Tải bản đầy đủ

Báo cáo thực tập thực tế tại CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU INTIMEX

Báo cáo tổng hợp thực tập
Định hướng và mục tiêu phát triển của công ty xuất nhập
khẩu Intimex trong thời gian tới
PHẦN I: MỞ ĐẦU
Trong quá trình học tập tại khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế của
trường Đại học Kinh tế Quốc dân, tôi đã được trang bị những kiến thức về
thương mại Quốc tế, đầu tư Quốc tế… và một số nghiệp vụ cơ bản trong xuất
nhập khẩu hàng hoá. Tuy nhiên đó mới chỉ là những kiến thức mang tính lý
thuyết. Để đầy đủ hơn cần có thời gian thực tập để sinh viên có dịp vận dụng
những kiến thức mà mình đã trau dồi trong thời gian ngồi trên giảng đường.
Trước yêu cầu đó cùng với sự tư vấn của thầy cô, anh chị đi trước tôi
thấy công ty xuất nhập khẩu Intimex phù hợp với yêu cầu thực tập của mình.
Bởi vì đây là một công ty xuất nhập khẩu tổng hợp có bề dày hoạt động. Với sự
giới thiệu của nhà trường và sự giúp đỡ của công ty, tôi đã được đến công ty
xuất nhập khẩu Intimex thực tập với hai giai đoạn chính: 6 tuần thực tập tổng
hợp và 9 tuần thực tập chuyên đề.
Bản báo cáo thực tập tổng hợp này chính là những gì tôi tìm hiểu về
công ty trong 6 tuần thực tập tổng hợp vừa qua.
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới cô giáo Thạc sỹ Đỗ Thị Hương
cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa, đồng thời tôi cũng xin chân thành
cảm ơn ban giám đốc, tập thể cán bộ công nhân viên công ty xuất nhập khẩu

Intimex đã tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian qua.
Với khả năng và thời gian có hạn bài viết không tránh khỏi còn có những
hạn chế, em rất mong có sự phê bình của cô để em rót kinh nghiệm cho những
lần tiếp sau.

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

1


Báo cáo tổng hợp thực tập

PHẦN II: NỘI DUNG
CHUƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY XUẤT
NHẬP KHẨU INTIMEX
I.

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỦA CÔNG TY XUẤT NHẬP

KHẨU INTIMEX
Công ty xuất nhập khẩu Intimex là một trong những công ty được thành lập
từ khá lâu khi đất nước ta còn chưa bước vào thời kỳ đổi mới nền kinh tế. Bởi
vậy, công ty mang đầy đủ những đặc điểm của một công ty điển hình của Việt
Nam. Lịch sử hình thành của công ty xuất nhập khẩu Intimex có những đặc điểm
chính sau đây:
Theo nghị quyết số 217/ TTg của thủ tướng chính phủ ngày 23 tháng 6
năm 1979, có sự đề nghị của Bộ nội thương và sự nhất chí của Bộ ngoại
thương (nay là Bộ Thương mại) công ty được thành lập với tên gọi lúc đó là
công ty xuất nhập khẩu nội thương và hợp tác xã trực thuộc Bộ nội thương.
Công ty có trách nhiệm thông qua hoạt động xuất khẩu cải thiện cơ cấu giữa
hàng hoá do ngành nội thương quản lý, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu. Trụ sở
chính của công ty đặt tại số 96 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Ngày 22 tháng 10 năm 1985 do điều chỉnh các tổ chức hoạt động trực
thuộc Bộ Nội thương đã thông qua quy định số 255/ HĐBT chuyển công ty
xuất nhập khẩu nội thương và hợp tác xã trực thuộc Bộ nội thương thành tổng
công ty xuất nhập khẩu nội thương và hợp tác xã.

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

2




Báo cáo tổng hợp thực tập
Ngày 8 tháng 3 năm 1993 căn cứ vào quyết định số 388/ HĐBT và theo
đề nghị của tổng giám đốc công ty xuất nhập khẩu nội thương và hợp tác xã,
Bộ trưởng Bộ thương mại quyết định tổ chức lại tổng công ty thành hai công ty
trực thuộc:
-Công ty xuất nhập khẩu nội thương và hợp tác xã Hà Nội
- Công ty xuất nhập khẩu nội thương và hợp tác xã thành phố Hồ Chí
Minh.
Ngày 20 tháng 3 năm 1995 Bộ trưởng bộ thương mại đã ký duyệt quyết
định hợp nhất công ty thương mại dịch vụ việt kiều và công ty xuất nhập khẩu
nội thương và hợp tác xã Hà Nội thành công ty xuất nhập khẩu nội thương và
hợp tác xã Hà Nội trực thuộc Bộ thương mại.
Đây là doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp, kinh doanh
thương nghiệp dịch vụ, phục vụ việt kiều khách sạn du lịch, gia công hàng xuất
khẩu.
Ngày 8 tháng 6 năm 1995 theo quyết định số 09/ TCCB của Bộ thương
mại công ty xuất nhập khẩu nội thương và hợp tác xã Hà Nội chuyển thành
công ty xuất nhập khẩu- thương mại và lấy tên giao dịch đối ngoại là: Foreign
Trade Enterprise.
Ngày 24 tháng 6 năm 1995 Bộ trưởng bộ thương mại đã ra quyết định
phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty.
Ngày 13 tháng 11 năm 1995 công ty được Bộ trưởng Bộ thương mại cấp
giấy phép kinh doanh sè 1161085, công ty có tài khoản ngoại tệ số
36211370037 và tài khoản tiền Việt số 361111000037 tại ngân hàng ngoại
thương Việt Nam và ngân hàng Eximbank.
Kể từ khi thành lập đến nay Intimex đã có khoảng thời gian hoạt động
hơn 20 năm và trong khoảng thời gian này công ty đã trải qua bao giai đoạn
thăng trầm do tình hình kinh tế- xã hội có nhiều biến động.

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

3


Báo cáo tổng hợp thực tập
Cũng như nhiều công ty khác trong cơ chế cũ, công ty bị hạn chế bởi
chính sách quản lý chung của nhà nước theo: “kế hoạch hoá tập trung”, vì vậy
mà công ty không thể phát huy hết khả năng và nguồn lực sẵn có của mình.
Đại hội Đảng VI đã mở ra thời kỳ mới, vận hội mới tạo ra những điều
kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế. Nhà nước chủ trương chuyển đổi
kinh tế theo cơ chế thị trường, đẩy mạnh giao lưu hàng hoá trong nước và quốc
tế, khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
Quyết định số 217/ HĐBT giao quyền chủ động cho các đơn vị sản xuất
đã tạo điều kiện cho công ty thoát khỏi sự ràng buộc của cơ chễ cũ, chuyển
sang làm ăn hạch toán kinh doanh độc lập. Chuyển sang cơ chế mới với nhiều
cơ hội nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với nhiều thách thức đòi hỏi công ty
cần phải hết sức nỗ lực.
II.

CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ, BỘ MÁY TỔ CHỨC CỦA

CÔNG TY
1.Chức năng
Chức năng của công ty được thể hiện ở hai khía cạnh: mục đích hoạt
động và nội dung hoạt động của công ty.
1.1. Mục đích hoạt động của công ty
Thông qua các hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, sản xuất, gia
công, kinh doanh thương mại- dịch vụ người Việt Nam và người nước ngoài,
kinh doanh khách sạn, hợp tác đầu tư liên doanh liên kết với các thành phần
kinh tế trong và ngoài nước theo pháp luật Việt Nam để sản xuất, khai thác vật
tư nguyên liệu, hàng hoá nhằm đáp ứng tiêu dùng của xã hội cũng như tạo
nguồn hàng xuất khẩu góp phần phát triển kinh tế Quốc gia đồng thời mở rộng
hợp tác kinh tế quốc tế.
1.2.Nội dung hoạt động của công ty

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

4


Báo cáo tổng hợp thực tập
Công ty được Bộ thương mại cấp giấy phép quản lý, kinh doanh xuất
nhập khẩu các loại hàng hoá và dịch vụ.
-Trực tiếp xuất khẩu và nhận uỷ thác xuất khẩu các mặt hàng nông- lâmhải sản, thực phẩm chế biến, tạp phẩm, thủ công mĩ nghệ và các mặt hàng khác
do công ty tự sản xuất hoặc liên kết tạo ra.
-Trực tiếp nhập khẩu các mặt hàng vật tư nguyên liệu, thiết bị máy móc
hàng tiêu dùng và phương tiện vận tải.
- Tiến hành các hoạt động sản xuất lắp ráp gia công, liên doanh, liên kết
hợp tác đầu tư với đối tác trong và ngoài nước nhằm sản xuất hàng hoá xuất
khẩu và tiêu dùng.
-Kết hợp với việc làm dịch vụ cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài
như chi trả kiều hối của người nước ngoài cho người trong nước, kinh doanh
nhà hàng, khách sạn du lịch.
-Tiến hành bán buôn, bán lẻ các mặt hàng thuộc phạm vi kinh doanh sản
xuất và gia công lắp ráp của công ty.
2. Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của công ty thể hiện ở một số mặt cụ thể sau:
-Xây dựng và thực hiện các kế hoạch dài hạn và ngắn hạn về sản xuất
kinh doanh xuất nhập khẩu kinh doanh thương mại- dịch vụ gia công lắp ráp
kinh doanh khách sạn- du lịch, liên doanh liên kết… theo đúng pháp luật hiện
hành của nhà nước Việt Nam và hướng dẫn của Bộ thương mại. Đồng thời xây
dựng các phương án kinh doanh sản xuất và dịch vụ phát triển theo kế hoạch và
mục tiêu của công ty.
-Tổ chức nghiên cứu nâng cao năng xuất lao động, áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào phục vụ cho hoạt động sản kinh doanh ngày càng tốt hơn.

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

5


Báo cáo tổng hợp thực tập
-Chấp hành pháp luật Nhà nước, thực hiện các chế độ chính sách về
quản lý và sử dụng tiền vốn, vật tư, tài sản nguồn lực thực hiện hạch toán kinh
tế và phát triển vốn, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước.
-Thực hiện đầy đủ mọi cam kết trong hợp đồng kinh tế đã ký với tổ chức
kinh tế trong và ngoài nước.
-Quản lý toàn diện và phát triển đội ngũ cán bộ công nhân viên chức
theo pháp luật và chính sách của Nhà nước, theo phân cấp quản lý của Bộ để
thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty, chăm lo đời sống tạo điều
kiện cho người lao động có cuộc sống ổn định và thực hiện phân phối công
bằng.
-Trong phạm vi hoạt động của mình, thực hiện bảo vệ doanh nghiệp, bảo
vệ môi trường, giữ gìn trật tự xã hội theo quy định của pháp luật thuộc phạm vi
quản lý của công ty.
3.Cơ cấu tổ chức và chức năng của các phòng ban.
3.1. Cơ cấu tổ chức.
Đứng đầu công ty là giám đốc do Bộ thương mại bổ nhiệm và miễn
nhiệm. Giúp việc cho giám có hai phó giám đốc công ty do giám đốc lựa chọn
và đề nghị Bộ thương mại bổ nhiệm và miễn nhiệm.
Kế toán trưởng do Bộ thương mại bổ nhiệm và miễn nhiệm, chịu sự chỉ
đạo trực tiếp của giám đốc, có trách nhiệm giúp giám đốc công ty tổ chức chỉ
đạo thực hiện toàn bộ công tác hạch toán kế toán và tình hình tài chính trong
quá trình hoạt động kinh doanh của công ty theo chế độ hạch toán hiện hành.
-Công ty có 13 phòng ban, gồm các phòng quản lý và các phòng nghiệp
vụ kinh doanh.
1 văn phòng công ty;
1 phòng quản trị;
1 phòng tổ chức cán bộ (TCCB) công ty;

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

6


Báo cáo tổng hợp thực tập
1 phòng kế toán tổng hợp (KTTH) công ty;
1 phòng tài chính kế toán (TCKKT) công ty;
1 phong kiểm toán nội bộ (KTNB) công ty;
1 ban thu hồi công nợ;
1 ban công tác Đảng, đoàn thể, phong trào (Đ, ĐT, PT) công ty.
Ngoài ra còn có các phòng nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu được
đánh số thứ tự bao gồm: Phòng nghiệp vụ kinh doanh 1, phòng nghiệp vụ kinh
doanh 2, phòng nghiệp vụ kinh doanh 6 và phòng nghiệp vụ kinh doanh 10.
Công ty còn có các đơn vị trực thuộc:
-Trung tâm thương mại;
-Xí nghiệp xe máy và xÝ nghiệp may Intimex;
-Chi nhánh Hải Phòng;
-Chi nhánh Nghệ An;
-Chi nhánh Đà Nẵng;
-Chi nhánh tp Hồ Chí Minh;
-Chi nhánh Đồng Nai;
3.2.Chức năng các phòng ban của công ty.
Giám đốc: Điều hành công ty theo chế độ một thủ trưởng và chịu trách
nhiệm về mọi hoạt động của công ty trước pháp luật, trước Bộ thương mại và
tập thể cán bộ công nhân viên của công ty.
Các phòng ban:
Nhiệm vụ của phòng ban do giám đốc quy định cụ thể, các tổ chức sản
xuất kinh doanh dịch vụ đơn vị trực thuộc (chi nhánh, xí nghiệp, cửa hàng,
kho vận…) thực hiện chế độ hạch toán phụ thuộc, được sử dụng con dấu riêng
theo quy chế tổ chức và hoạt động đối với từng đơn vị trực thuộc theo cấp quản
lý.

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

7


Báo cáo tổng hợp thực tập

CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY
XUẤT NHẬP KHẨU INTIMEX
I.TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU
Vì Intimex là công ty xuất nhập khẩu tổng hợp nên hoạt động xuất nhập
khẩu của công ty rất đa dạng và phong phó.
1.Tình hình hoạt động xuất khẩu
Trong những năm gần đây công ty luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch
xuất nhập khẩu, đồng thời trong 6 năm gần đây kim ngạch xuất nhập khẩu đã
tăng lên khoảng 4 lần. Ta có thể thấy rõ hơn tình hình tăng kim ngạch xuất
khẩu qua bảng sau:
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu của công ty Intimex trong trong giai đoạn
(1996-2003)
(Đơn vị tính: 1000 USD)
Tên
tiêu
Tổng

chỉ

1996

1997

1998

1999

2000

2001

2002

2003

7867

13158

10250

23001

50185

50000

54000

76638

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

8


Báo cáo tổng hợp thực tập
KNXK
Trong đó:
XKTT
XKUT

5885
1982

9879
3279

5850
4400

20813
2188

49185
1000

49000
1000

52970
1030

66212
10425

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty xuất nhập khẩu Intimex
(1996-2003)
Sù gia tăng nhanh chóng của kim ngạch xuất khẩu nằm trong chiến lược
tăng trưởng thông qua xuất khẩu của công ty được vạch ra từ cuối năm 1998.
Chỉ trong vòng ba năm (1998- 2000) sự tăng nhanh về xuất khẩu đã góp phần
làm cho quy mô kinh doanh của công ty đã tăng nhanh chóng (gấp hơn hai
lần), trong đó riêng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng hơn 5 lần.
Xuất khẩu từ chỗ có vị trí thứ yếu, nay đã có vị trí chủ yếu trong hoạt
động kinh doanh của công ty. Kết quả kinh doanh trong ba năm gần đây đã
phản ánh sự thay đổi về cơ cấu của kim ngạch xuất nhập khẩu theo hướng là: tỷ
trọng kim ngạch xuất khẩu trong tổng kim ngạch ngày càng tăng và ngược lại
tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu trong tổng kim ngach ngày càng giảm. Đến năm
2000 hoạt động xuất khẩu đang đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh
doanh cũng sẽ có tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh.
Ta có thể thấy sự thay đổi về cơ cấu xuất nhập khẩu của công ty nhưng
năm gần đây qua bảng sau:
Bảng 2: Cơ cấu xuất nhập khẩu trong của công ty giai đoạn (1996-2003)
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu
1996
Nhập khẩu
Xuất khẩu
Tổng sè

63
37
100

1997
63
37
100

1998
67
33
100

1999
31
69
100

2000
25
75
100

2001
27
73
100

2002
32.5
67.5
100

2003
30
70
100

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty Intimex (1996-2003)
Trong xuất khẩu thì phần trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn, đặc biệt trong hai
năm qua phần xuất khẩu uỷ thác (XKUT) không đáng kể. Với việc tăng cường

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

9


Báo cáo tổng hợp thực tập
hoạt động kinh doanh trực tiếp đã phản ánh sự cố gắng của công ty trong việc
đầu tư tiền vốn trên thương trường để kinh doanh thực sự. Tuy nhiên, nó cũng
đòi hỏi vốn cho kinh doanh rất lớn. Nhu cầu vốn càng lớn hơn khi quy mô kinh
doanh đang tăng lên nhanh chóng.
Trong giai đoạn giữa thập kỷ 90 định hướng về mặt hàng xuất khẩu của
công ty không rõ ràng, mặt hàng nông sản giữ vai trò thứ yếu trong số các mặt
hàng xuất khẩu của công ty. Do vậy chỉ tiêu xuất khẩu luôn là nỗi lo trong lúc
cơ chế Nhà nước đối với xuất khẩu ngày càng thông thoáng. Vào những năm
1996, 1997 với việc được phép tham gia vào các chương trình trả nợ bằng các
hàng công nghiệp đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu các
mặt hàng xuất khẩu các mặt hàng này. Năm 1998, các chương trình trả nợ
không còn, đứng trước khó khăn nghiêm trọng của hoạt động xuất khẩu, ban
giám đốc công ty đã quyết tâm thực hiện đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng
nông sản, lấy đó làm mặt hàng xuất khẩu chính trước mắt. Với việc tập trung
tháo gỡ những khó khăn về vốn, về chi phí cho xuất khẩu nông sản và hàng
loạt những các biện pháp hỗ trợ khác, chỉ trong thời gian ngắn công ty đã hoàn
thành kế hoạch xuất khẩu của Bộ Thương mại giao. Năm 1998 tỷ trọng hàng
nông sản chiếm trên 60% kim ngạch xuất khẩu, năm 1999 chiếm trên 80% và
năm 2000 chiếm trên 90%. Cho đến nay thì hàng nông sản đã trở thành mặt
hàng giữ vị trí chủ yếu trong xuất khẩu của công ty.
Trong số các mặt hàng nông sản thì cà phê và hạt tiêu là hai mặt hàng
xuất khẩu chủ yếu. Năm 1999 tỷ trọng của hai mặt hàng này chiếm 78% kim
ngạch xuất khẩu, năm 2000 chiếm tới 82,8%. Mặc dù, trong hai năm qua công
ty đã và đang cố gắng mở rộng ra các mặt hàng nông sản khác như: cao su, lạc
nhân, gạo…( xem phụ lục 2)
2. Tình hình hoạt động nhập khẩu

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

10


Báo cáo tổng hợp thực tập
Về hoạt động nhập khẩu thì trong nhưng năm qua công ty cũng chú
trọng phát triển theo hướng hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng và chủ yếu nhập
khẩu các mặt hàng thuộc nhóm phục vụ cho hoạt động đầu tư và kinh doanh
nội địa. Công ty đã giành được vai trò là đại lý phân phối cho những hãng sản
xuất hàng lớn trên thế giới. Trong hai năm qua đó có nhiều cố gắng nên bước
đầu đã phát triển làm đại lý cho một số hãng mỹ phẩm, sữa, tã lót trẻ em… Đây
là một cố gắng rất lớn trong việc gắn hoạt động nhập khẩu với việc bán buôn
chiếm lĩnh thị trường trong nội địa. Tuy nhiên, quy mô còn nhỏ so với thị
trường.
Hoạt động nhập khẩu vật tư nguyên liệu và trang thiết bị máy móc trong
thời gian qua nói chung là yếu. Một phần do trước đây không có định hướng
kinh doanh mặt hàng này. Đến năm 1996 Công ty mới xin được bổ sung cho
phép nhập khẩu trang thiết bị máy móc. Đến cuối năm 1999, đứng trước tình
hình hoạt động nhập khẩu ngày càng bị giảm sút nhất là hàng tiêu dùng, ban
giám đốc công ty đã đặt ra định hướng cần phải phát triển kinh doanh các
nhóm hàng vật tư nguyên vật liệu và trang thiết bị, nhưng do nền tảng đẩy
mạnh mối quan hệ và kinh nghiệm còn hạn chế nên chậm trong việc đẩy mạnh
và phát triển kinh doanh nhóm hàng này. Tuy nhiên, do có định hướng nên tỷ
trọng nhóm hàng trang thiết bị và vật tư nguyên liệu trong cơ cấu hàng nhập
khẩu đã có vị trí ngày càng lớn.
III.

TÌNH HÌNH MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG KHÁC

1.Kinh doanh nội địa
Khác biệt với một số công ty xuất khẩu của Bộ Thương mại, công ty
Intimex đã có một bề dày kinh doanh bán lẻ trên thị trường nội địa thông qua
hệ thống cửa hàng bán lẻ của riêng mình tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí
Minh. Tuy nhiên, theo thời gian hoạt động này có những bước thăng trầm nhất
định. Vào đầu những năm 1990, các cửa hàng tại khu vực Bờ Hồ đã được xây

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

11


Báo cáo tổng hợp thực tập
dựng thành cửa hàng bán lẻ thu ngoại tệ đầu tiên tại Hà Nội và phục vụ người
Việt Nam lao động ở nước ngoài. Từ khi chức năng trên bị cắt bỏ, hoạt động
kinh doanh của cả khu vực dần teo lại, cửa hàng, kho tàng ngày càng xuống
cấp nghiêm trọng. Dự án đầu tư liên doanh với nước ngoài bị phá vỡ. Đầu tư
xây dựng siêu thị với quy mô quá nhỏ, mặt hàng kinh doanh nghèo nàn không
có sức hút đối với khách hàng. Doanh số bán lẻ tại siêu thị chỉ đạt hơn một tỷ
đồng/ năm. Đứng trước tình hình trên đầu năm 2000, công ty đã được Bộ
Thương mại duyệt đầu tư cải tạo lại toàn bộ khu vực Bờ Hồ thành trung tâm
thương mại gồm một siêu thị và các cửa hàng chuyên doanh dịch vụ. Trung
tâm thương mại Bờ Hồ đi vào hoạt động từ tháng 4/2001 với doanh thu bán lẻ
tăng đáng kể đã khẳng định vai trò của doanh thu bán buôn, bán lẻ trong cơ cấu
doanh thu của công ty. Đồng thời cũng khẳng định vị trí và sự thành công của
một doanh nghiệp Nhà nước thị trường bán lẻ tại Hà Nội.
Đây là bước khởi đầu hết sức quan trọng để xây công ty có thể hoạch
định chiến lược phát triển của mình trong việc tham gia chiếm lĩnh thị trường
bán buôn và bán lẻ của công ty trên thị trường Hà Nội và các tỉnh phía Bắc.
Hoạt động kinh doanh của công ty trên thị trường nội địa ngoài việc bán hàng
nhập khẩu và bán lẻ, các phòng kinh doanh và các đơn vị còn tham gia hoạt
động bán buôn. Tuy nhiên, hoạt động này không mạnh bởi thiếu cơ sở phát
triển.
Từ khi Công ty Nông sản III được sát nhập vào Intimex, hoạt động
kinh doanh nông sản nội địa (thu mua sắn khô, ngô hạt vào vụ, đồng thời dữ
trữ bán cho các nhà máy chế biến thức ăn gia súc…) được phát huy trở lại. Do
những hoạt động này vốn là thế mạnh của Công ty Nông sản III nay được sự
hỗ trợ của công ty Intimex. Điều này góp phần đáng kể làm tăng doanh sè kinh
doanh nội địa trong vòng 3 năm gần đây.

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

12


Báo cáo tổng hợp thực tập
Ta có thể tham khảo cơ cấu doanh thu của công ty một số năm gần
đây qua bảng sau:
Bảng 3: Cơ cấu doanh thu của công ty từ năm 1996 đến năm 2003
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Tổng DT
-DTXK
-DTNK
-DTNĐ

1996
207
60
120
50

1997
239
60
120
50

1998
242
85
100
57

1999
425
268
87
70

2000
1002
710
190
102

2001
1150
700
250
200

2002
1500
721
390
389

2003
1811
847,7
363,3
600

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty Intimex (1996-2003)
2. Hoạt động đầu tư
Một thời gian khá dài, gần suốt trong cả thập kỷ 90 công ty Intimex
đã không có hoạt động đầu tư, hoặc nếu có cũng hết sức dè dặt với quy mô rất
nhỏ. Hoạt động đầu tư sản xuất, gia công của công ty chủ yếu tập trung và
được đẩy mạnh từ năm 1999 đến nay vẫn tiếp tục. Các công trình trọng điểm
trong thời gian qua gồm:
Thứ nhất, sản xuất gia công hàng may mặc: Năm 1998 công ty đã đầu
tư gần 3 tỷ đồng xây dựng một xí nghiệp may xuất khẩu tại thị trấn Văn Điển,
Thanh Trì, Hà Nội với hai dây chuyền máy may công nghiệp. Tuy nhiên, do
quy mô đầu tư còn nhỏ bé, công ty lại thiếu cán bộ hoạt động trong ngành may,
do vậy trong ba năm xí nghiệp luôn lỗ vốn. Qua đó, có thể nhận thức một điều
là xuất khẩu hàng dệt may không phải là thế mạnh của công ty. Một thực tế là
xí nghiệp may rất thiếu lao động tay nghề cao, rất nhiều người đến với xí
nghiệp chỉ để học nghề. Sau khi tay nghề đã khá đều xin chuyển sang các công
ty khác, dẫn đến tình trạng xí nghiệp liên tục phải tuyển lao động mới và đào
tạo từ đầu.
Trước tình hình như vậy, mặc dù quy mô đầu tư của xí nghiệp may
hiện nay là quá nhỏ, không phù hợp nhưng chưa thể tiếp tục đầu tư được. Bản
thân xí nghiệp may cần phải tự vươn lên thông qua hoạt động gia công và kinh

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

13


Báo cáo tổng hợp thực tập
doanh thương mại. Ngoài việc gia công hàng xuất khẩu, xí nghiệp cũng cần
nghiên cứu phát triển gia công sản xuất hàng trong nước.
Thứ hai, xí nghiệp lắp ráp xe máy: Vào đầu năm 1999, được phép của
Bộ thương mại và Bộ công nghiệp công ty Intimex đã đầu tư xây dựng một xí
nghiệp lắp ráp xe máy dạng IKD tại số 11 đường Láng Hạ, Hà Nội. Từ khi ra
đời xí nghiệp đã phát huy được nhiều tác dụng tốt: Năm 1999 lắp ráp được gần
3000 xe máy, năm 2000 lắp ráp được 15000 xe. Điều quan trọng nhất ở xí
nghiệp này là công ty đã phục hồi được kinh doanh mặt hàng xe máy, vốn là
mặt hàng có thế mạnh của công ty trong vòng 10 năm qua. Hoạt động kinh
doanh xe máy dạng IKD đã đem lại cho công ty một khoản lợi nhuận đáng kể
trong lúc các hoạt động khác gặp khó khăn.
Ngoài ra trong hai năm 1999 và 2000 công ty đã tập trung chỉnh trang
lại toàn bộ cở sơ làm việc và trang thiết bị tương đối hiện đại đảm bảo hỗ trợ
cho hoạt động kinh doanh.
Trong các năm 2001-2003 trọng tâm đầu tư của công ty là tiếp tục
hoàn thiện và đưa vào sử dụng khu vực Trung tâm thương mại Bờ hồ, từ số nhà
22 đến 32 Lê Thái Tổ, Hà Nội. Công trình đã được hoàn tất và đưa vào khai
thác sử dụng trong tháng 4 năm 2001. Hoạt động của hệ thống này đã phát huy
được hiệu quả đóng góp quan trọng vào việc phát triển kinh doanh bán lẻ trên
thị trường Hà Nội.
Bên cạnh đó công ty đã nghiên cứu và phát triển khai thác các dự án
mới như:
 Nhà máy chế biến tinh bột sắn tại Nghệ An;
 Nhà máy sản xuất phụ tùng xe máy tại Hưng Yên;

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

14


Báo cáo tổng hợp thực tập
 Hai trung tâm tồn trữ và chế biến nông sản xuất khẩu tại thành
phố Biên Hoà, Đồng Nai, và khu công nghiệp Bình Chuẩn,
Bình Dương.
Các dự án này nhằm phục vụ mục đÝch cho sự phát triển của Công
ty, chuẩn bị cho quá trình hội nhập.
Tính đến cuối năm 2003 một số dự án đã cơ bản được hoàn tất, chuẩn
bị đưa vào vận hành sản xuất như: dự án Xí nghiệp chế biến tinh bột sắn tại
Nghệ An, dự án Xí nghiệp chế biến nông sản xuÊt khẩu tại khu công nghiệp
Bình Chuẩn, Bình Dương…

III.Đánh giá chung về hoạt động kinh doanh của công ty
1.Những mặt kết quả đạt được
1.1.Hoạt động xuất nhập khẩu
Trong thời gian qua hoạt động xuất nhập khẩu của công ty luôn tăng
khá. Nó đã thực sự cho thấy đây là hoạt động chủ yếu của Intimex.
Về kim ngạch xuất nhập khẩu: Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng liên
tục từ năm 1998 trở lại đây (xem bảng 1). Trong đó đặc biệt là kim ngạch xuất
nhập khẩu trực tiếp luôn tăng nhanh hơn so với xuất khẩu uỷ thác. Do vậy tỷ
trọng về kim ngạch xuất khẩu uỷ thác trong tổng kim ngạch xuất khẩu cũng
tăng liên tục.

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

15


Báo cáo tổng hợp thực tập
Về mặt hàng xuất khẩu: Mặt hàng xuất khẩu của công ty khá phong
phú từ hàng nông sản xuất khẩu đến hàng thủ công mỹ nghệ, hàng công nghiệp
và hàng thuỷ sản…
Về thị trường xuất khẩu: Công ty đã chủ trương phát huy những thị
trường truyền thống là Trung Quốc và các nước Đông Âu. Đồng thời, mở rộng
phát triển sang các thị trường mới như thị trường Châu Âu, thị trường Mĩ…
1.2. Hoạt động kinh doanh nội địa
Đây là hoạt động rất được quan tâm hiện nay của công ty, nó được
thể hiện bằng các dự án phát triển trung tâm thương mại Bờ hồ, với siêu thị
Intimex và hệ thống các cửa hàng trên đường Lê Thái Tổ. Trong những năm
gần đây doanh thu kinh doanh nội địa luôn chiếm phần khá đáng kể trong cơ
cấu doanh thu của công ty. Đây là mảng hoạt động quan trọng vì nó thể hiện
tính năng động trong hoạt động của công ty.
Trong quá trình hoạt động xuất nhập khẩu, kinh doanh nội địa góp
phần quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động nhập khẩu đặc biệt là nhập khẩu
hàng tiêu dùng. Có thể nói nhập khẩu hàng tiêu dùng là mảng hoạt động mà
các doanh nghiệp Việt Nam đa số chưa hoạt động hiệu quả. Nguyên nhân là do
khả năng chi trả của thị trường trong nước nên những mặt hàng tiêu dùng mà ta
nhập khẩu đa số là loại hàng được gọi là dùng xuất khẩu cho các nước thuộc
thế giới thứ ba. Tuy nhiên, với hệ thống các cửa hàng và siêu thị của minh công
ty cung cấp các loại hàng hóa từ bình dân đến cao cấp, đặc biệt với mục đích
phục vụ khách nước ngoài. Các hoạt động kinh doanh trên thị trường nội địa
trong thời gian qua góp phần thúc đẩy xuất khẩu tại chỗ và hỗ trợ cho hoạt
động tự sản xuất gia công của công ty ở trong nước.
1.3.Hoạt động đầu tư
Trong giai đoạn gần đây hoạt động đầu tư của công ty còng thu được
một số kết quả nhất định. Trong đó đáng kể nhất là các nhà máy chế biến nông

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

16


Báo cáo tổng hợp thực tập
sản, nó vừa hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh nội địa, hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu của công ty đồng thời nó còn phù hợp với định hướng phát
triển công nghiệp chế biến ở trong nước.
2.Những mặt còn tồn tại và nguyên nhân
2.1.Hoạt động xuất nhập khẩu
Về thị trường xuất khẩu: Tuy thời gian gần đây công ty chủ trương
mở rộng phát triển thị trường nhưng chủ yếu vẫn chỉ xuất khẩu sang những thị
trường truyền thống. Những thị trường mới có yêu cầu cao vẫn còn rất hạn chế,
khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu trên những thị trường này còn thấp.
Một thực tế nữa là đa số các mặt hàng xuất khẩu của công ty lại được
xuất khẩu qua những thị trường gián tiếp đặc biệt là qua Singapore. Điều này
làm cho lợi nhuận của công ty không cao.
Về mặt hàng xuất khẩu: Nhìn chung kim ngạch xuất khẩu vẫn chỉ tập
trung vào những mặt hàng nông sản truyền thống như cà phê, hạt tiêu, cao su…
những mặt hàng khác gần đây được quan tâm phát triển nhưng hiệu quả chưa
cao. Trong đó, phải kể đến hàng thủ công mỹ nghệ và hàng dệt may khả năng
xuất khẩu chưa tương xứng với tiềm năng của công ty.
Nguyên nhân của những tồn tại này trong chủ yếu là do khả năng tiếp
cận thị trường và hoạt động Marketing của công ty còn chưa hiệu quả. Thêm
nữa vì hoạt động đầu tư trong ngành dệt may của công ty còn nhiều yếu kém.
2.2.Hoạt động kinh doanh nội địa
Đây có thể nói là hoạt động có nhiều ưu điểm nhất của công ty trong
thời gian gần đây. Tuy nhiên, cũng như nhiều siêu thị và cửa hàng khác của
Việt Nam tình trạng mất trộm hàng hoá thường xuyên xảy ra.
Nguyên nhân của hiện tượng này có nhiều khách quan có mà chủ
quan cũng có. Một phần là do công tác quản lý còn nhiều hạn chế, một phần là
do ý thức của người tiêu dùng.

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

17


Báo cáo tổng hợp thực tập
2.3. Hoạt động đầu tư
Đây là một trong những hoạt động bổ trợ cho hoạt động chính là xuất
nhập khẩu của công ty. Hoạt động này có đặc điểm khác là mang tính lâu dài.
Tuy nhiên, đây lại là hoạt động mà có nhiều điểm phải bàn nhất. Trong thời
gian gần đây nhiÒu dự án đầu tư của công ty không hợp lý.
Đầu tiên phải kể đến là xí nghiệp sản xuất lắp ráp xe máy. Mặc dù khi
mới đi vào hoạt động doanh thu của xí nghiệp là rất đáng kể nhưng một dự án
như thế cần phải có tính lâu dài. Nhưng xí nghiệp xe máy lại tồn tại không lâu,
hay nói đúng hơn là hoạt đông không lâu. Khi đầu tư vào xây dựng công ty đã
không tính đến một thực tế là sản phẩm xe máy ở thị trường Việt Nam không
còn là một sản phẩm có tiềm năng đầu tư.
Thêm nữa là tại xí nghiệp may có thể nói đây cũng là một dự án đầu
tư có hoạt động không hiệu quả. Sản phẩm dệt may là sản phẩm rất có tiềm
năng xuất khẩu và khá phù hợp với một nước lao động dồi dào như nước ta.
Tuy nhiên xí nghiệp may lại không được quan tâm và đầu tư một cách thích
đáng.

Chương III: Định hướng và mục tiêu phát triển của công ty xuất
nhập khẩu Intimex trong thời gian tới
Trong một vài năm tới hoạt động của công ty chủ yếu nhằm thực hiện
tốt kế hoạch năm năm (2001-2005). Kết thúc tốt kế hoạch này giúp công ty
bước vào một thời kỳ mới, đó là thời kỳ có sự thay đổi lớn trong nội bộ công ty
cũng như các vấn đề kinh tế xã hội của đất nước.

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

18


Báo cáo tổng hợp thực tập
I.NHẬN ĐỊNH THUẬN LỢI KHÓ KHĂN TRONG THỜI
GIAN TỚI.
1.Thuận lợi.
Thứ nhất, bối cảnh thế giới trong thời gian tới có nhiều thời cơ lớn đan
xen với nhiều thách thức lớn. Khoa học và công nghệ tiếp tục có những bước
nhảy vọt. Toàn cầu hoá là xu thế không thể đảo ngược vừa thúc đẩy sự hợp tác,
vừa tăng sức Ðp cạnh tranh. Châu Á Thái Bình Dương vẫn là khu vực phát
triển năng động, trong đó Trung Quốc có vai trò ngày càng lớn. Sau khủng
hoảng tài chính- kinh tế khu vực nhiều nước ASEAN và Đông Á đang khôi
phục. Cùng với quá trình hội nhập sẽ tạo ra những thuận lợi cơ bản cho hoạt
động kinh doanh thương mại, thị trường được rộng mở, rào cản thuế quan đối
với các hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sẽ được giảm xuống, tạo cơ hội cạnh
tranh mới .
Việt Nam: Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ
IX đã xác định mục tiêu tổng quát của kế hoạch 2001-2005 là : Tăng trưởng
kinh tế nhanh và bền vững, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Chuyển
dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH. Nâng
cao rõ rệt hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Mở rộng kinh
tế đối ngoại, tạo chuyển biến mạnh mẽ về giáo dục và đào tạo, khoa học và
công nghệ, phát huy nhân tố con người… Đồng thời đặt ra một số chỉ tiêu:
GDP tăng bình quân 7.5%/ năm, trong đó nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,3%,
công nghiệp và xây dựng tăng 10,8%, dịch vụ tăng 6,2%.
Về phía công ty: Trong 3 năm qua, công ty đã hết sức quan tâm đến việc
xây dựng chiến lược đổi mới và phát triển. Quá trình đổi mới về tổ chức cán bộ
về cơ bản đã hoàn thành, các định hướng kinh doanh đã được xây dựng và hinh
thành tương đố rõ nét, cơ sở vật chất kỹ thuật đã được đổi mới, các định hướng

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

19


Báo cáo tổng hợp thực tập
đầu tư để phát triển đã bắt đầu được triển khai. Đó là nội lực căn bản giúp công
ty có thế đứng vững và phát triển.
2.Khó khăn
Tình hình kinh tế chính trị của thế giới gần đây diễn ra rất phức tạp. Với
nguy cơ chủ nghĩa khủng bố và các cuộc chiến tranh sắc tộc, tôn giáo đã đưa
thế giới vào một thời kỳ không ổn định mới với những đặc thù khác với giai
đoạn trước đây. Kèm theo đó là những bất ổn về chính trị là những dấu hiệu về
một chu kỳ suy thoái kinh tế mới.
Bên cạnh những bất lợi cơ bản nêu trên, đã và sẽ xuất hiện những thách
thức mới. Quá trình hội nhập đặt ra cho các doanh nghiệp Thương Mại: tồn tại
hay không tồn tại trong bối cảnh cơ cấu bộ máy tổ chức cồng kềnh, chính sách
lao động, tiền lương chưa phù hợp với kinh tế thị trường, cơ sở vật chất lạc hậu
đã xuống cấp nghiêm trọng, vốn lưu động đã bị thất thoát chiếm dụng phần lớn
qua quá trình chuyển đổi cơ chế. Nằm trong bối cảnh chung bước vào thời kỳ
chuyển đổi quan trọng, công ty xuất nhập khẩu Intimex mang trong minh đầy
đủ những đặc điểm trên.

II.ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
XUẤT NHẬP KHẨU INTIMEX TRONG THỜI GIAN TỚI.
Công ty vẫn tiếp tục duy trì chức năng chính của công ty là kinh doanh
thương mại là chính, các hoạt động khác mang tính hỗ trợ để thuc đẩy hoạt
động kinh doanh thương mại.
Hoạt động thương mại của công ty bao gồm ba lĩnh vực:
1) Kinh doanh xuất khẩu;

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

20


Báo cáo tổng hợp thực tập
2) Kinh doanh nhập khẩu;
3) Bán buôn và bán lẻ hàng hoá trên thị trường trong nước.
Các hoạt động hỗ trợ bao gồm:
1) Gia công sản xuất chế biến hàng xuất khẩu;
2) Sản xuất hàng tiêu dùng trong nước;
3) Các hoạt động khác.
1.Về hoạt động xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động mũi nhọn, có vị trí chủ yếu trong toàn
bộ hoạt động kinh doanh của công ty.
Các chỉ tiêu kế hoạch xuất khẩu 2001-2005.
Do giá nông sản thế giới giảm trong năm 2000, 2001 và khả năng còn
kéo dàI trong năm 2002 và 2003 nên những năm đầu của kế hoạch 5 năm mức
tăng trưởng sẽ thấp hơn thậm chí không tăng trưởng, chỉ triển khai xong các
chương trình đầu tư để chuyển hướng mạnh sang các mặt hàng khác, tránh phụ
thuộc vào việc xuất khẩu hai mặt hàng là cà phê và hạt tiêu thì mới đảm bảo
tăng tốc độ phát triển của hoạt động xuất khẩu một cách vượt bậc, cụ thể có hai
giai đoạn của 5 năm: giai đoạn 1: đến năm 2003 là giai đoạn củng cố và duy
trì, giai đoạn 2: từ 2004 sẽ có sự tăng tốc, cụ thể như sau:

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

21


Báo cáo tổng hợp thực tập
Bảng 4: Chỉ tiêu các mặt hàng xuất khẩu 2001-2005
Đơn vị tính: Triệu USD
Mặt hàng
Tổng KN

2000
50,0

2001
50,0

2002
50,0

2003
54

KH 2004 KH 2005
58
65

46,7

46,5

45,0

47,5

49,5

56,0

-Cà phê

23,75

26,0

24,5

24,0

24,0

24,0

-Hạt tiêu

19,5

15,5

15,0

14,0

14,0

14,0

-Cao su

1,7

2,5

2,5

3,0

3,0

3,5

-Lạc nhân

1,75

1,7

2,0

2,5

2,5

3,0

-Tinh bột sắn

0

0

0,5

3,5

5,5

10,5

0,3

0,5

0,5

0,5

1,0

Trong đó:
Hàng NS
Trong đó:

-NS khác
Hàng thuỷ sản

0

0,5

1,7

2,0

4,0

4,5

Hàng TCMN

0,2

0,5

0,8

1,0

1,0

1,0

Hàng công nghiệp 3,1

2,5

3,5

3,5

3,5

3,5

Nguồn: Kế hoạch 2001-2005 của công ty xuất nhập khẩu Intimex
Để thực hiện được các chỉ tiêu trên, những biện pháp chủ yếu trong định
hướng xuất khẩu là:
-Tiếp tục duy trì và phát huy thế mạnh về xuất khẩu hàng nông sản vốn
có của công ty. Trong hàng nông sản ngoài các mặt hàng chính là cà phê và hạt
tiêu sẽ tiếp tục mở rộng ra các mặt hàng khác như: cao su, gạo, chè đen, hạt
điều, đậu các loại… trên cơ sở đó duy trì và mở rộng thị trường, bạn hàng đã
có. Ngoài các bạn hàng sẵn có tại các nước xung quanh và châu Âu, đặc biệt

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

22


Báo cáo tổng hợp thực tập
chú ý đến các thị trường mới (Tây Á, châu Phi…) và các nước Đông Âu cũ là
thị trường tiềm năng trong việc tiêu thụ nông sản của Việt Nam.
-Chuyển hướng dần từ xuất khẩu các hàng có chất lượng thấp, thô sang
hàng có chất lượng cao hơn trên cơ sở nghiên cứu đầu tư thiết bị chế biến cho
hàng nông sản. Đặc biệt với việc xây dựng và đưa nhà máy chế biến tinh bột
sắn xuất khẩu của công ty, tạo ra thế ổn định và vững chắc cho xuất khẩu.
-Chuyển hướng phát triển xuất khẩu hàng thuỷ sản để tránh phụ thuộc
quá nhiều vào xuất khẩu mặt hàng này do những khó khăn của thị trường.
Thông qua hoạt động xuất khẩu, xác định hướng đầu tư chiều sâu thích hợp để
phát triển và tạo chỗ đứng vững chắc trong hoạt động kinh doanh mặt hàng này
trong cả lĩnh vực xuất khẩu và kinh doanh nội địa.
-Nghiên cứu phát triển xuất khẩu và kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ,
trên cơ sở khai thác quan hệ với các làng nghề trong nước và quan hệ với bạn
hàng nước ngoài. Mặt hàng thủ công mỹ nghệ đối với công ty còn là một mặt
hàng đầy tiềm năng chưa được khai thác và phát huy. Tuy không có những kim
ngạch lớn nhưng mặt hàng này có thể đạt được tỷ suất lợi nhuận cao hơn nhiều
mặt hàng nông sản. Do vậy phải được chú trọng tăng trưởng xuất khẩu mặt
hàng này là một phương án hướng quan trọng trong thời gian tới.
-Các mặt hàng công nghiệp trong đó có hàng may mặc sẵn không phải là
mặt hàng chủ lực trong chiến lược xuất khẩu nhưng cũng cần được quan tâm,
khai thác triệt để các cơ hội để từng bước phát triển.
2.Về hoạt động nhập khẩu
Hoạt động xuất khẩu giữ vai trò thứ yếu trong kinh doanh xuất nhập
khẩu, nhưng cũng rất quan trong nhằm tạo ra sự hài hoà của hoạt động kinh
doanh, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho công ty. Tuy nhiên, trong
giai đoạn tới hoạt động nhập khẩu sữ co những định hướng mới.

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

23


Báo cáo tổng hợp thực tập
Bảng 5: Chỉ tiêu kế hoạch nhập khẩu 2001-2005
Đơn vị tính: Triệu
USD
Chỉ tiêu
2000
2001 2002
2003 2004 2005
Tổng sè
15,5
19,0
20,0
21,5
23,0
25,0
Nhóm hàng tiêu dùng 5,0
5,5
6,0
6,5
6,5
7,0
Nhóm hàng TTBMM 5,5
8,0
8,5
9,0
10,0
11,0
Nhóm hàng VTNL
5,0
5,0
5,5
6,0
6,5
7,0
Nguồn: Kế hoạch 2001-2005 của công ty xuất nhập khẩu Intimex
Những biện pháp chủ yếu:
-Thông qua việc đưa siêu thị Bờ Hồ vào hoạt động, phát triển dần mạng
lưới các cửa hàng tự phục vụ, siêu thị và trung tâm thương mại của công ty tại
Hà Nội và một số thành phố tại một số tỉnh phía Bắc, đồng thời xây dựng và
phát triển Trung tâm phân phối (làm nhiệm vụ cung ứng hàng siêu thị và bán
buôn) làm cơ sở để phát triển kinh doanh nhập khẩu và làm đại lý phân phối
các hàng hoá tiêu dùng cho các nhà sản xuất trong và nước ngoài.
-Nghiên cứu xác định quy đầu tư sản xuất phụ ting hợp lý nhằm tiếp tục
duy trì hoạt động kinh doanh xe máy như một mặt hàng kinh doanh lâu dàI của
công ty.
-Đối với nhóm hàng trang thiết bị máy móc và vật tư nguyên liệu: Đây là
nhóm hàng chủ lực cần phải nghiêu cứu phát triển để có thể tăng doanh sè
trong thời gian tới. Thông qua việc mở rộng và phát triển hệ thống cửa hàng và
quan hệ với khách hàng hiện có, tiếp tục giữ vững và phát triển kinh doanh mặt
hàng này.
3. Về hoạt động kinh doanh nội địa
Cùng với sự tăng trưởng của kinh doanh xuất khẩu và nhập khẩu, hoạt
động kinh doanh nội địa của công ty trong giai đoạn tới sẽ có sự chuyển biến

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

24


Báo cáo tổng hợp thực tập
cả về chất và về lượng. Trong đó với việc mở rộng và phát triển mạng lưới bán
lẻ doanh thu bán lẻ trên thị trường nội địa sẽ tăng nhanh chóng, trên cơ sở đó
từng bước phát triển bán buôn, chiếm lĩnh thị trường Hà Nội và một số tỉnh
phía Bắc.
Với việc đưa vào khai thác và sử dụng Trung tâm thương mại tại 22-32
Lê Thái Tổ Hà Nội (bao gồm một siêu thị và hệ thống các cửa hàng chuyên
doanh) công ty đang dự kiến phát triển loại hình kinh doanh Siêu thị Hà Nội.
Dự kiến trong vòng 5 năm tới công ty sẽ phát triển thêm khoảng 10 siêu thị và
cửa hàng tự chọn mới. Cũng thông qua kinh doanh siêu thị và bán buôn, công
ty sẽ cố gắng vươn ra làm đại lý phân phối hàng hoá cho các nhà sản xuất trong
và ngoài và nước. Thông qua sự phát triển như vậy, doanh thu kinh doanh nội
địa sẽ có sự phát triển nhảy vọt trong thời gian tới theo hướng sau:
-Doanh thu bán lẻ sẽ tăng nhanh. Dự kiến trong vòng 5 năm sư tăng
khoảng 8 lần.
-Cùng với sự tăng lên của doanh thu bán lẻ, doanh thu kinh doanh bán
buôn cũng tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Ta có thể tham khảo qua các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm của công ty
qua bảng sau:
Bảng 6: Chỉ tiêu doanh thu 2001-2005
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
Tổng DT
-DTXK
-DTNK
-DTNĐ

2001
2002
2003
2004
2005
1150
1200
1400
1550
1750
700
720
800
900
950
250
250
300
350
400
200
230
300
350
400
Nguồn: Kế hoạch 2001-2005 của công ty xuất khẩu Intimex

Trần Thị Vui- Kinh tế quốc tế K42

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×