm, luôn nhiệt tình tâm huyết với
nghề, ham học hỏi, trau dồi kiến thức.
- Đầy đủ đồ dùng, đồ chơi phục vụ công tác chăm sóc - giáo dục trẻ.
c. Khó khăn:
- Đối tượng trẻ là trẻ 3-4 tuổi,với tâm lý lứa tuổi là trẻ có khả năng tập
trung còn rất hạn chế.
-Nhiều trẻ chưa qua lớp nhà trẻ nên khả năng tiếp thu còn hạn chế thiếu hệ
thống.
- Nhiều trẻ nhút nhát không thích hoạt động.Kiến thức toán của trẻ còn
nông cạn mang tính học vẹt.Trẻ chưa biết cách định hướng khi quan sát.
- Đa số phụ huynh làm nghề nông và chạy chợ nên nhận thức còn hạn chế
chưa quan tâm và coi trọng việc cho trẻ làm quen với toán.
- Một giáo viên mới ra trường kinh nghiệm thực tế còn hạn chế.
Từ những thuận lợi và khó khăn trên mà tôi đã áp dụng một số biện pháp
ý tưởng của mình nhằm nâng cao chất lượng cho trẻ định hướng không gian.
3. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Biện pháp 1: Khảo sát mức độ định hướng không gian.
Việc khảo sát trẻ từ đầu năm học là rất cần thiết và quan trọng vì có như
vậy ta mới đánh giá chính xác nhất về mức độ trẻ có kỹ năng đến đâu và như thế
nào mới có biện pháp khắc phục.
Ở lứa tuổi mẫu giáo bé nội dung định hướng trong không gian bao gồm:
- Dạy trẻ phân biệt, nhận biết, nắm được tên gọi và vị trí sắp đặt của các
bộ phận của cơ thể trẻ.
- Dạy trẻ xác định tay phải - tay trái của bản thân trẻ.
- Dạy trẻ xác định các hướng : phía trên - phía dưới, phía trước - phía sau
khi trẻ lấy mình làm chuẩn (của bản thân trẻ).

4/30


- Dạy trẻ bước đầu biết định hướng trên mặt phẳng.
Với những nội dung trên, trong quá trình dạy trẻ tôi thấy trẻ vẫn còn xác
định nhầm lẫn các vị trí không gian của bản thân mình. Chính vì vậy, mà ngay từ
đầu năm học khi được phân công phụ trách lớp mẫu giáo bé. Tôi đã tiến hành
khảo sát mức độ định hướng không gian ở trẻ. Để biết mức độ nhận thức và
những khả năng, kỹ năng của trẻ ở lớp, để đặt ra cho mình những kế hoạch cần
dạy trẻ trong năm học và tìm ra những phương pháp, biện pháp cụ thể để bồi
dưỡng kịp thời cho những trẻ yếu kém.
Tôi và giáo viên cùng lớp đã chia số trẻ trong lớp thành 2 nhóm trẻ. Mỗi
cô chịu trách nhiệm theo dõi, đánh giá, khảo sát chất lượng nhóm trẻ mà mình
phụ trách. Thông qua kết quả từ những hoạt động học tập và vui chơi của trẻ, kết
quả khảo sát mức độ định hướng không gian của trẻ lớp tôi như sau:
Bảng khảo sát mức độ định hướng không gian đầu năm học 2016– 2017

Tổng số
trẻ
21
Tỉ lệ %

Xác định phía
Xác định phía trên trước - phía sau của phía dưới của bản
bản thân
thân
Đ
15
71


6
29

Đ
14
67


7
33

Xác định tay phải tay
trái của bản thân
Đ
16
76


5
24

Kết quả: Với kết quả khảo sát trẻ về định hướng không gian của trẻ 3 tuổi
như trên tôi cảm thấy rất băn khoăn lo lắng làm thế nào để trẻ học tốt về định
hướng không gian. Nhờ có bảng khảo sát sẽ giúp tôi nắm bắt được tình hình
thực tế của lớp và định hướng các biện pháp cụ thể.
Biện pháp 2: Tạo môi trường học tập cho trẻ.
Môi trường học tập cũng là một yếu tố trực quan trực tiếp, tác động hàng
ngày đến trẻ. Chính vì vậy việc xây dựng cảnh quan môi trường xung quanh trẻ
được tôi đặc biệt quan tâm. Trẻ 3 tuổi là giai đoạn đầu tiên của trẻ mẫu giáo nên
trẻ vẫn còn nhiều bỡ ngỡ khi được đến trường. Chính vì vậy môi trường học tập
của trẻ phải đẹp, hấp dẫn và gần gũi với trẻ tạo cho trẻ niềm vui khi được đến
trường, đến lớp. Bên cạnh đó môi trường lớp học luôn được sạch sẽ và mọi đồ
dung, đồ chơi phải để trong tầm tay trẻ để trẻ có thể thực hiện được.
- Trang trí, sắp xếp lớp học phòng học hài hoà hợp lý để tạo được sự chú
ý, sự hấp dẫn lôi cuốn trẻ vào giờ học theo giai đoạn, theo chủ điểm, theo nội
dung từng bài.

5/30


- Tuỳ vào nội dung của từng bài để bố trí trực quan xung quanh lớp, giá
đồ chơi, tranh treo tường cho hợp lý để trẻ luyện tập cũng như liên hệ thực tế.
Ví dụ: Dạy trẻ xác định phía trên - phía dưới, phía trước - phía sau.
Tôi đã trang trí bầy biện đồ chơi cho phù hợp với tiết dạy. Tôi treo chùm
bóng với nhiều màu sắc ở phía trên cao để thu hút sự chú ý của trẻ…Treo các
hình ảnh phù hợp với chủ điểm để trang trí góc chủ đề thật hấp dẫn và đẹp mắt.
Trang trí góc toán đẹp và hấp dẫn: Để việc học toán của trẻ được tốt hơn
việc trang trí và bầy biện ở góc toán cũng cần phải đẹp và đảm bảo tính
khoahọc. Khi ôn về định hướng không gian: tôi cho trẻ lại gần góc toán và hỏi
phía trước con có gì? Con hãy đặt ngôi nhà cao hơn ở phía sau, ngôi nhà thấp
hơn ở phía trước. Con cất các những chiếc xe đạp ở ngăn giá phía trên, cất
những chiếc xe máy ở ngăn giá phía dưới...

Trẻ nhận chơi ở góc toán
Kết quả: Với biện pháp này sẽ luôn tạo môi trường lớp được thay đổi để
giúp trẻ thích được khám phá vui chơi trong mọi hoạt động trong 1 ngày của trẻ
đến trường. Môi trường lớp luôn thay đổi sẽ khiến trẻ tò mò và thích chơi hơn vì
trẻ nhỏ luôn tri giác bằng mắt là nhiều.

6/30


Biện pháp 3: Tạo hứng thú cho trẻ trong hoạt động làm quen với toán.
Với mỗi tiết học để trẻ ghi nhớ tốt nhất thì việc gây hứng thú cho trẻ là
cần thiết, có như vậy trẻ mới tham gia sôi nổi và cho ta kết quả tốt. Đối với đặc
điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo thì dạy trẻ dưới hình thức thông qua các trò
chơi, các bài thơ, bài hát là trẻ rất hứng thú. Thông qua đó giúp trẻ lĩnh hội kiến
thức một cách thoải mái hơn, sâu sắc hơn và hiệu quả hơn. Tuy đa số các trẻ
mẫu giáo bé đều đã nhận biết các hướng đối với cơ thể mình nhưng một số vẫn
còn nhầm lẫn và có khi phản ứng còn chưa nhanh nhạy nên tôi đã đưa một số trò
chơi, bài thơ giúp trẻ nhận biết nhanh và chính xác các hướng đối với bản thân.
Trẻ 3 tuổi chủ yếu dựa vào các bộ phận của cơ thể mình để liên hệ với các
hướng trong không gian. Chính vì vậy tôi đã nghiên cứu để sáng tác và sưu tầm
một số bài thơ, bài vè, bài hát, các trò chơi để giúp trẻ khắc sâu cách xác định
đúng các bộ phận trên cơ thể mình. Trẻ biết được phía trên có đầu, phía dưới có
chân, phía trước có mặt, phía sau có lưng. Từ đó trẻ sẽ xác định được các vị trí
trong không gian một các dễ dàng hơn.
* Dạy trẻ định hướng không gian thông qua trò chơi:
Ví dụ 1: Trò chơi “Hãy làm nhanh theo yêu cầu”
- Cô ngồi trước mặt trẻ và nói: “Tay cầm bút” - Trẻ giơ tay phải
“Tay giữ vở” - Trẻ giơ tay trái
- Cô ở đâu? => Trẻ chỉ lên phía trước và nói “phía trước”
- Cái lưng của con đâu nhỉ? => Trẻ chỉ tay ra sau lưng và nói “phía sau”
- Cô nói “Cái đầu” => Trẻ chỉ lên đầu và nói “phía trên”
- Cô nói “Hai chân đẹp” => Trẻ chỉ xuống dưới chân và nói “phía dưới”
Đổi hình thức và nâng cao yêu cầu cũng hỏi tương tự nhưng trẻ phải cầm
thêm một đồ vật cô yêu cầu để về phía đó.
- Cô để các đồ vật khác nhau ở các hướng, cô cho một trẻ lên đứng giữa
lớp hỏi các phía của con có những đồ vật nào (ví dụ: tay phải con ở đâu? => Trẻ
giơ tay phải và chỉ đúng hướng rồi đọc tên đồ vật có ở hướng phải…), hỏi trẻ
nhiều hướng và lần lượt cho những trẻ khác lên (Cô đổi các đồ vật ở các hướng
khác nhau sau mỗi lần trẻ khác lên), cho trẻ đứng quay mặt nhiều hướng để xác
định.
- Trong quá trình dạy trẻ tôi đã sáng tác bài thơ để dạy trẻ xác định các
hướng cơ bản của trẻ để thu hút sự chú ý của trẻ hơn
Ví dụ 2: Trò chơi: “ Đứng đúng chổ của tôi”
Cô chuẩn bị 1 cái mũ (Cô đội mũ) cùng cả lớp đi chơi, vừa đi vừa hát. Khi
cô nói: Hãy đứng về phía phải ( hoặc phía trái, phía trước, phía sau ) của tôi, cô
đứng im theo hướng nào đó. Trẻ phải chạy về đứng hết ở phía cô yêu cầu. Khi

7/30


trẻ chơi thành thạo, cô có thể yêu cầu cao hơn: Các cháu trai đứng ở phía phải,
các cháu gái đứng ở phía trái, hoặc các cháu gái đứng ở phía trước, cháu trai
đứng phía sau.
Ví dụ 3: Trò chơi 3: “Thi nhảy đúng ô”
- Đồ dung chuẩn bị: Phấn hoặc vòng
- Tiến hành:
+ Cô vẽ 5 ô vuông (hình chữ thập), trẻ đứng vào 1 ô.
+ Trẻ nhảy theo yêu cầu của cô “Nhảy vào ô phía trước”, “Nhảy vào ô bên trái”,
“Nhảy vào ô bên phải”, “ Nhảy vào ô ở giữa”.Cho mỗi trẻ thực hiện 2 - 3 lần.

Trò chơi: Thi nhẩy đúng ô.
Ví dụ 4: Dạy trẻ xác định phía trên - phía dưới, phía trước - phía sau của bản
thân.
- Tôi cho trẻ chơi trò chơi “ Dấu tay” Trẻ chơi theo lời bài hát: Dấu cái tay
ra sau lưng, khi cô hỏi tay đâu? Trẻ trả lời tay đây, trẻ đưa tay ra phía trước. Cô
hỏi trẻ tay ở phía nào của con? Cô lại cho trẻ dấu tay ra sau lưng và hỏi trẻ tay ở
phía nào của con? Trẻ phải trả lời ở phía sau. Cô lại hỏi làm thế nào để con nhìn
thấy tay của các con? Trẻ trả lời theo ý hiểu của mình. Sau đó cô khái quát lại
những đồ vật ở trước mặt các con được gọi là phía trước. Còn những gì ở sau
lưng muốn nhìn thấy phải quay lại đằng sau mới nhìn thấy thì gọi là phía sau.
Trẻ vừa hát và làm theo lời bài hát, theo sự chỉ dẫn của cô giáo.

8/30


“ Dấu cái tay ra sau lưng, khi cô hỏi tay đâu. Dấu cái tay ra sau lưng khi
cô hỏi tay đây” Tay đưa ra trước mặt. Thì trẻ đưa tay ra phía trước. Trẻ phải trả
lời phía trước ạ. Cô lại bảo tay ra sau lưng. Trẻ đưa tay ra sau lưng và trả lời
phía sau ạ.
Cô cho trẻ chơi với tốc độ nhanh dần. Cứ như vậy chơi 3 - 4 lần. Qua trò
chơi tôi thấy trẻ rất vui vẻ và tích cực tham gia chơi mà không hề buồn chán.

Trẻ chơi trò chơi: “Dấu tay”
Khi dạy về phía trên - phía dưới, tôi cho trẻ chơi trò chơi “Ai giỏi nhất”.
Tôi treo một số đồ chơi ở trên cao. Tôi định hướng cho trẻ quan sát và ai phát
hiện nhiều đồ chơi ở trên cao sẽ thắng. Cô nói đố các con quả bóng màu đỏ ở
đâu? Muốn nhìn thấy quả bóng các con phải làm gì?Trẻ phải nói được phải
ngẩng đầu lên. Quả bóng đó ở phía nào của con? Ngoài quả bóng còn có những
gì ở phía trên của các con? Trẻ phải quan sát và trả lời.
- Tương tự như vậy muốn dạy trẻ xác định phía dưới.Tôi chuẩn bị cho
mỗi trẻ một đồ chơi. Cho trẻ dấu ở dưới gầm ghế và hỏi trẻ đồ chơi của con để ở
đâu? Muốn nhìn thấy đồ chơi đó con phải làm gì?
+ Trẻ phải trả lời được phải cúi xuống mới nhìn thấy vật đó vì nó ở phía
dưới của con.
Thông qua các trò chơi trẻ vừa được chơi và tiếp thu kiến thức một cách
rất thoải mái mà không bị gò bó, không cảm thấy mệt mỏi và buốn chán. Qua
thực tế tôi thấy trẻ lớp tôi rất hứng thú tham gia các trò chơi.

9/30


Trẻ chơi trò chơi: “Ai giỏi nhất”
Ngoài ra tôi có thể cho trẻ chơi trò chơi “ Bướm bay” Cô chuẩn bị một
con bướm cô điều khiển cho nó bay ở phía trên đầu của trẻ và hỏi trẻ con bướm
đang bay ở phía nào của con ? Trẻ phải trả lời ở phía trên. Cô lại hỏi vì sao con
biết nó ở phía trên, muốn nhìn thấy con bướm các con phải làm gì? Trẻ phải trả
lời được vì con phải ngẩng đầu lên mới nhìn thấy.Tương tự như vậy cô cho con
bướm bay ở phái sau, phía trước, phía dưới của trẻ và cũng đặt câu hỏi như vậy.

10/30


Trẻ chơi trò chơi: “Bướm bay”
Sau đó cô cho trẻ chơi trò chơi “Bắt bướm” Cô sẽ điều khiển con bướm
bay theo các hướng cho trẻ bắt bướm. Khi cô để bướm bay ở phía trên trẻ phải
nhảy lên để bắt. Cô hỏi trẻ con bướm ở phía nào của các con? Trẻ phải trả lời ở
phía trên. Tương tự như vậy khi cho trẻ chơi ở các hướng khác nhau.

Trẻ chơi trò chơi: “ Bắt bướm”
Ví dụ 5: Dạy trẻ xác định tay phải, tay trái của bản thân.
11/30


Tôi cho trẻ khá ngồi xen kẽ trẻ yếu và ngồi quay về một phía. Cho trẻ chơi
trò chơi làm động tác mô phỏng các hành động như đánh răng, vẽ bài, ăn cơm.
- Khi cho trẻ làm động tác đánh răng: Cô hỏi cốc đâu trẻ nói cốc đây. Tay
nào các con cầm cốc. Trẻ trả lời tay trái. Cô lại hỏi bàn chải đánh răng đâu? Trẻ
trả lời bàn chải đánh răng đây. Tay nào cầm bàn chải đánh răng? Trẻ phải nói
được tay phải. Trong quá trình trẻ làm cô quan sát và sửa sai cho trẻ. Nếu cháu
nào làm sai cô xuống tận nơi sửa cho trẻ.
- Tương tự như vây tôi cho trẻ làm động tác vẽ, ăn cơm cũng làm như vậy.
Tôi cho trẻ chơi trò chơi “Tập tầm vông” Cô chuẩn bị cho mỗi trẻ một đồ
vật yêu cầu trẻ cầm ở tay trái sau đó vừa hát và vận động theo lời bài hát. Sau đó
cô hỏi từng trẻ đồ vật ở tay nào của con hoặc cô có thể hỏi tay trái con có gì? Vì
sao con biết đó là tay trái? Vì hàng ngày tay đó các con thường cầm gì khi ăn
cơm. Tương tự như vậy cô cho trẻ cầm đồ vật ở tay phải câu hỏi tương tự như
trên. Cô cho trẻ chơi 2-3 lần.

Trẻ làm động tác: “Đánh răng”
Ngoài ra khi ôn luyện tôi cho trẻ chơi “Chèo thuyền” cô nói chèo thuyền
bên phải (trái) trẻ phải làm động tác chèo bên phải( trái) theo yêu cầu của cô.

12/30


Trẻ đang chơi trò chơi “Chèo thuyền”
Ngoài ra tôi cho trẻ làm “Máy bay”khi cô nói máy bay nghiêng bên
phải. Trẻ phải làm động tác nghiêng bên phải, trẻ phải hạ thấp tay phải xuống,
miệng giả làm tiếng động cơ kêu: “ù…ù”. Máy bay nghiêng bên trái, tay trái
phải hạ thấp xuống miệng giả làm động cơ kêu “ù…ù” Cứ như vậy cô cho trẻ
chơi theo sự hướng dẫn của cô.

Trẻ đang làm động tác: “Máy bay nghiêng cánh”
Tôi cho trẻ chơi trò chơi làm “Con lật đật”: Trẻ đứng lên dang tay sang
hai bên và yêu cầu trẻ làm lật đật nghiêng sang trái (sang phải) Trẻ phải nghiêng

13/30


theo yêu cầu của cô.Yêu cầu trẻ làm lật đật bước chân phải (chân trái).Trẻ phải
bước được chân phải (chân trái lên).

Trẻ chơi trò chơi con: “Lật đật”
Ví dụ 6: Trò chơi: “ Thi xem ai nhanh”
- Chuẩn bị: Mỗi trẻ 1 rổ đựng 2 đồ chơi có kích thước, màu sắc, hình
dạng, chất liệu khác nhau.
- Cách chơi: Cô phát cho mỗi trẻ 2 đồ chơi khác nhau. Ví dụ: 1 hình
vuông, 1 hình chữ nhật.
+ Cô giải thích cách chơi: Khi cô nói tay nào, các con sẽ cầm đồ chơi vào
tay đó và giơ lên nhé. Ví dụ: Khi cô nói “ tay phải”, các con sẽ cầm đồ chơi vào
tay phải và giơ lên nhé…
+ Cô cho trẻ chơi như vậy vài lần rồi nâng cao yêu cầu của trò chơi, cô
nói tay nào cầm đồ chơi có dấu hiệ cụ thể nào đó, trẻ cầm đồ chơi đúng tay đó
và giơ lên. Ví dụ: Tay phải cầm hình vuông, tay trái cầm hình chữ nhật,…
+ Sau khi cho trẻ giơ tay theo yêu cầu xong, cô cho trẻ chọn đồ chơi đúng
tay và đặt đồ chơi vào đúng phía phải – trái ( của bản thân) theo yêu cầu.
Ví dụ: “ Mỗi bạn hãy chọn 1 hình vuông, cầm bằng tay phải, đặt về phía
bên phải của mình nhé!”
Ví dụ 7: Trò chơi: “ Tôi tên gì? Tôi ở phía nào?”
- Chuẩn bị: Một khăn bịt mắt hoặc 1 mũ chóp.

14/30


- Cách chơi: Cho 6 cháu đứng thành 2 hàng ngang quay mặt vào nhau và
gọi một trẻ lên chơi đứng ở giữa 2 hàng, ở vị trí sao cho 1 hàng ở phía phải và 1
hàng ở phía trái của trẻ đó theo sơ đồ sau:
x
x
x
x
x
x
x
+ Khi bịt mắt trẻ lên chơi, cô giáo nói: “ Bây giờ, con sẽ không nhìn mà
nghe giọng nói. Hãy đoán xem bạn tên là gì và ở phía nào của con nhé!”
+ Cô chỉ vào một trẻ đứng ở trong một hàng bất kì, trẻ đó nói: “ Bạn hãy
đoán xem! Tôi tên là gì? Tôi đứng ở phía nào của bạn?”. Trẻ lên chơi phải trả lời
được tên bạn vừa nói và bạn đó đứng ở phía nào so với bản thân mình.
Ví dụ: Bạn tên là Hạnh, bạn đứng ở phía bên trái tôi.
+ Sau khi đoán xong, cô cho trẻ đó bỏ khăn bịt mắt ra xem mình đoán có
đúng không. Nếu đoán đúng thì bạn Hạnh vào chơi thay chỗ cho bạn vừa đoán.
Nếu đoán sai, phải bịt mắt lại đoán tiếp.
Qua cách dạy này tôi thấy trẻ nhận định chính xác hơn, số trẻ còn nhầm
không đáng kể. Và trẻ rất thích thú khi được tham gia.

* Dạy trẻ định hướng không gian thông qua các bài thơ, bài vè:
Bài thơ : Đôi bàn tay
Một tay đẹp
Còn đây nữa
Hai tay đẹp
Tay cầm bút
Tay cầm bát
Tay cầm thìa
Tay giữ vở
là tay phải
Là tay trái
bé ghi nhớ
Học cho tài
Với bài thơ “ Đôi bàn tay” trẻ sẽ khắc sâu được tay phải và tay trái của
trẻ. Trẻ vừa đọc thơ vừa làm động tác minh họa. Qua bài thơ trẻ biết được chức
năng hoạt động của từng tay. Tay dùng để cầm bát, giữ vở là tay trái. Tay dùng
để cầm bút, cầm thìa là tay phải. Từ đó trẻ sẽ biết cách xác định vị trí của từng
tay, đâu là tay phải, đâu là tay trái. Khi đến câu thơ có tay nào thì trẻ sẽ giơ tay
đó lên.
Bài thơ: Cơ thể bé
Bên trên bé có cái đầu
Cái tai cái mắt nghe cô giảng bài

15/30


Phải trái bé có đôi tay
Tay trái bưng bát ăn cơm hàng ngày
Tay phải cầm bút đẹp thay
Cô yêu bạn mến bé hay đến trường
Đến trường bé có đôi chân
Đôi chân giúp bé đi khắp miền
Thông qua bài thơ trẻ sẽ khắc sâu hơn về định hướng không gian. Trẻ biết
phía trên có đầu, phía dưới có chân, tay trái cầm bát, tay phải cầm thìa. Qua các
bộ phận trên cơ thể trẻ sẽ biết cách liên hệ với các hướng trong không gian.
Ví Dụ: Với giờ: “Dạy trẻ xác định trên- dưới, trước- sau của bản thân ”
Tôi đã sáng tác ra bài vè “ Vè toán học”
Vè toán học
Ve vẻ vè ve
Mời bạn lắng nghe
Trên dưới trước sau
Vè không gian nhé
Khi phải ngẩng đầu
Phía trên bạn đấy
Cúi xuống nhìn thấy
Là phía dưới rồi
Chẳng còn xa xôi
Là phía trước đấy
Chẳng nhìn thấy đâu
Phía sau bạn đó
Ve vẻ vè ve…
Cô cho 2 trẻ ngồi quay mặt vào nhau vừa đọc vè vừa đập tay theo lời bài
vè. Qua đó trẻ vừa được vận động và làm các động tác để được thoải mái vừa
biết được cách xác định phía trên, phía dưới, phía trước, phía sau của bản thân.
Kiến thức về toán không gian sẽ được khắc sâu hơn. Đây là một cách vào bài
rất nhẹ nhàng mà gần gũi với trẻ.

16/30


Cô và trẻ đọc bài vè: “Vè toán học”
* Dạy trẻ định hướng không gian thông qua các bài hát:
Ví Dụ 1: Với giờ “ Dạy trẻ phân biệt tay phải - tay trái”
Vào bài tôi cho trẻ hát và vận động theo lời bài hát “Đôi bàn tay”. Trẻ vừa
hát và nhún nhảy theo lời bài hát qua đó trẻ rất thích thú, hiểu hơn về bản thân
mình. Trên cơ thể có 2 bàn tay có tay phải, tay trái. Mỗi bàn tay có 5 ngón tay.
Bài hát: Đôi bàn tay
Hai bàn tay em bé tý xíu mười ngón tay trông thật là xinh. Đây tay phải,
đây tay trái. Mười ngón tay sạch đều…

17/30


Trẻ hát và vận động bài: “Đôi bàn tay”
Ví dụ 2:
Ở sự kiện “Bản thân” tôi cho trẻ hát và vận động theo bài hát “Đi đều”
Sau khi trẻ được hát và vận động rất vui vẻ thì tôi hỏi trẻ muốn đi được
phải có gì?(Có chân). Chân của con ở phía nào của con? (Phía dưới). Muốn nhìn
thấy chân các con phải làm gì?(Cúi xuống). Giơ tay lên cao ta vui chào ánh nắng
mới, muốn nhìn thấy ánh nắng (Ông mặt trời) các con phải làm gì?(Phải ngẩng
đầu lên) Ông mặt trời ở phía nào của con? (Phía trên)
Bài hát: Tập tầm vông
Tập tầm vông tay không tay có, tập tầm vó tay có tay không. Mời các bạn
đoán sao cho trúng, tập tầm vó tay nào có, tay nào không, có có không
không.Tay nào có? Tay nào không?

18/30


Trẻ đang chơi trò chơi: “ Tập tầm vông”
Thông qua các bài hát, bài thơ, bài vè, trẻ được vận động rất tự nhiên,
thoải mái và hào hứng không những thế trẻ còn được khắc sâu hơn kiến thức về
định hướng không gian một cách rất nhẹ nhàng mà không bị gò ép.
Biện pháp 4: Rèn kỹ năng cho trẻ qua các môn học khác.
Một trong những nguyên tắc dạy học quan trọng để hình thành những biểu
tượng ban đầu về toán cho trẻ là “ Học phải đi đôi với hành”. Do đó việc dạy trẻ
mầm non làm quen với toán không chỉ dừng lại ở trên tiết học mà cần phải dạy ở
mọi lúc mọi nơi để củng cố kiến thức đã học cho trẻ thong qua các môn học
khác nữa
*Tích hợp qua môn thể dục
Ví dụ:
Trong giờ thể dục tôi cho trẻ chơi trò chơi “Chuyền bóng’’ theo phía
phải,phía trái của bản thân.Trẻ không chỉ được vận động về thể lực mà còn được
ôn lại những kiên thức toán đã học được. Trong khi chơi “Chuyền bóng” trẻ phải
nhớ lại đâu là phía phải, phía trái của bản thân để chuyền cho đúng.

19/30


Trẻ đang chơi trò chơi:“Chuyền bóng”
Tiết dạy thể dục khi chuyển đổi hình thức, tôi hô: bên phải quay, bên trái
quay, đằng sau quay, qua đó trẻ sẽ nhớ lại và định hướng được bản thân mình.
*Tích hợp qua môn âm nhạc.
Ví dụ:
Tiết âm nhạc ở sự kiện “Giao thông” bài hát: “Đường em đi” qua tiết học
trẻ vừa được học hát lại vừa được khắc sâu kiến thức toán. Thông qua bài hát:
tôi hỏi trẻ: đường em đi là đường bên nào? (Bên phải) Bên phải của con đâu?Trẻ
phải biết được đâu là tay phải của mình để xác định được phía phải. Đường bên
nào thì con không đi (Bên trái) bên trái của con đâu? Trẻ xác định được tay trái
của mình để xác định được phía trái. Vậy là một lần nữa trẻ lại xác định được
tay phải, tay trái của bản thân thông qua việc tích hợp nội dung định hướng
không gian vào môn âm nhạc một cách nhất nhẹ nhàng.
Bài hát: Đường em đi: “Đường em đi là đường bên phải.Đường ngược
lại là đường bên trái. Đường bên trái thì em không đi. Đường bên phải là
đường em đi…”
* Tích hợp qua luyện tập củng cố sau giờ học
Ví dụ:
Trong vở “Trò chơi học tập” Bài tô màu xanh cho bàn tay, bàn chân trái,
tô màu đỏ cho bàn tay, bàn chân phải. Trẻ không những phải chọn màu đúng mà

20/30


còn phải xác định được đâu là tay phải, tay trái. Qua bài tập này tôi đã cho trẻ
đặt bàn tay phải và bàn tay trái của mình lên hình vẽ để trẻ xác định cho đúng.
Bài “Xác định vật phía trên phía dưới” Trẻ phải chọn màu đỏ tô các đồ
vật ở phía trên cái bàn, tô màu xanh cho đồ vật ở phía dưới cái bàn. Cô cho trẻ
quan sát xem trong bài có những đồ vật nào ở phía trên (Phía dưới) cái bàn. Qua
đó trẻ sẽ được ôn lại cách xác định các vị trí trong không gian một lần nữa.

Trẻ làm bài tập ở vở trò chơi học tập
*Tích hợp qua môn khám phá.
Ví dụ: Phân nhóm một số đồ dùng, đồ chơi trong lớp
Để các đồ dùng đồ chơi ở các hướng trên, dưới các kệ và các hướng khác
nhau, trẻ tìm đồ dùng đồ chơi theo yêu cầu và hỏi đồ dùng đồ chơi ở hướng nào
của con hoặc một trẻ tìm hỏi trẻ khác đồ dùng đồ chơi đó ở hướng nào của bạn.
Sau khi tìm các đồ dùng đồ chơi theo yêu cầu và đủ để phân nhóm các đồ vật, cô
vào bài mới dạy tìm hiểu môi trường.Hoặc có thể tích hợp sau khi học bằng trò
chơi củng cố “Hãy sắp xếp các đồ dùng đồ chơi theo nhóm và theo các hướng
khác nhau đối với bản thân mình” như: nhóm đồ dùng để học tập ở bên
phải, đồ dùng vệ sinh cá nhân bên trái, đồ chơi ở trước mặt… và nâng cao yêu
cầu sắp xếp các nhóm đồ dùng đồ chơi theo các hướng đối với người khác: một
trẻ lên đứng và trẻ khác lên sắp xếp các nhóm đồ dùng theo các hướng của bạn.
(Hoặc ta có thể áp dụng trò chơi này vào tiết học “Phân nhóm đồ dùng trong gia

21/30


đình: Đồ dùng để ăn, đồ dùng để uống, đồ dùng để mặc, đồ dùng sinh hoạt, đồ
dùng giải trí… và cách chơi tương tự ví dụ như đồ dùng để mặc thì nón đội phía
trên đầu, dép đi phía dưới chân…).
*Tích hợp qua môn tạo hình.
Ví dụ: Tiết học tạo hình “Vẽ ngôi nhà của bé”
Cho trẻ xem tranh về các ngôi nhà của bé có các hình ảnh được bố trí cân
đối và chính xác theo hướng cơ bản để trẻ xác định các hướng:
+ Các con nhìn xem phía trên ngôi nhà có gì? (Có ông mặt trời, có đám
mây)
+Phía dưới ngôi nhà có gì? Có mặt đất
+Bên phải ngôi nhà bạn đã vẽ gì? (Vẽ vườn hoa)
+Bạn đã vẽ đàn gà ở bên nào của ngôi nhà? (Phía bên trái)
+ Vậy thì bên phải vườn hoa có gì(Cây chuối)

Cô và trẻ đàm thoại theo nội dung tranh.
Kết quả: Với biện pháp này sẽ hỗ trợ rất nhiều cho việc trẻ hình thành các
kỹ năng trong đinh hướng không gian. Không những thế khi cho trẻ định được
hướng các đồ vật ở mọi lúc mọi nơi trẻ sẽ nhớ được lâu hơn và khả năng định
hướng của trẻ trong không gian được nhanh hơn.
Biện pháp 5: Tổ chức dạy “Định hướng không gian” trong chế độ sinh hoạt
hàng ngày.
* Kết hợp với phụ huynh (Qua giờ đón trả trẻ)
“Cô và mẹ là hai cô giáo, mẹ và cô ấy hai mẹ hiền”. Mẹ luôn khẳng định
vai trò và vị trí của cô và mẹ, mẹ và cô đều có nhiệm vụ giáo dục trẻ. Ở lớp cô
dạy trẻ làm quen bước đầu với các tri thức, kỹ năng các môn học và hành vi
22/30


đẹp.Khi về nhà mẹ ôn luyện cho trẻ kiến thức mà cô giáo trang bị. Để trẻ nắm
chắc được toàn bộ những biểu tượng ban đầu về toán trong độ tuổi.
- Hằng ngày tôi thường tranh thủ thời gian đón và trả trẻ để trao đổi, phản
ánh tình hình học tập của trẻ.Tôi thường trao đổi với phụ huynh những kiến thức
cần dạy để phụ huynh dạy trẻ tại nhà qua các đồ vật, đồ chơi…Giúp trẻ củng cố
kiến thức trên lớp. Khi dạy về định hướng không gian tôi đã trao đổi với phụ
huynh cách dạy trẻ quan sát và xác định các đồ vật thông qua các trò chơi trên
bản thân trẻ…
Từ khi làm tốt việc kết hợp giữa gia đình và nhà trường cùng giáo dục trẻ
tôi thấy kiến thức toán nhất là về định hướng không gian trên trẻ tăng lên rõ rệt,
các cháu hứng thú tiếp thu và hoạt động tích cực trong giờ học và có được
những biểu tượng ban đầu về toán

Cô giáo và phụ huynh trao đổi thông tin giờ đón trả trẻ.
*Qua hoạt động ngoài trời.
Tôi có thể lồng kiến thức toán để dạy trẻ khi tổ chức cho trẻ đi dạo xung
quanh trường.
Khi tổ chức cho trẻ vẽ phấn: Tôi dạy trẻ xác định tay phải-tay trái bằng
cách định hướng hỏi trẻ: Con cầm phấn bằng tay nào? Trẻ rất hứng thú say mê
hoặc tôi có thể tạo tình huống để trẻ phản ứng nhanh khi đang hoạt động ngoài
trời bỗng có máy bay bay qua tôi hỏi trẻ: Máy bay đang bay ở phía nào của các
con?

23/30


Trẻ hoạt động ngoài trời
Ví dụ:
Trong hoạt động ngoài trời quan sát chiếc xe máy tôi cho trẻ chỉ các bộ
phận của chiếc xe máy, cho trẻ phát âm và cứ sau mỗi lần cho từng cháu lên chỉ
kết hợp cho trẻ xác định hướng cơ bản của trẻ, của các bạn khác và đồ vật như:
+ Xe máy đứng ở phía nào của cháu?
Phía sau xe máy là ai? Phía trên xe có gì? Phía dưới xe có gì? Phái trước
xe có gì? Phía sau xe có gì?
Qua những lần thao tác được luyện tập không những khắc sâu kiến thức
về xác định hướng, mà còn giúp được trẻ xác định hướng cơ bản giúp trẻ phát
triển ngôn ngữ và phát âm dược nhiều từ, phát âm chính xác hơn.
* Qua hoạt động góc
Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ chính vì thế giúp trẻ làm quen với
các biểu tượng toán tôi đã tổ chức dạy kết hợp với các đồ chơi có dạng hình học
cơ bản với kích thước khác nhau để chơi các trò chơi. Thông qua các trò chơi
giúp trẻ định hướng không gian. Tôi cho trẻ chơi ở góc khám phá với trò chơi
“Tìm nhanh giơ đúng” con hãy chọn hình vuông ở tay trái, tìm hình tròn ở tay
phải. Qua trò chơi này trẻ vừa biết về hình và xác định được tay phải, tay trái.
Ngoài các hình học ra cô có thể cầm bằng các đồ chơi khác nhau.
Ở góc toán tôi làm các hình ảnh về bàn tay phải (Bàn tay trái), bàn chân
phải ( Bàn chân trái) trẻ phải chọn đúng bàn tay phải ( Bàn tay trái), bàn chân
phải( Bàn chân trái) để gắn lên nét vẽ cô đã vẽ sẵn.
Khi trẻ chơi góc một lần nữa kiến thức về định hướng không gian của trẻ
lại được củng cố một cách rất tự nhiên và thoái mái.Trẻ vừa được chơi, vừa
được trao đổi cùng bạn và được ôn luyện những kiến thức đã học.

24/30


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×