Tải bản đầy đủ

Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế kế toán quản trị (681)

Lời mở đầu
Trong cơ chế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt về mọi mặt, đòi hỏi các
chủ thể kinh tế ngoài nguồn vốn tự có phải biết huy động vốn để đáp ứng các
yêu cầu của quá trình sản xuất - kinh doanh, đồng thời quan trọng hơn nữa là
việc phân phối, quản lý và sử dụng nguồn vốn kinh doanh một cách hợp lý,đạt
được hiệu quả cao nhất trên cơ sở chấp hành các chế độ, chính sách Pháp luật
hiện hành. Hoạt động tài chính doanh nghiệp là hoạt động xuyên xuốt tất cả
các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, từ khâu huy động vốn cho tớ khâu
cuối cùng là phân phối lãi thu đượctừ các hoạt động đó. Kết quả cuối cùng của
hoạt động sản xuất kinh doanh cũng đồng thời là kết quả tài chính của doanh
nghiệp. Do vậy mà hoạt động tài chính có vai trò to lớn đôi với hoạt động sản
xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, đồng thời nó cũng là một chỉ tiêu chủ
yếu để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Ngày nay, trong điều kiện các quan hệ kinh tế dược mở rộng, tình hình tài
chính của mỗi doanh nghiệp không những được quan tâm bởi các nhà quản lý
doanh nghiệp mà các đối tượng khác có quan tâm tới như các cổ đông, các nhà
đầu tư, các đối tác, các cơ quan quản lý Nhà nước... cũng rất quan tâm tới tình
hình tài chính doanh nghiệp. Chính vì vậy mà việc thường xuyên tiến hành
phân tích tình hình tài chính tài chính doanh nghiệp sẽ giúp cho các đối tượng
sử dụng thông tin tài chính của doanh nghiệp nắm bắt được thực trạng tài
chính doanh nghiệp, xác điịnh được các nguyên nhân vàmức độ ảnh hưởng của

từng nhân tố đến tình hình tài chính cũng như các hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Quá trình phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp chủ yéu dựa trên các
Báo cáo tài chính định kỳ, bao gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả
kinh doanh,Bảng báo các lưu chuyển tiền tệ và các bảng phụ chú khác.Thông
qua việc phân tích các Báo cáo tài chính cho phép đấnh giá được thực trạng tài
chính, kết quả cũng như trình độ sử dụng, quản lý vốn của doanh nghiệp và
triẻn vọng Kinh tế – Tài chính trong thời gian tới. Từ đó có cơ sở để đưa ra các
giải pháp nhằm phát huy khả năng của doanh nghiệp, hạn chế những mặt còn
yếu kém nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo
điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp phát triển hơn nữatrong chiến lược sản
xuất kinh doanh của mình.
ý thức được tầm quan trọng nêu trên, trong quá trình thực tập tại công ty Xà
phòng Hà nội, với đề tài “Báo cáo tài chính với việc phân tích tình hình tài
chính của doanh nghiệp” được chọn làm nội dung em đã tiến hành phân tích và
đánh giá tình hình tài chính của công ty Xà phòng Hà nội trên cơ sở các Báo
cáo tài chính của công ty. Cơ cấu của bài viết gồm 3 phần:
Phần 1: Lý luận chung về Tài chính – Báo cáo tài chính và việc phân tích tình
hình tài chính trong các doanh nghiệp.
1


Nội dung của phần 1 là giới thiệu một cách cơ bản về tài chính doanh
nghiệp, đồng thời nêu lên khái niệm, nội dung của hoạt động tài chính doanh
nghiệp cũng như các chức năng của hoạt động tài chính doanh nghiệp trong
điều kiện hiện nay.
Phần 2: Thực trạng công tác tài chính ở công ty Xà phòng Hà nội.
Bên cạnh việc giới thiệu khái quát về công ty Xà phòng Hà nội, nội dung
chính của phần này là đi sâu phân tích thực trạng công tác tài chính của công
ty trong kỳ sản xuất kinh doanh năm 2000, đánh giá chung về tình hình tài
chính của công ty những năm gần đây.
Phần 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện tình hình Tài chính của Công ty Xà
phòng Hà nội.
Nội dung của phần này là một số giải pháp của bản thân em sau khi đã đi
sâu tìm hiểu và phân tích tình hình tài chính của công ty nhằm hoàn thiện tình
hình tài chính, tạo điều kiện cho công ty trong định hướng phát triển thời gian
tới.
Tuy nhiên do nhận thức của bản thân còn hạn chế, hơn nữa quá trình tiếp
cận ban đầu với các vấn đề mới mẻ còn nhiều khó khăn sẽ không tránh khỏi
sai sót. Em rất mong nhận được các ý kiến đóng góp chỉ bảo đẻ bài viết được


hoàn thiện hơn.
Thông qua bài viết, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu, tận tình
của các cô, các anh, các chị phòng Tài chính – Kế toán ở công ty Xà phòng Hà
nội. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Bùi Tiến Hanh đã giúp đỡ em hoàn
thành bài viết này!
**************************************************

2


Chương1
Lý luận chung về tài chính - báo cáo tài chính
Và việc phân tích tình hình tài chính
Trong các doanh nghiệp
1.1.Những lý luận chung về tài chính doanh nghiệp:
1.1.1.Khái quát chung về tài chính doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là một mắt xích quan trọng của hệ thống
tài chính trong nền kinh tế, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự
ra đời của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ. Để có thể tiến hành hoạt động kinh
doanh thì bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải có một lượng tiền tẹ nhất
định, đó là một tiền đề cần thiết và quan trọng. Quá trình hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp cũng đồng thời là quá trình hình thành, phân phối và
sử dụng các quỹ tiền tệ. Trong quá trình đó đã phát sinh các luồng tiền tệ gắn
liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh, các hoạt động đầu tư cũng như các
hoạt động khác của doanh nghiệp. Các luồng tiền tệ đó bao gồm các luồng tiền
tệ đi vào và các luồng tiền tệ đi ra khỏi doanh nghiệp tạo thành sự vận động
của các luồng tài chính trong doanh nghiệp.
Đi đôi với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh
nghiệp là các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị, hay nối cách
khác đó chính là các quan hệ tài chính đối với doanh nghiệp, cụ thể là
-Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước:
Quan hệ này phát sinh thông qua việc Nhà nước cung cấp vốn (hàng hoá
hay dịch vụ) cho doanh nghiệp hoạt động (đôí với trường hợp là doanh nghiệp
nhà nước) và thông qua việc doanh nghiệp phải thực hiện các nghĩa vụ tài
chính đối với nhà nước như việc nộp các khoản thuế, phí, lệ phí... theo luật
định.
-Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính:
Qua việc doanh nghiệp thực hiện quá rtình trao đổi, mua bán các sản phẩm
tài chính nhằm thoả mãn các nhu cầu về vốn. Trong quá trình này doanh
nghiệp phải luôn tiếp xúc, trao đổi với thị trường tài chính chủ yếu là thị
trường tiền tệ: với phương pháp huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
mà các ngân hàng, các doanh nghiệp có thể huy động được nguồn vốn để phục
vụ cho qúa trình hoạt động của mình. Còn với thị trường vốn: các doanh
nghiệp cũng có thể tạo được nguồn vốn thích hợp bằng cách phát hành các
giấy tờ có giá như chứng khoán, cổ phiếu hoặc trái phiếu. Ngoài ra, doanh
nghiệp có thể tiến hành kinh doanh các mặt hàng này trên thị trường để có thể
thu lợi nhuận, thoả mãn nhu cầu về vốn.
-Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác:
Đây là các quan hệ về mặt thanh toán trong việc vay hoặc cho vay vốn, đầu
tư vốn (như quan hệ liên doanh – liên kết, quan hệ giữa doanh nghiệp với các
chủ đầu tư, các ngân hàng...) hoặc các quan hệ về mua bán tài sản, vật tư hàng
3


hoá và các dịch vụ khác (quan hệ giữa doanh nghiệp với các đối tác kinh
doanh, quan hệ giữa doanh nghiệp với các ngân hàng...).
-Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp:
Các quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp phải có nghĩa
vụ thanh toán các khoản tiền công, tiền lương, các khoản tiền thưởng, tiền phạt
với cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp. Thông qua việc thanh toán
giữa các bộ phận trong doanh nghiệp hoặc trong việc phân phối lợi nhuận sau
thuế, việc phân chia lợi nhuận, phân chia lợi tức cho các cổ đông hay việc hình
thành các quỹ của doanh nghiệp...
-Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác:
Với tư cách là một chủ thể hoạt đông kinh doanh, doanh nghiệp có quan hệ
với thị trường cung cấp (người bán) và các thị trường phân phối, tiêu thụ sản
phẩm (người mua). Đó chính là thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức
lao động, thị trường xuất nhập khẩu... Thông qua việc quan hệ với các thị
trường này doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu sản phẩm và dịch vụ
tương ứng, trên cơ sở đó doanh nghiệp hoạch định chiến lược sản xuất kinh
doanh nhằm thoả mãn nhu cầu thị trường tối đa với chi phí nhỏ nhất.
Như vậy, có thể nói tài chính doanh nghiệp chính là quá trình tạo lập, phân
phối và sử dụng các quỹ tiền tệ, và đi đôi với nó là các quan hệ kinh tế đặc thù.
Mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì việc hoạch định phương
hướng, kế hoạch cũng như chiến lược về tài chính là rât quan trọng. Nhất là
trong điều kiện hiện naylà nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt thì
vấn đề tài chính lại càng trở nên quan trọng. Ngoài ra các doanh nghiệp phải
chú trọng đến phương hướng, kế hoạch cho hoạt động kinh doanh được mở
rộng và nâng cao hơn vai trò của các quan hệ kinh tế... là điều bắt buộc phải
làm để có thể phát triển...
1.1.2.Khái niệm cơ bản về tài chính doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự
ra đời của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ, cùng với sự phát triển và những đặc
tính của nền kinh tế thị trường là sự xuất hiện của hàng loạt các quan hệ tài
chính mới làm cho tính chất và phạm vi hoạt động của tài chính doanh nghiệp
có những thay đổi đáng kể.
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là một khâu của hệ thống tài chính trong
nền kinh tế; là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh
trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục
tiêu của doanh nghiệp. Các hoạt động có liên quan tới việc tạo lập, phân phối
và sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc các hoạt động tài chính tạo nên các quan hệ
kinh tế - tài chính của doanh nghiệp. Nếu như các quan hệ này được tổ chức
tốt thì cũng là nhằm đạt tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp.

4


Có thể nói Tài chính chính là các quan hệ tiền tệ và quỹ tiền tệ. Tuy nhiên,
nếu xét về mặt thực chất thì các quan hệ tiền tệ và các quỹ tiền tệ chỉ là hình
thức biểu hiện bên ngoài, mà ẩn đằng sa nó là những quan hệ kinh tế phức tạp,
những luồng chuyển dịch giá trị gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ
tiền tệ. Sự vận động này không chỉ bó hẹp trong một chiu kỳ sản xuất kinh
doanh mà nó còn được thể hiện trực tiếp hay gián tiếp có liên quan đến tất cả
các khâu của quá trình tái sản xuất giữa doanh nghiệp với các đối tác trong nền
kinh tế thị trường. Những quan hệ đó tuy chứa đựng những nội dung kinh tế
khác nhau nhưng chúng đều có những đặc trưng giống nhau như quan hệ tài
chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước, với các thị trường (thị trường tiền tệ,
thị trường vốn, thị trường các yếu tố đầu vào, thị trường các yếu tố đầu ra...),
các quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, các quan hệ tài
chính giữa doanh nghiệp với các đối tác hay với các chủ thể khác trong xã
hội...
Như vậy, các quan hệ tài chính được xem như là kết quả của hoạt động
phân phối, trao đổi (mua – bán) và nó bao quát mọi khía cạnh trong vòng kinh
doanh của doanh nghiệp. Do vậy mà các nhóm quan hệ này đều mang những
đặc trưng nhất định và nó cũng là những đặc trưng cơ bản của tài chính doanh
nghiệp:
+Thứ nhất: Tài chính doanh nghiệp phản ánh những luồng chuyển dịch giá thị
trong nền kinh tế. Những luồng chuyển dịch đó chính là sự vận động của quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Và rõ ràng các quan hệ tài chính
đã cho ta thấy sự vận động của các nguồn tài chính đều nảy sinh trong quá
trình hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
+Thứ hai: Sự vận động của các nguồn tài chính không phải diễn ra một cách tự
phát, và nó được hoà nhập thích ứng vào chu kỳ kinh doanh. Đây chính là sự
vận động chuyển hoá các nguồn tài chính thành các quỹ tiền tệ bằng các quan
hệ phân phối dưới hình thức giá trị nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
phục vụ cho các mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chính nhờ hai đặc trưng này mà chúng ta có thể phân biệt được các quan hệ
tài chính với các quan hệ khác. Và do vậy có thể đưa ra một định nghĩa về tài
chính mang tính chất chung nhất:
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá
trị, nảy sinh trong quá trình phân phối của cải xã hội gắn liền với sự tạo lập và
sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu chung của
xã hội.
1.1.3.Nội dung cơ bản của hoạt động tài chính doanh nghiệp:
Suy cho cùng thì hoạt động tài chính doanh nghiệp là nhằm thực hiện
các mục tiêu chung của doanh nghiệp, có thể mục tiêu đó là tối đa hoá giá trị
5


doanh nghiệp hay mục tiêu tăng trưởng và phát triển. Cụ thể hoạt động tài
chính doanh nghiệp bao gồm các nội dung cơ bản sau:
-Thứ nhất: Vấn đề là đầu tư vào đâu và đầu tư như thế nào cho phù hợp với
tình hình sản xuất kinh doanh đã chọn để nhằm đạt tới mục tiêu của doanh
nghiệp ?
Để có thể giải quyết được vấn đề này thì doanh nghiệp trước hết phải căn
cứ vào mục tiêu, phương hướng phát triển của mình, sau đó lọc ra những
phương án khả thi nằm trong phương hướng đã chọn. Đồng thời doanh nghiệp
phải tiến hành phân tích cụ thể mỗi phương án đầu tư, phân tích những rủi do
có thể gặp phải trong quá trình đầu tư, sản xuất và phân tích các kết quả có thể
mang lại. Từ đó đưa ra các quyết định đầu tư cho phương án tối ưu.
-Thứ hai: Nguồn tài trợ được huy động ở đâu và vào thời điểm nào với một cơ
cấu tối ưu và chi phí thấp nhất ?
ở nội dung này cần nhận thấy rằng có sự liên hệ giữa các quan hệ tài chính
của doanh nghiệp với các thị trường và với các đôí tác của doanh nghiệp.
Thông qua mối quan hệ với thị trường tài chính (thị trường vốn, thị trường tiền
tệ... ) mà dn có thể chủ động vay vốn từ thị trường. Mặt khác, thông qua mối
quan hệ tài chính với các đối tác mà doanh nghiệp có thể phân tích cụ thể tình
hình nội tại và kêu gọi vốn đầu tư hay tham gia liên doanh – liên kết, thuê tài
chính...
-Thứ ba: Lợi nhuận của doanh nghiệp được sử dụng như thế nào ?
Đây là một vấn đề rất nhạy cảm và có tầm quan trọng lớn. Phân phối lợi
nhuận không phải là việc phân chia số tiền lãi một cách đơn thuần mà là việc
giải quyết tổng hợp các mối quan hệ kinh tế diễn ra đối với doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần phải giải quyết hài hoà các mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà
nước, doanh nghiệp và CB CNV nhưng trước hết cần thực hiện nghĩa vụ và
hoàn thành trách nhiệm đối với Nhà nước theo Pháp luật quy định. Một vấn đề
quan trọng khác là doanh nghiệp cần phải dành phần lợi nhuận để lại thích
đáng để giải quyết các nhu cầu kinh doanh của mình, đồng thời chú trọng đảm
bảo lợi ích của các thành viên trong đơn vị. Cụ thể, nội dung phân phối lợi
nhuận được tóm tắt theo sơ đồ sau:
Lợi nhuận doanh
nghiệp
Lợi nhuận từ
HĐKD

Lợi nhuận từ HĐ
khác
phân

Nộp thuế
TNDN

phối
Lợi nhuận sau
thuế
6

Lợi nhuận
HĐTC
Lợi nhuận
HĐBT


Nộp
tiền
thu sử
dụng
vốn
NSNN

Trả các
khoản
tiền bị
phạt

Trừ các
khoản
tiền bị
phạt

Chi LD
cổ
phần,
trái
phiếu

Bù đắp
bảo
toànvố
n

Trích
lập
các
quỹ
DN

Việc phân phối lợi nhuận đúng đắn sẽ trở thành động lực thúc đẩy sản xuất
kinh doanh phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp tục công
việc sản xuất kinh doanh của mình.
-Thứ tư: Phân tích, đánh giá và kiểm tra các hoạt động như thế nào để thường
xuyên đảm bảo trạng thái tài chính có hiệu quả ?
-Thứ năm: Quản lý các hoạt động tài chính như thế nào đẻ đưa ra các quyết
định thu – chi cho phù hợp ?
Đây là một vấn đề khó đối với doanh nghiệp vì các nguồn vốn ngắn hạn
chủ yếu là vốn lưu động đều được đầu tư vào quá trình sản xuất phục vụ cho
mục đích kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố có liên quan đến doanh
thu của doanh nghiệp không phải chỉ do doanh nghiệp quyết định mà nó còn
phụ thuộc vào thị trường và vấn đề thị hiếu tiêu dùng. Tuy nhiên các quyết
định của doanh nghiệp sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu sản phẩm của doanh nghiệp
đã có uy tín và chiếm lĩnh được thị trường.
1.1.4.Chức năng của tài chính doanh nghiệp:
Xuất phát từ nội dung hoạt động tài chính mà tài chính doanh nghiệp có các
chức năng sau:
-Chức năng phân phối:
Chức năng phân phối là thuộc tính vốn có, khách quan của tài chính doanh
nghiệp, là công cụ kinh tế của phạm trù tài chính. Phân phối tài chính dưới
hình thức giá trị diễn ra giữa hai chủ thể và hai chủ thể này có thể ở hai hình
thức sở hữu khác nhau. Nhờ có chức năng phân phối mà doanh nghiệp có khả
năng khai thác, thu hút các nguồn tài chính trong nền kinh tế để hình thành vốn
kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua chức năng phân phối mà vốn kinh
doanh được đầu tư, sử dụng vào mục đích kinh doanh để tạo ra thu nhập và
tích luỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Hay nói khác đi, nhờ có chức năng phân
phối mà các quỹ được tạo lập và sử dụng. Đồng thời vốn kinh doanh của
doanh nghiệp được tuần hoàn và chu chuyển tạo ra lợi nhuận cho doanh

7


nghiệp. Đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định phương hướng và cách thức
phân phối tài chính của doanh nghiệp.
-Chức năng giám đốc:
Cũng như chức năng phân phối, chức năng giám đốc là thuộc tính khách
quan của tài chính doanh nghiệp, là công cụ kinh tế của phạm trù tài chính.
Biểu hiện tập trung nhất của chức năng này là giám đốc các quá trình hình
thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Trong quá trình phân phối,
hàng loạt các quỹ tiền tệ được hình thành và sử dụng, song việc hình thành
không phải do ngẫu nhiên hay tự phát. Với khả năng giám đốc của tài chính,
các quỹ tiền tệ được hình thành từ các nguồn tài chính hợp lý, tức là có tính
chất luật pháp và có hiệu quả. Thông qua chức năng giám đốc, tài chính doanh
nghiệp đảm bảo cho các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp được sử dụng đúng mục
đích, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Chức năng giám đốc là sự giám sát, dự báo tính hiệu quả của các quá trình
phân phối. Nhà quản lý có thể thấy được yếu điểm trong quá trình kinh doanh
để có sự điều chỉnh kịp thời, nhằm thực hiện được mục tiêu kinh doanh dã
định.
Như vậy, giữa chức năng phân phối và chức năng giám đốc có quan hệ hữu
cơ với nhau. Chức năng phân phối là cơ sở để thực hiện chức năng giám đốc. ở
đâu có sử dụng các nguồn tài chínhthì chức năng giám đốc tài chính sẽ làm
cho quá trình đó được thực hiện đúng mục tiêu và có tính hiệu quả.
1.2.Lý luận chung về Báo cáo tài chính:
Trong điều kiện hiện nay, các hoạt động tài chính cũng như các hoạt động
sản xuất kinh doanh luôn có vị trí, vai trò quan trọng, và có ý nghĩa quyết định
về sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Về phía Nhà nước: để có thể thực
hiện được chức năng, vai trò điều tiết, định hướng và quản lý các hoạt động
kinh tế ngày càng đa dạng, Nhà nước cần phải ban hành một hệ thống các quy
phạm pháp luật để có thể điều chỉnh một bộ phận lớn và đặc thù các hoạt động
và quan hệ xã hội: đó là các quan hệ kinh tế. Trong điều kiện đó Báo cáo tài
chính được Nhà nước quy định theo một số chuẩn mực nhất định và có tính
chất bắt buộc (một số loại hình Báo cáo tài chính tuỳ theo điều kiện mỗi doanh
nghiệp có thể có tính chất bắt buộc hoặc không) đối với các doanh nghiệp.
1.2.1.Báo cáo tài chính - Tài liệu chủ yếu trong việc phân tích hoạt động tài
chính doanh nghiệp:
Báo cáo tài chính xét cho cùng thì chính là biểu hiện khác đi của hoạt động
tài chính. Dưới quy mô doanh nghiệp, Báo cáo tài chính chính là sự tóm tắt
tổng quát quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có liên
quan đến việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ. Tuy nhiên, vì mục
đích sử dụng và một số lĩnh vực tài chính cần chú ý chi tiết mà Báo cáo tài
8


chính được Nhà nước quy định theo từng chỉ tiêu và có tính chất cưỡng chế rõ
ràng về nội dung, hình thức, thời hạn lập và gửi... Thông qua nội dung cụ thể
về việc theo dõi, tạo lập và sử dụng Báo cáo tài chính mà chúng ta có khái
niệm chung về Báo cáo tài chính như sau:
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản,
nguồn vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính hay kết quả sản
xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính là phương tiện
để doanh nghiệp trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của doanh
nghiệp cho vcác đối tượng quan tâm.
Thông qua quá trình hoạt động của doanh nghiệp gắn với việc tạo lập, phân
phối và sử dụng các quỹ tiền tệ mà Báo cáo tài chính được hình thành. Hay nói
khác đi, chính do sự vận động (vận động ra khỏi hay đi vào) của các luồng tiền
tệ mà Báo cáo tài chính được sử dụng để theo dõi, sử dụng hay điều chỉnh
nguồn tài chính của doanh nghiệp cho phù hợp. Các đối tượng sử dụng Báo
cáo tài chính tài chính doanh nghiệp có thể là các doanh nghiệp, Nhà nước
hoặc cũng có thể là các đối tác kinh doanh, các nhà đầu tư... tuỳ theo mức
trách nhiệm và sự cần thiết của thông tin trên Báo cáo tài chính.
Báo cáo tài chính được Nhà nước quản lý rất chặt chẽ theo cấp và được
định thống nhất về phương pháp lập, phương pháp tính, thời hạn lập và gửi...
Các thông tin kế toán trên Báo cáo tài chính phải có tính chất xác thực và có cơ
sở. Nếu xét riêng biệt về ý nghĩa của từng chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính thì
chỉ có tính chất thống kê đơn thuần, nhưng nếu xết về mối quan hệ giữa các
chỉ tiêu thì các chỉ tiêu mang lại một thông tin mới có ý nghĩa chung và mang
tính chất điển hình của doanh nghiệp. Ví dụ như chỉ tiêu Tỷ suất thanh toán
ngắn hạn của doanh nghiệp được xác định bằng thương số giữa chỉ tiêu TSLĐ
& ĐTNH với chỉ tiêu Tổng nợ ngắn hạn. Nếu như chỉ tiêu này được xét riêng
biệt, tách rời thì số liệu thống kê chỉ có tính chất quy mô. Ngược lại, khi xem
xét tổng hợp hai chỉ tiêu thì kết quả giữa TSLĐ & ĐTNH với Tổng nợ ngắn
hạn lại nói lên khả năng tài chính của doanh nghiệp có thể trang trải cho các
khoản nợ ngắn hạn. Hoặc chỉ tiêu Doanh lợi doanh thu được xác định bằng
thương số giữa Lợi nhuận thuần với Doanh thu thuần trong kỳ của doanh
nghiệp (thường là 1 năm, 1quý hay 1 tháng...). Nếu chỉ xem xét từng chỉ tiêu:
chỉ tiêu LNT cho chúng ta biết về khả năng kinh doanh cũng như nghĩa vụ
phải nộp thuế thu nhập của doanh nghiệp đối với Nhà nước, chỉ tiêu DTT nói
lên quy mô kinh doanh của doanh nghiệp. Khi xem xét tổng hợp hai nhân tố
này thì thương số giữa hai chỉ tiêu lại cho chúng ta biết được khả năng có thể
thu lợi nhuận tính trên mỗi đồng DTT của doanh nghiệp.
Như vậy, có thể thấy được các thông tin kế toán trên Báo cáo tài chính là rất
quan trọng và có ý nghĩa không chỉ đối với sư phát triển của doanh nghiệp mà
còn có tính chất quyết định đối với Nhà nước, với các đối tác kinh doanh của
doanh nghiệp. Tuy nhiên vai trò của Báo cáo tài chính chỉ có thể được thực
9


hiện nếu các thông tin trên Báo cáo tài chính là thực sự có cơ sở và đáng tin
cậy. Chính vì vậy mà việc xác định quy mô và mức độ chính xác của các thông
tin trên Báo cáo tài chính là rất quan trọng, làm căn cứ pháp lý để Nhà nước
quản lý và xác định mức trách nhiệm đối với doanh nghiệp. Đồng thời cũng là
căn cứ để các đối tượng sử dụng thông tin đưa ra các quyết định trong quan hệ
với doanh nghiệp. Ngoài ra, các số liệu kế toán trên Báo cáo tài chính còn là
căn cứ để Nhà nước kiểm tra, điều chỉnh việc sử dụng vốn và kinh phí ở các
đơn vị thuộc sở hữu Nhà nước, là cơ sở cho việc hoạch định các chính sách
kinh tế vĩ mô, các kế hoạch, chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội dài hạn của
Nhà nước.
Qua nội dung ở trên, chúng ta đã thấy được mối quan hệ giữa tài chính và
Báo cáo tài chính. Có thể nói Báo cáo tài chính là kết quả của hoạt động tài
chính. Hay nói khác đi, hoạt động tài chính của doanh nghiệp chính là nguồn
gốc, là nội dung cho Báo cáo tài chính, và Báo cáo tài chính có nhiệm vụ phản
ánh trung thực nội dung hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Trong trường
hợp đi vào phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp thì không thể không
sử dụng đến Báo cáo tài chính.
Và ngược lại, khi tiến hành phân tích Báo cáo tài chính thì cũng đồng thời
phải tiến hành phân tích nội dung nội dung hoạt động tài chính của doanh
nghiệp. Mối quan hệ giữa hoạt động tài chính và Báo cáo tài chính là mối quan
hệ nhân - quả. Nếu hoạt động tài chính của doanh nghiệp là khả quan và có kết
quả tốt thì tất yếu Báo cáo tài chính của doanh nghiệp cũng có tính chất thuyết
phục các dối tác kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà nước với tư cách là người
quản lý vĩ mô, thông qua cac chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính của các doanh
nghiệp sẽ thực hiện trách nhiệm quản lý và doanh nghiệp cũng có trách nhiệm
thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước theo luật định.
1.2.2.Những nội dung cơ bản của Báo cáo tài chính:
Như đã trình bày ở phần trước, Báo cáo tài chính là báo cáo tổng hợp số
liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế - tài chính nhất định để phản ánh
tình hình tài sản của đơn vị tại một thời điểm, kết quả của hoạt động sản xuất
kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trong một thời kỳ nhất định của đơn vị,
giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán nhận biết được tình hình kinh
tế - tài chính trong quá trình sản xuất - kinh doanh của đơn vị và đề ra các
quyết định cần thiết. Đồng thời, Báo cáo tài chính còn là phương tiện để doanh
nghiệp trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính doanh nghiệp cho
các đối tượng quan tâm. Theo chế độ hiện hành thì nội dung Báo cáo tài chính
bao gồm hai loại hình là báo cáo bắt buộc và báo cáo hướng dẫn.
*.Báo cáo tài chính bắt buộc:
Là những báo cáo mà mọi doanh nghiệp đều phải lập và gửi theo định kỳ,
không phân biệt hình thức sở hữu và quy mô của doanh nghiệp.
10


Hiện nay, theo quy định của Nhà nước các doanh nghiệp định kỳ phải lập
ba báo cáo bắt buộc sau:
-Bảng cân đối kế toán (Balance Sheet):
Là một tài liệu mang tính chất bao quát và quan trọng nhất để nghiên cứu,
đánh giá tổng quát tình hình kinh doanh cũng như kết quả sản xuất kinh doanh,
trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp.
Kết cấu của Báo cáo tài chính bao gồm hai phần: phần “Tài sản” và phần
“Nguồn vốn”. Phần Tài sản phản ánh giá trị của tài sản, phần Nguồn vốn phản
ánh nguồn hình thành của Tài sản trong doanh nghiệp.Trong đó phần Tài sản
gồm các chỉ tiêu như: Tiền, Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn. Các khoản
nợ phải thu... phần Nguồn vốn gồm các chỉ tiêu như Nợ ngắn hạn, Nợ dài hạn,
Các khoản phải thu... Xét theo góc độ kinh tế, phần “Tài sản” cho phép đánh
giá tổng quát về năng lực và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp, phần
“Nguồn vốn” nói lên thực trạng của doanh nghiệp. Xét trên góc độ pháp lý,
phần “Tài sản”thể hiện tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản lý và sử dụng
lâu dài gắn với mục tiêu của doanh trnghiệp, phần “Nguồn vốn” thể hiện mức
trách nhiệm của doanh nghiệp về số vốn đã đăng ký kinh doanh với Nhà nước,
về tổng số tài sản đã được hình thành bằng số vốn vay Ngân hàng cũng như số
vốn vay của các đối tượng khác, trách nhiệm phải thanh toán các khoản phải
trả cho người lao động, cho cổ đông của doanh nghiệp, cho nhà cung cấp... Cụ
thể Bảng cân
đối kế toán được quy định theo mẫu sau:
Mẫu số B01 - DN
Bảng cân đối kế toán
Ngày... tháng... năm...
Đơn vị tính...
Tài sản


số

A.TSLĐ và ĐTNH
I. Tiền
1. Tiền mặt tại quỹ
2. Tiền gửi ngân hàng
3. Tiền đang chuyển
II. Các khoản đầu tư tài chính NH
1. Đầu tư chứng khoán NH
2. Đầu tư chứng khoán NH khác
3. Dự phòng giảm giá đầu tư NH (*)
III. Các khoản phải thu
1. Phải thu của khách hàng
2. Trả trước cho người bán

100
110
111
112
113
120
121
128
129
130
131
132
11

Số đầu năm

Số cuối kỳ


3. Thuế GTGT được khấu trừ
4. Phải thu nội bộ
- Vốn KD ở các đơn vị phụ thuộc
- Phải thu nội bộ khác
5. Các khoản phải thu khác
6. DP các khoản phải thu khó đòi (*)
IV. Hàng tồn kho
1. Hàng mua đang đi trên đường
2. Nguyên liệu, vật liệu tồn kho
3. Công cụ, dụng cụ tồn kho
4. Chi phí SXKD dở dang
5. Thành phẩm tồn kho
6. Hàng hoá tồn kho
7. Hàng gửi đi bán
8. DP giảm giá hàng tồn kho (*)
V. Tài sản lưu động khác
1. Tạm ứng
2. Chi phí trả trước
3. Chi phí chờ kết chuyển
4. Tài sản thiếu chờ xử lý
5. Các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ
VI. Chi sự nghiệp
1. Chi sự nghiệp năm trước
2. Chi sự nghiệp năm nay

133
134
135
136
138
139
140
141
142
143
144
145
146
147
149
150
151
152
153
154
155
160
161
162

B. TSCĐ và ĐTDH
I. Tài sản cố định
1. TSCĐ hữu hình
- Nguyên giá
- Giá trị hao mòn luỹ kế (*)
2. TSCĐ thuê tài chính
- Nguyên giá
- Giá trị hao mòn luỹ kế
3. TSCĐ vô hình
- Nguyên giá
- Giá trị hao mòn luỹ kế (*)
II. Các khoản đầu tư TC dài hạn
1. Đầu tư chúng khoán dài hạn
2. Góp vốn liên doanh
3. Các khoản đầu tư TC dài hạn khác
4. DP giảm giá đầu tư dài hạn (*)

200
210
211
212
213
214
215
216
217
218
219
220
221
222
228
229
12


III. Chi phí XDCB dở dang
IV. Các khoản ký quỹ, kỹ cược DH

230
240

Tổng cộng Tài sản

250

Nguồn vốn

Số đầu năm

A. Nợ phải trả
I.
Nợ ngắn hạn
1. Vay ngắn hạn
2. Nợ DH đến hạn trả
3. Phải trả cho người bán
4. Người mua trả tiền trước
5. Thuế và các khoản phải nộp NN
6. Phải trả công nhân viên
7. Phải trả cho các đơn vị nội bộ
8. Các khoản phải trả, phải nộp khác
II.
Nợ dài hạn
1. Vay dài hạn
2. Nợ dài hạn
III. Nợ khác
1. Chi phí phải trả
2. Tài sản thừa chờ xử lý
3. Nhận ký quỹ, ký cược dài hạn

300
310
311
312
313
314
315
316
317
318
320
321
322
330
331
332
333

B. Nguồn vốn chủ sở hữu
I.
Nguồn vốn – quỹ
1. Nguồn vốn kinh doanh
2.Chênh lệch đánh giá lại tài sản
3. Chênh lệch tỷ giá
4. Quỹ đầu tư phát triển
5. Quỹ dự phòng tài chính
6. Quỹ trợ cấp mất việc làm
7. Lợi nhuận chưa phân phối
8. Quỹ khen thưởng phúc lợi
9. Nguồn vốn đầu tư XDCB
II.
Nguồn kinh phí
1.Quỹ quản lý của cấp trên
2.Nguồn kinh phí sự nghiệp

400
410
411
412
413
414
415
416
417
418
419
420
421
422

13

Số cuối kỳ


- Nguồn kinh phí sự nghiệp năm 423
trước
424
- Nguồn kinh phí sự nghiệp năm nay 425
3.Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ
Tổng cộng Nguồn vốn

430

14


1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.

Các chỉ tiêu ngoài bảng cân đối kế toán
Chỉ tiêu
Số đầu năm
Số cuối kỳ
Tài sản thuê ngoài
VTHH nhận giữ hộ, nhận gia công
HH nhận bán hộ, nhận ký gửi
Nợ khó đòi đã xử lý
Ngoại tệ các loại
Hạn mức kinh phí còn lại
Nguồn khấu hao cơ bản hiện có

Lập ngày... /... /...
Người lập biểu
Kế toán trưởng
Giám đốc
(ký, họ tên)
(ký, họ tên)
(ký, họ tên, đóng dấu)
Ghi chú: Số liệu các chỉ tiêu có dấu (*) dược ghi bằng số âm dưới hình thức
ghi trong ngoặc đơn hoặc ghi đỏ
-Báo cáo kết quả kinh doanh (Income Statement):
Là một Báo cáo tài chính phản ánh tóm lược các khoản doanh thu, chi phí
và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Về mặt
nội dung Báo cáo kết quả kinh doanh gồm có ba phần:
+Phần 1: Lợi nhuận (lỗ)
Phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp gồm kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động bất thường
+Phần 2: Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước
Phản ánh tình hình doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước về
thuế và các khoản phải nộp khác.
+Phần 3: Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, được miễn
giảm.
Phản ánh số thuế GTGT mà doanh nghiệp được khấu trừ, đã khấu trừ và
còn được khấu trừ cuối kỳ; số thuế GTGT mà doanh nghiệp được hoàn lại, đã
hoàn lại và còn được hoàn lại; số thuế GTGT mà doanh nghiệp được miễn
giảm, đã miễn giảm và còn được miễn giảm.
Cụ thể Báo cáo kết quả kinh doanh được quy định theo mẫu sau:

15


Mẫu số B02 - DN
Kết quả hoạt động kinh doanh
Quý... năm...
Phần 1. Lợi nhuận,lỗ
Chỉ tiêu
- Tổng doanh thu
Trong đó: Doanh thu hàng xuất khẩu
- Các khoản giảm trừ (04+05+06+07)
+ Chiết khấu
+ Giảm giá
+ Hàng bán bị trả lại
+Thuế TTĐB, thuế XK phải nộp
1. Doanh thu thuần (01-03)
2. Giá vốn hàng bán
3. Lợi nhuận gộp (10-11)
4. Chi phí bán hàng
5. Chi phí quản lý DN
6. Lợi nhuận thuần từ hoạt động KD
(20-21-22)
- Thu nhập hoạt động tài chính
- Chi phí hoạt động tài chính
7. LNT từ hoạt động tài chính
- Các khoản thu nhập bất thường
- Chi phí bất thường
8. Lợi nhuận bất thường
9. Tổng lợi nhuận trước thuế
(30+40+50)
10.Thuế TNDN đã nộp
11. Lợi nhuận sau thuế (60-70)

16


số
01
02
03
04
05
06
07
10
11
20
21
22
30
31
32
40
41
42
50
60
70
80

Kỳ
trước

Đơn vị tính...
Kỳ này Luỹ kế
từ ĐN


Phần 2. Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước

Đơ

n vị tính...

số

Số
còn
phải
nộp
ĐK

Số
p.s
trong kỳ

2

3

4

Chỉ tiêu
1

5

Luỹ kế
từ ĐN

6

7

Số còn
phải
nộp CK

8

I.
Thuế
1. Thuế GTGT phải nộp
Trong đó: Thuế GTGT hàng NK
2. Thuế tiêu thụ đặc biệt
3. Thuế xuất nhập khẩu
4. Thuế thu nhập DN
5. Thu trên vốn
6. Thuế tài nguyên
7. Thuế nhà đất
8. Tiền thuê đất
9. Các loại thuế khác
II.
Các khoản phải nộp khác
1. Các khoản phụ thu
2. Các khoản phí, lệ phí
3. Các khoản phải nộp khác
Tổng cộng
Tổng số thuế còn phải nộp năm trước chuyển sang năm này:
Trong đó: Thuế thu nhập doanh nghiệp...
Phần III: Thuế GTGT được khấu trừ, được hoàn lại, được miễn giảm

Đơ

n vị tính ...
Số tiền
Chỉ tiêu


số

1
I. Thuế GTGT được khấu trừ
1. Số thuế GTGT còn được khấu trừ,
còn được hoàn lại ĐK
2.Số thuế GTGT được khấu trừ phát sinh

17

2
10
11

Kỳ
này
3

Luỹ kế
từ ĐN
4
*


3.Số thuế GTGT đã được khấu trừ,
được hoàn lại
Trong đó: a. Số thuế GTGT đã khấu trừ
b.Số thuế GTGT đã hoàn lại
c.Số thuế GTGT không được khấu
trừ
d.Số thuế GTGT còn được khấu
trừ, còn được hoàn lại CK (16 = 10+11-12)
II. Thuế GTGT được hoàn lại
1. Số thuế GTGT còn được hoàn lại ĐK
2. Số thuế GTGT được hoàn lại
3. Số thuế GTGT đã hoàn lại
4. Số thuế GTGT còn được hoàn lại CK
(23 = 20+21-22)
III. Số thuế GTGT được miễn giảm
1. Số thuế GTGT còn được miễn giảm ĐK
2. Số thuế GTGT được miễn giảm
3. Số thuế GTGT đã được miễm giảm
4. Số thuế GTGT theo phương pháp còn
được miễn giảm CK
(33 = 30+31-32)

12
13
14
15
16

*

20
21
22
23

*

30
31
32
33

*

*

*

Ghi chú: Các chỉ tiêu có dấu * không có số liệu
-Thuyết minh Báo cáo tài chính:
Là báo cáo nhằm thuyết minh và giải thích bằng lời, bằng số liệu một số chỉ
tiêu kinh tế - tài chính chưa được thể hiện trên các báo cáo trước. Bảng thuyết
minh này cung cấp thông tin bổ xung cần thiết cho việc đánh giá kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp trong năm báo cáo được chính xác.
Thuyết minh báo cáo được lập căn cứ vào:
+Các số kế toán kỳ báo cáo
+Bảng cân đối kế toán kỳ báo cáo (Mẫu B01- DN )
+Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ báo cáo (Mẫu B02 – DN )
+Thuyết minh Báo cáo tài chính kỳ trước, năm trước (Mẫu B04 DN )
Khi lập báo cáo thuyết minh cần lưu ý:
.Phần trình bày bằng lời văn phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu. Phần trình bày
bằng số liệu phải thống nhất với các số liệu trên các báo cáo khác
.Đối với báo cáo quý, các chỉ tiêu thuộc phần chế độ kế toán áp dụng tại doanh
nghiệp phải thống nhất trong cả niên độ kế toán. Nếu có sự thay đổi phải trình
bày rõ ràng lý do thay đổi
.Trong các bảng số liệu, các cột kế toán thể hiện số liệu kế hoạch của kỳ báo
cáo, cột số liệu thực hiện kỳ trước thể hiện số liệu của kỳ ngay trước kỳ báo
cáo
18


.Các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp chỉ sử
dụng trong thuyết minh báo cáo năm.
Về hình thức, Thuyết minh báo cáo được quy định như sau:

Đơn vị: ...

Mẫu số B04 - DN

Thuyết minh báo cáo tài chính
Quý... năm...
1. Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
1.1.Hình thức sở hữu vốn
1.3.Lĩnh vực kinh doanh
1.2.Hình thức hoạt động
1.4. Tổng số CB CNV
Trong đó: Nhân viên quản lý...
1.5.Những ảnh hưởng quan trọng tới tình hình kinh doanh trong năm báo
cáo
2. Chế độ kế toán áo dụng tại doanh nghiệp
2.1.Niên độ kế toán (bắt đầu... kết thúc... )
2.2.Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép kế toán và nguyên tắc, phương
pháp chuyển đổi các đồng tiền khác
2.3.Hình thức sổ kế toán áp dụng
2.4.Phương pháp kế toán TSCĐ
-Nguyên tắc đánh giá tài sản
-Phương pháp khấu hao áp dụng và các trường hợp khấu hao đặc biệt
2.5.Phương pháp kế toán hàng tồn kho
-Nguyên tắc đánh giá
-Phương pháp xác định hàng tồn kho
-Phương pháp hạch toán hàng tồn kho
2.6.Phương pháp tính toán các khoản dự phòng, tình hình trích nhập và
hoàn nhập dự phòng
3.Chi tiết một số chỉ tiêu trong Báo cáo tài chính
3.1.Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố:
Yếu tố chi phí

Số tiền

1.Chi phí nguyên vật liệu
2. Chi phí nhân công
3. Chi phí khấu hao TSCĐ
4. Chi phí dịch vụ mua ngoài
5. Chi phí khác bằng tiền
19


Tổng cộng
3.2.Tình hình tăng , giảm theo từng nhóm TSCĐ, từng loại TSCĐ:
Nhóm TSCĐ

Máy
móc

Chỉ tiêu
I. Nguyên giá TSCĐ
1. Số dư đầu kỳ
2. Số tăng trong kỳ
Trong đó: -Mua sắm mới
-Xây dựng mới
3. Số giảm trong kỳ
Trong đó: -Thanh lý
-Nhượng bán
4. Số cuối kỳ
Trong đó: -Chưa sử dụng
-Đã khấu hao hết
-Chờ thanh lý
II. Giá trị hao mòn
1. Đầu kỳ
2.Tăng trong kỳ
3. Giảm trong kỳ
4. Số cuối kỳ
III. Giá trị còn lại
1. Đầu kỳ
2. Cuối kỳ
Lý do tăng, giảm
3.3.Tình hình thu nhập của CNV:

Nhà
cửa vật ...
k.trúc

Tổng
cộng

Thực hiện
Kế
hoạch

Chỉ tiêu
1. Tổng quỹ lương
2. Tiền thưởng
3. Tổng thu nhập
4. Tiền lương bình quân
5. Thu nhập bình quân
Lý do tăng giảm...
20

Kỳ
này

Kỳ
trước


3.4.Tình hình tăng , giảm nguồn vốn chủ sở hữu:
Chỉ tiêu

Số
đầu
kỳ

Tăng
trong
kỳ

Giảm
trong
kỳ

Số
cuối
kỳ

I. Nguồn vốn kinh doanh
1. Ngân sách Nhà nước cấp
2. Tự bổ xung
3. Vốn liên doanh
4.Vốn cổ phần
II. Các quỹ
1. Quỹ đầu tư phát triển
2. Quỹ dự trữ
3. Quỹ khen thưởng
4. Quỹ phúc lợi
III. Nguồn vốn đầu tư XDCB
1. Ngân sách cấp
2. Nguồn khác
Tổng cộng
Lý do tăng giảm...
3.5.Tình hình tăng, giảm các khoản đầu tư vào đơn vị khác:
Chỉ tiêu

Số
đầu
kỳ

Tăng
trong
kỳ

Giảm
trong
kỳ

Số
cuối
kỳ

Kết
quả
đầu tư

I. Đầu tư ngắn hạn
1. Đầu tư vào liên doanh
2. Đầu tư vào chứng khoán
3. Đầu tư khác
II. Đầu tư dài hạn
1. Đầu tư vào liên doanh
2.Đầu tư vào chứng khoán
3. Đầu tư khác
Tổng cộng
Lý do tăng giảm...
3.6.Các khoản phải thu và nợ phải trả:

Chỉ tiêu

Tổng số
Số phát sinh
tiền
Số đầu kỳ
trong kỳ
Số cuối kỳ
Trong
Trong tranh
chấp mất
Tổng đó số Tăng Giảm Tổng đó số
21


số

quá
hạn

số

quá
hạn

k.năng
t. toán

1. Các khoản phải thu
-Cho vay
-Phải thu từ khách hàng
-Trả trước cho người
bán
-Phải thu tạm ứng
-Phải thu nội bộ
-Phải thu khác
2. Các khoản phải trả
2.1.Nợ dài hạn
-Vay dài hạn
-Nợ dài hạn
2.2. Nợ ngắn hạn
-Vay ngắn hạn
-Phải trả cho người bán
-Người mua trả trước
-Phải trả CNVC
Tổng cộng
Trong đó:
-Số phải thu bằng ngoại tệ (quy ra USD)
-Số phải trả bằng ngoại tệ (quy ra USD)
-Lý do tranh chấp mất khả năng thanh toán
4. Giải thích và thuyết minh một số tình hình và kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh: (Phần tự trình bày của DN )
5.Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp:
Chỉ tiêu

Năm trước

1.Bố trí cơ cấu vốn
-TSCĐ/Tổng TS (%)
-TSLĐ/Tổng TS (%)
2. Tỉ suất lợi nhuận
-Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu
-Tỉ suất lợi nhuận trên vốn
3. Tình hình tài chính
-Tỉ lệ nợ phải trả so với toàn bộ TS (%)
-Khả năng thanh toán (%)
+Tổng quát: TSLĐ/Nợ NH
22

Năm nay


+Thanh toán nhanh: Tiền hiện có/Nợ NH
Đánh giá tổng quát các chỉ tiêu...
6. Phương hướng sản xuất kinh doanh thời gian tới
Ngày... tháng... năm...
Kế toán trưởng
Giám đốc
(ký, họ tên)
(ký, họ tên, đóng dấu)
*.Báo cáo hướng dẫn:
Báo cáo hướng dẫn là những báo cáo không mang tính bắt buộc mà chỉ có
tính chất hướng dẫn. Từng doanh nghiệp tuỳ thuộc vào nhu cầu thông tin và
trình độ quản lý, trình độ kế toán của mình để quyết định lập hay không lập
những báo cáo này.
Theo chế độ kế toán hiện hành, các doanh nghiệp có thể lập một báo cáo
mang tính chất hướng dẫn là “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ”.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash Flows):
Là một Báo cáo tài chính phản ánh các khoản thu và chi tiền trong kỳ của
doanh nghiệp theo từng hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư hay hoạt động
tài chính. Mục đích của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là nhằm trình bày cho
người sử dụng biết tiền tệ được sinh ra bằng cách nào và doanh nghiệp đã sử
dụng chúng như thế nào trong kỳ báo cáo. Người sử dụng báo cáo lưu chuyển
tiền tệ sẽ tiến hành phân tích, đánh giá và dự đoán các mặt sau:
+Dự đoán lượng tiền mang lại từ các hoạt động trong tương lai của doanh
nghiệp thông qua xem xét việc thu và chi tiền trong quá khứ.
+Đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp
+Chỉ ra mối liên hệ giữa lợi nhuận (lỗ) ròng và luồng tiền tệ, bởi doanh nghiệp
sẽ không thu được lợi nhuận nếu hoạt động kinh doanh của họ thiếu tiền.
+Xác định những nhu cầu tài chính cần thiết trong tương lai của doanh nghiệp
như nhu cầu đầu tư TSCĐ, đầu tư nghiên cứu sản phẩm mới, đánh giá khả
năng sinh lợi...
Về nội dung và kết cấu, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần:
-Phần I: Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chỉa liên quan trực tiếp đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp như tiền thu từ bán hàng, tiền thu từ các
khoản thu thương mại; các chi phí bằng tiền như tiền trả cho nhà cung cấp (trả
ngay trong kỳ và tiền trả cho khoản nợ từ kỳ trước), tiền thanh toán cho CNV
về lương và BHXH... ; các chi phí khác bằng tiền như chi phí văn phòng phẩm,
tiền công tác phí...
-Phần II:Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư
Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt
động đầu tư của doanh nghiệp, bao gồm:

23


+Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho bản thân doanh nghiệp như hoạt động đầu
tư XDCB, mua sắm TSCĐ...
+Đầu tư vào các đơn vị khác dưới hình thức góp vốn liên doanh như đầu tư
chứng khoán (kể cả đầu tư ngắn hạn và dài hạn), cho vay...
Dòng tiền lưuchuyền được tính gồm toàn bộ các khoản thu do bán, thanh lý
TSCĐ, thu hồi các khoàn đầu tư vào các đơn vị khác... và các khoản chi mua
sắm, xâydựng TSCĐ, chi đầu tư...
-Phần III: Lưư chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính
Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt
động tài chính của doanh nghiệp. Hoạt động tài chính bao gồm các hoạt động
làm tăng, giảm vốn kinh doanh của doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp góp
vốn, vay vốn (không phân biệt vay dài hạn hay ngắn hạn), nhận vốn góp liên
doanh, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, trả nợ vay...
Dòng tiền lưu chuyển được tính bao gồm toàn bộ các khoản phải thu, phải
chi liên quan như tiền vay nhận được, tiền thu do nhận vốn góp liên doanh, do
phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tiền chi trả lãi cho các bên góp vốn, trả lãi cổ
phiếu, trái phiếu bằng tiền, thu lãi tiền gửi...
Theo phươngpháp gián tiếp, Báo cáo lưuchuyển tiền tệ được lập căn cứ
vào:
+Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh (Mẫu B02-DN)
+Bảng cân đối kế toán (Mẫu B01-DN)
+Các tài liệu khác như: Sổ cái, các sổ kế toán chi tiết, báo cáo góp vốn, khấu
hao, sổ chi tiết hoàn nhập dự phòng hoặc các tài liệu chi tiết về mua-bán
TSCĐ, trả lãi vay...
Về hình thức, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ đượcquy định theo mẫu sau:
Đơn vị ...
Mẫu số B03-DN
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
(Theo phương pháp gián tiếp)
Quý... năm...
Đơn vị tính...

Chỉ tiêu
số Kỳ này Kỳ trước
I. Lưu chuyển tiền từ hoạt động SXKD
Lợi nhuận trước thuế
Điều chỉnh các khoản:
-Khấu hao TSCĐ
-Các khoản dự phòng
-Lãi, lỗ do bán TSCĐ
-Lãi, lỗ do đánhgiá lại TS và chuyển đổi tiền tệ
-Lãi, lỗ do đầu tư vào các đơn vị khác
-Thu lãi tiền gửi
24

01
01
03
04
05
06
07


Lợi tức kinh doanh trước những thay đổi VLĐ
-Tăng, giảm các khoản phải thu
-Tăng, giảm hàng tồn kho
-Tăng, giảm các khoản phải trả
-Tiền thu từ các khoản khác
-Tiền chi cho các khoản khác
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động SXKD
II. Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư
-Tiền thu hồi các khoản đầu tư vào các ĐV khác
-Tiền thu từ lãi các khoản đầu tư vào ĐV khác
-Tiền thu do bán TSCĐ
-Tiền đầu tư vào các ĐV khác
-Tiền mua TSCĐ
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư
III. Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính
-Tiền thu do đi vay
-Tiền thu do các chủ sở hữu góp vốn
-Tiền thu từ lãi tiền gửi
-Tiền đã trả nợ vay
-Tiền đã hoàn vốn cho các chủ sở hữu
-Tiền lãi đã trả cho các nhà đầu tư vào DN
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính
Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ
Tiền tồn đầu kỳ
Tiền tồn cuối kỳ

10
11
12
13
14
15
20
21
22
23
24
25
30
31
32
33
34
35
36
40
50
60
70

1.2.3. Vai trò, tác dụng của Báo cáo tài chính:
Hoạt động tài chính doanh nghiệp là nội dung chủ yếu của hoạt động sản
xuất kinh doanh và được thể hiện chủ yếu trên các Báo cáo tài chính. Đồng
thời, Báo cáo tài chính cũng phản ánh một cách tổng quát các hoạt động tài
chính của doanh nghiệp. Những báo cáo kinh tế do kế toán trưởng của đơn vị
lập định kỳ nhằm cung cấp các thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho việc
phân tích, đánhgiá tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp; đánh giá
thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua
cũng như những dự đoán cho tương lai.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, ngày nay các đối tượng sử dụng
thông tin tài chính không chỉ bó hệp trong phạm vi những người quản lý doanh
nghiệp, quản lý Nhà nước (như các cơ quan chủ quản, cơ quan thuế, cơ quan
tài chính... ) với mục đích kiểm tra, giám sát đơn vị mà các đối tượng sử dụng
thông tin tài chính trở nên rộng rãi hơn. Tuy nhiên, mỗi đối tượng sử dụng

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x