Tải bản đầy đủ

Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế kế toán quản trị (614)

Luận văn tốt nghiệp

1

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, cùng với sự đổi mới của nền kinh tế thị trường cùng với sự cạnh
tranh ngày càng quyết liệt giữa các thành phần kinh tế đã gây ra không ít khó khăn
và đầy thử thách cho các doanh nghiệp. Chính vì thế, mục tiêu hoạt động của các
doanh nghiệp là luôn luôn tối đa hóa lợi nhuận hay gia tăng giá trị của doanh
nghiệp. Để đạt được, các nhà doanh nghiệp và các bên có liên quan đến doanh
nghiệp đều muốn biết tình tài chính của doanh nghiệp đó về cơ cấu vốn, khả năng
sinh lời, khả năng thanh toán … Quá trình phân tích tài chính sẽ giúp cho nhà đầu
tư đánh giá tổng quan tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó có thể so sánh về
rủi ro và khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Mỗi một khả năng sinh lời đều có đi kèm theo một mức độ rủi ro nhất định.
Thông thường mức sinh lời cao có thể sẽ có mức độ rủi ro cao. Chính vì thế, việc
đánh giá khả năng tài chính của một doanh nghiệp đều phải đánh giá và phân tích

trên hai khía cạnh này. Nguyên tắc lựa chọn là hài hòa mức sinh lời và rủi ro trong
khả năng chịu đựng rủi ro của mình. Nếu khả năng chịu đựng rủi ro cao thì có thể
chọn những doanh nghiệp có khả năng mang lại lợi nhuận cao trong tương lai và
ngược lại.
Từ quan điểm trên, tài liệu chủ yếu dùng để phân tích tình hình tài chính
doanh nghiệp là bảng Báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính là các chứng từ cần thiết
trong kinh doanh. Các nhà quản lý sử dụng chúng để đánh giá năng lực thực hiện và
xác định các lĩnh vực cần thiết phải được can thiệp. Các nhà cổ đông sử dụng chúng
để theo dõi tình hình vốn đầu tư của mình đang được quản lý như thế nào. Các nhà
đầu tư bên ngoài dùng chúng để xác định cơ hội đầu tư. Còn người cho vay và nhà
cung ứng lại thường xuyên kiểm tra báo cáo tài chính để xác định khả năng thanh
toán của những doanh nghiệp mà họ đang giao dịch.
Báo cáo tài chính gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập và báo cáo lưu
chuyển tiền tệ cho phép so sánh việc kinh doanh các năm hoạt động liền kề của
doanh nghiệp hoặc so sánh giữa doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác.

SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

2

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tài chính thông qua hệ
thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp, tôi đã chọn đề tài: “Phân tích tình hình
tài chính của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Phú Hưng Gia” cho luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu là nêu rõ thực trạng tài chính tại doanh nghiệp, từ đó chỉ
ra những điểm mạnh hay những điểm yếu của doanh nghiệp. Đồng thời giúp doanh
nghiệp nhìn thấy được khả năng tình hình tài chính của mình có sự biến động lớn
hoặc nhỏ để đưa ra những biện pháp giải quyết khắc phục thích hợp.
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Thu thập các dữ liệu, số liệu từ công ty.
- Thu thập từ các tài liệu từ sách báo, website
- Phương pháp được dùng phân tích số liệu: Chủ yếu sử dụng phương pháp so


sánh, ngoài ra còn dùng các phương khác như phương pháp số chênh lệch, phương
pháp thay thế liên hoàn và phương pháp liên hệ cân đối.
4. Phạm vi ngiên cứu:
Giới thiệu khái quát và phân tích tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Đầu
tư Xây dựng Phú Hưng Gia từ năm 2007 đến 2009 và đưa ra biện pháp hoàn thiện
tình hình tài chính của công ty.
5. Giới thiệu kết cấu chuyên đề:
Kết cấu chuyên đề luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có các thành
phần chính như sau:
Chương I: Tổng quan về phân tích tình hình tài chính
Chương II: Giới thiệu khái quát về Công CP ĐT XD Phú Hưng Gia
Chương III: Phân tích tình hình tài chính tại Công ty CP ĐT XD Phú
Hưng Gia
Chương IV: Biện pháp hoàn thiện tình hình tài chính tại Công ty CP ĐT
XD Phú Hưng Gia
SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

3

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

Phụ lục:
-

Bảng cân đối kế toán

-

Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

-

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

-

Bảng thuyết minh báo cáo tài chính

Trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn, không tránh khỏi những
thiếu sót, lập luận chưa thấu đáo, kinh nghiệm thực tế chưa thông còn mang nặng
tính lý thuyết. Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành
của Qúy Thầy Cô để thực hiện luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

4

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
1.1. Khái niệm về phân tích báo cáo tài chính:
1.1.1. Khái niệm báo cáo tài chính:
Báo cáo tài chính là các chứng từ cần thiết trong kinh doanh. Các nhà quản lý
sử dụng chúng để đánh giá năng lực thực hiện và xác định các lĩnh vực cần thiết
phải được can thiệp. Các cổ đông sử dụng chúng để theo dõi tình hình vốn đầu tư
của mình đang được quản lý như thế nào. Các nhà đầu tư bên ngoài dùng chúng để
xác định cơ hội đầu tư. Còn người cho vay và nhà cung ứng lại thường xuyên kiểm
tra báo cáo tài chính để xác định khả năng thanh toán của những công ty mà họ
đang giao dịch.
Theo quyết định số 15/2006 QĐ/BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ
trưởng Bộ tài chính về ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp, hệ thống báo cáo tài
chính của doanh nghiệp, bao gồm 4 loại báo cáo sau đây:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Bảng thuyết minh báo cáo tài chính
1.1.2. Khái niệm về phân tích báo cáo tài chính:
Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp không phải chỉ cung cấp những
thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp nhằm giúp họ đánh giá khách quan về
sức mạnh tài chính của doanh nghiệp, khả năng sinh lời và triển vọng phát triển sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn cung cấp cho các đối tượng sử dụng
thông tin ngoài doanh nghiệp, như: các nhà đầu tư, các nhà cho vay, các nhà cung
cấp, các chủ nợ, các cổ đông hiện tại và tương lai, các khách hàng, các nhà quản lý
cấp trên, các nhà bảo hiểm, người lao động và cả các nhà nghiên cứu, các sinh viên
kinh tế... Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp đã niêm yết trên thị trường chứng
khoán thì việc cung cấp những thông tin về tình hình tài chính một cách chính xác
và đầy đủ cho các nhà đầu tư là một vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, giúp họ
lựa chọn và ra các quyết định đầu tư có hiệu quả nhất.
SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

5

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

1.1.3. Nội dung báo cáo tài chính:
Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là một vấn đề rất quan trọng và có ý
nghĩa thiết thực đối với mọi đối tượng sử dụng thông tin, đặc biệt đối với các doanh
nghiệp đã niêm yết trên thị trường chứng khoán. Nội dung cơ bản khi tiến hành
phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp, đó là phân tích các chỉ tiêu trên từng báo
cáo tài chính và phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên các báo cáo tài chính
doanh nghiệp.
1.1.4. Phân tích các chỉ tiêu trên từng báo cáo tài chính:
Việc phân tích trên từng báo cáo tài chính, bao gồm các nội dung cơ bản sau
đây:
a. Phân tích ngang trên từng báo cáo tài chính để thấy rõ sự biến động về quy
mô của từng chỉ tiêu, kể cả số tuyệt đối và số tương đối.
b. So sánh dọc trên từng báo cáo tài chính (đặc biệt bảng cân đối kế toán) để
thấy rõ sự biến động về cơ cấu của từng chỉ tiêu trên từng báo cáo tài chính.
c. Phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên từng báo cáo tài chính nhằm
đánh giá sơ bộ về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Việc phân tích chi tiết trên từng báo cáo tài chính cho phép các đối tượng sử
dụng thông tin đánh giá cụ thể sự biến động của từng chỉ tiêu Kinh tế - Tài chính.
Trên cơ sở đó, có các giải pháp cụ thể để đẩy mạnh các hoạt động tài chính, thúc
đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát triển bền vững.
1.1.5. Phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên các báo cáo tài chính:
Việc phân tích mối liên hệ giữa các báo cáo tài chính nhằm rút ra các kết luận
về thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp là rất cần thiết. Phân tích mối
liên hệ giữa các chỉ tiêu trên các báo cáo tài chính doanh nghiệp là một nội dung
căn bản của phân tích báo cáo tài chính, nhằm cung cấp những thông tin đánh giá
thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Nội dung bao gồm những vấn đề sau đây:
-

Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp.

-

Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn ngắn hạn cho việc dự trữ tài sản
ngắn hạn của doanh nghiệp.

SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

-

6

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

Phân tích khả năng huy động vốn cho sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.

-

Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

-

Phân tích tình hình rủi ro tài chính của doanh nghiệp.

-

Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

-

Phân tích giá trị doanh nghiệp.

1.2. Ý nghĩa của việc phân tích báo cáo tài chính:
1.2.1. Sự cần thiết của việc phân tích báo cáo tài chính:
-

Báo cáo tài chính tóm tắt về tình hình tài chính và hiệu quả kinh doanh

vào cuối mỗi kỳ kế toán, không chỉ giúp nhận biết được hoạt động của doanh
nghiệp trong quá khứ mà còn chứa đựng những thông tin hướng dẫn về triển vọng
hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai.
-

Các báo cáo tài chính không biểu hiện mối quan hệ giữa các báo cáo hoặc

từng báo cáo tài chính cũng không biểu hiện các mối quan hệ giữa nhiều kỳ liên tiếp
nên không thể kết luận đúng bản chất hoạt động. Đồng thời, báo cáo tài chính cần
có thông tin so sánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp với những định mức hoặc
của doanh nghiệp khác nên cần phải thiết lập những hệ số, tỷ lệ…để nói lên ý nghĩa
các mối quan hệ có thể so sánh, đánh giá được bản chất của hoạt động.
+ Đối với các nhà đầu tư trong doanh nghiệp: Báo cáo tài chính giữ vai trò
quan rất quan trọng đối với các nhà đầu tư tài chính trong doanh nghiệp. Các cổ
đông sử dụng chúng để theo dõi tình hình vốn đầu tư của mình đang được quản lý
như thế nào. Còn các chuyên gia quản lý tài chính doanh nghiệp sẽ phân tích các số
liệu thu chi để nắm bắt được thực trạng hoạt động của doanh nghiệp. Từ đó sẽ đưa
ra các quyết định chính xác về các lĩnh vực cần thiết để can thiệp, các cơ hội đầu tư
kinh doanh mang lại thành công cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó là những ảnh
hưởng của các khoản nợ với việc cân bằng thu chi lâu dài và việc có khả năng phát
sinh sau khi vay tiền đầu tư.
+ Đối với nhà đầu tư ngoài doanh nghiệp: Đọc hiểu một báo cáo tài chính
của một hay nhiều doanh nghiệp để nắm rõ được tình hình thực tế nền tảng doanh
nghiệp, mức độ phát triển hoạt động hệ thống tài chính, khả năng thanh toán... Các
SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

7

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

nhà đầu tư ngoài doanh nghiệp lại quan tâm đến báo cáo tài chính ở khía cạnh khác
để xác định cơ hội đầu tư như là thực hiện dự án kinh doanh sản xuất hay đầu tư cổ
phiếu hoặc góp vốn vào doanh nghiệp đã chọn.
1.2.2. Ý nghĩa của việc phân tích báo cáo tài chính:
Phân tích báo cáo tài chính thường bao gồm việc nghiên cứu các mối quan hệ,
hay tỷ suất giữa các mục nêu trong các báo cáo tài chính. Những tỷ suất này giúp
mô tả tình trạng tài chính của một doanh nghiệp, năng suất hoạt động, khả năng sinh
lợi tương ứng, cũng như nhận thức của các nhà đầu tư được thể hiện thông qua hành
vi của doanh nghiệp trên thị trường tài chính. Các tỷ suất này cũng giúp chuyên
viên phân tích hoặc những người ra quyết định có khái niệm chung về nguồn gốc
của một doanh nghiệp, hiện trạng và tiềm năng trong tương lai của doanh nghiệp
đó. Qua đó, việc phân tích báo cáo tài chính giúp cho các đối tượng sử dụng có
thông tin cần thiết để đưa ra những quyết định đầu tư, cung ấp tín dụng, quản trị và
điều tiết doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc phân tích báo cáo tài chính có ý nghĩa
quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liên quan
đến tài chính của doanh nghiệp.
1.3. Phương pháp phân tích và các công cụ phân tích chủ yếu
1.3.1. Phương pháp phân tích:
Phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp thường sử dụng các phương
pháp phân tích sau đây:
1.3.1.1. Phương pháp phân tích tỷ lệ:

Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính vì nó dựa
trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính.
Phương pháp tỷ lệ giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và
phân tích một cách có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng
giai đoạn. Qua đó nguồn thông tin kinh tế và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ
hơn. Từ đó cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ
như:
+ Tỷ lệ về khả năng thanh toán : Được sử dụng đểđánh giá khả năng đáp ứng các
khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.

SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

8

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

+ Tỷ lệ và khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: Qua chỉ tiêu này phản
ánh mức độổn định và tự chủ tài chính.
+ Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh : Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho
việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp.
+ Tỷ lệ về khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp
nhất của doanh nghiệp.
1.3.1.2. Phương pháp phân tích so sánh:
- So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định xu
hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Vì vậy để tiến hành so sánh phải giải
quyết những vấn đề cơ bản, cần phải đảm bảo các điều kiện đồng bộ để có thể so sánh
được các chỉ tiêu tài chính. Như sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất
và đơn vị tính toán. Đồng thời theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh.
- Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu số gốc để so
sánh là trị số của chỉ tiêu kỳ trước (nghĩa là năm nay so với năm trước) và có thể được lựa
chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân.
- Kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo, kỳ kế hoạch.
- Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian.
Trên cơ sở đó, nội dung của phương pháp so sánh bao gồm:
+ So sánh kỳ thực hiện này với kỳ thực hiện trước để đánh giá sự tăng hay giảm
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó có nhận xét về xu hướng thay đổi
về tài chính của doanh nghiệp.
+ So sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch, số liệu của doanh nghiệp với số
liệu trung bình của ngành, của doanh nghiệp khác để thấy mức độ phấn đấu của doanh
nghiệp được hay chưa được.
+ So sánh theo chiều dọc để xem tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so
sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự thay đổi về lượng và về tỷ lệ của các
khoản mục theo thời gian.
1.3.1.3. Phương pháp phân tích thay thế liên hoàn (loại trừ):
- Sử dụng để xác định mức ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu
phân tích.
- Nguyên tắc thực hiện:

SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

9

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

 Sắp xếp thứ tự các nhân tố của chỉ tiêu theo trình tự nhân tố số lượng đến nhân
tố chất lượng (từ trái sang phải). theo qui luật “lượng biến đổi dẫn đến chất biến đổi”.

 Xác định ảnh hưởng lần lượt từng nhân tố theo trình tự trên.
 Xác định ảnh hưởng của một nhân tố thì phải cố định trị số các nhân tố còn lại:
+ Nhân tố chưa được xác định ảnh hưởng của nó đến chỉ tiêu phân tích thì cố định
theo trị số gốc.
+ Nhân tố đã được xác định ảnh hưởng của nó đến chỉ tiêu phân tích thì cố định
theo trị số thực tế.
1.3.1.4. Phương pháp phân tích số chênh lệch:
Phương pháp phân tích số chênh lệch là hình thức rút gọn của phương pháp thay thế
liên hoàn khi xác định mức ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích.
1.3.1.5. Phương pháp phân tích liên hệ cân đối:
- Là phương pháp mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế mà giữa chúng tồn tại
mối quan hệ cân bằng hoặc phải tồn tại sự cân bằng.
- Phương pháp cân đối thường kết hợp với phương pháp so sánh để giúp người phân
tích có được đánh giá toàn diện về tình hình tài chính.
- Phương pháp cân đối là cơ sở sự cân bằng về lượng giữa tổng số tài sản và tổng số
nguồn vốn, giữa nguồn thu, huy động và tình hình sử dụng các loại tài sản trong doanh
nghiệp. Do đó sự cân bằng về lượng dẫn đến sự cân bằng về sức biến động về lượng giữa
các yếu tố và quá trình kinh doanh.

1.3.2 Công cụ phân tích chủ yếu:
Hiện nay, công cụ thường được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính là
phân tích tỷ lệ. Việc sử dụng các tỷ lệ cho phép người phân tích đưa ra một tập hợp
các con số thống kê để vạch rõ những đặc điểm chủ yếu về tài chính của một số tổ
chức đang được xem xét. Trong phần lớn các trường hợp, các tỷ lệ được sử dụng
theo hai phương pháp chính. Thứ nhất, các tỷ lệ cho tổ chức đang xét sẽ được so
sánh với các tiêu chuẩn của ngành. Có thể có những tiêu chuẩn của ngành này thông
qua các dịch vụ thương mại như của tổ chức Dun and Bradstreet hoặc Robert
Morris Associates, hoặc thông qua các hiệp hội thương mại trong trường hợp không
có sẵn, các tiêu chuẩn ngành cho ngành đã biết hoặc do tổ chức mà ta đang xem xét
SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

10

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

không thể dễ dàng gộp lại được thành một loại hình ngành “tiêu chuẩn”. Các nhà
phân tích có thể đưa ra một tiêu chuẩn riêng của họ bằng cách tính toán các tỷ lệ
trung bình cho các công ty chủ đạo trong cùng một ngành. Cho dù nguồn gốc của
các tỷ lệ là như thế nào cũng đều cần phải thận trọng trong việc so sánh công ty
đang phân tích với các tiêu chuẩn được đưa ra cho các công ty trong cùng một
ngành và có quy mô tài sản xấp xỉ.
1.4. Nội dung phân tích tình hình tài chính:
1.4.1. Phân tích tổng quát các báo cáo tài chính:
1.4.1.1. Phân tích bảng cân đối kế toán:
Bảng cân đối kế toán là một phương pháp kế toán và là một báo cáo kế toán
chủ yếu phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo hai cách phân
loại là kết cấu vốn và nguồn hình thành vốn hiện có của một doanh nghiệp tại một
thời điểm nhất định. Bảng cân đối kế toán là bức tranh toàn cảnh về tình hình tài
chính của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Vì vậy, bảng cân đối kế toán của
doanh nghiệp được nhiều đối tượng quan tâm. Mỗi đối tượng quan tâm với một mục
đích khác nhau. Vì thế, việc nhìn nhận, phân tích bảng cân đối kế toán đối với mỗi
đối tượng cũng có những nét riêng. Tuy nhiên, để đưa ra quyết định hợp lý, phù hợp
với mục đích của mình, các đối tượng cần xem xét tất cả những gì có thể thông qua
bảng cân đối kế toán để định hướng cho việc nghiên cứu, phân tích tiếp theo. Bảng
cân đối kế toán được kết cấu dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán và
được sắp xếp theo trật tự phù hợp với yêu cầu quản lý. Để làm được việc đó, khi
phân tích bảng cân đối kế toán cần xem xét, xác định và nghiên cứu các vấn đề cơ
bản sau:
- Thứ nhất: Xem xét sự biến động của tổng tài sản cũng như từng loại tài sản
thông qua việc so sánh giữa cuối kỳ với đầu năm cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối
của tổng số tài sản cũng như chi tiết đối với từng loại tài sản. Qua đó thấy được sự
biến động về quy mô kinh doanh, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.
- Thứ hai: Xem xét sự hợp lý cơ cấu vốn (vốn được phân bổ cho từng loại),
ảnh hưởng của cơ cấu vốn tác động nhanh đến quá trình kinh doanh. Thông qua
việc xác định tỷ trọng của từng loại tài sản trong tổng tài sản đồng thời so sánh tỷ
trọng từng loại giữa cuối kỳ với đầu năm để thấy sự biến động của cơ cấu vốn. Kết
SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

11

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

hợp với việc xem xét tác động của từng loại tài sản đến quá trình kinh doanh và
hiệu quả kinh doanh đạt được trong kỳ. Có như vậy mới đưa ra được quyết định hợp
lý về việc phân bổ vốn cho từng giai đoạn, từng loại tài sản của doanh nghiệp.
- Thứ ba: Khái quát xác định mức độ đối lập về mặt tài chính của doanh
nghiệp qua việc so sánh từng loại nguồn vốn giữa cuối kỳ với đầu năm cả về số
tuyệt đối lẫn tương đối, xác định và so sánh giữa cuối kỳ với đầu năm về tỷ trọng
từng loại nguồn vốn trong tổng nguồn vốn. Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ
trọng cao và có xu hướng tăng thì điều đó cho thấy khả năng tự đảm bảo về mặt tài
chính của doanh nghiệp là cao, mức độ phụ thuộc về mặt tài chính đối với các chủ
nợ thấp và ngược lại.
- Thứ tư: Xem xét mối quan hệ cân đối giữa các chỉ tiêu, các khoản mục trên
bảng cân đối kế toán. Cụ thể là nguồn vốn chủ sở hữu (nguồn vốn) = Tiền đầu tư tài
chính ngắn hạn, hàng tồn kho, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, chi phí sự
nghiệp + Tài sản cố định, đầu tư tài chính dài hạn, chi phí xây dựng cơ bản dở dang.
- Thứ năm: Xem xét trong năm doanh nghiệp đã có những khoản đầu tư nào
vào mua sắm được tài sản, doanh nghiệp đang gặp khó khăn hay phát triển thông
qua việc phân tích tình hình khai thác và sử dụng nguồn tài trợ vốn trong năm.
1.4.1.2. Phân tích bảng kết quả kinh doanh:
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tình hình
và kết quả hoạt động kinh doanh cũng như tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa
vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước trong một kỳ kế toán.Thông qua các chỉ tiêu
trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có thể kiểm tra, phân tích, đánh giá tình
hình thực hiện kế hoạch, dự toán chi phí sản xuất, giá vốn, doanh thu sản phẩm vật
tư hàng hóa đã tiêu thụ, tình hình chi phí, thu nhập của hoạt động khác và kết quả
kinh doanh sau một kỳ kế toán.Thông qua số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh
để kiểm tra tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà
nước và các khoản thuế và các khoản phải nộp khác.Thông qua báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh để đánh giá xu hướng phát triển của doanh nghiệp qua các kỳ
khác nhau.
Khi phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cần xem xét, xác định các
vấn đề cơ bản sau:
SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

-

12

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

Thứ nhất: Xem xét sự biến động của từng chỉ tiêu trên phần lãi, lỗ giữa kỳ này

với kỳ trước. So sánh cả về số tuyệt đối và tương đối trên từng chỉ tiêu giữa kỳ này
với kỳ trước. Điều này sẽ có tác dụng rất lớn nếu đi sâu xem xét những nguyên
nhân ảnh hưởng đến sự biến động của từng chỉ tiêu.
-

Thứ hai: Tính toán và phân tích các chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng các

khoản chi phí, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh
mức độ sử dụng chi phí gồm:
+ Tỷ lệ giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần
+ Tỷ lệ chi phí bán hàng trên doanh thu thuần
+ Tỷ lệ chi phí quản lý doanh nghiệp trên doanh thu thuần
Ngoài các chỉ tiêu thể hiện ngay trong báo cáo kết quả kinh doanh như: tổng
doanh thu, doanh thu thuần, lợi nhuận gộp, lợi nhuận thuần, lợi nhuận sau thuế cần
tính toán và phân tích các chỉ tiêu sau:
+ Tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu thuần
+ Tỷ suất lợi nhuận thuần trên doanh thu
+ Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần
Thực chất của việc tính toán nhóm các chỉ tiêu trên là việc xác định tỷ lệ
từng chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh so với tổng thể là doanh thu thuần. Có
nghĩa là tổng doanh thu thuần làm tổng thể quy mô chung, còn những chỉ tiêu khác
trên báo cáo kết quả kinh doanh là tỷ trọng từng phần trong quy mô chung đó.
1.4.1.3. Phân tích bảng lưu chuyển tiền tệ:
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong các báo cáo tài chính mà các doanh
nghiệp phải lập để cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng. Báo cáo lưu
chuyển tiền tệ đã trở thành báo cáo bắt buộc phải lập để cung cấp thông tin. Các vấn
đề pháp lý liên quan đến báo cáo lưu chuyển tiền tệ đã được quy định trong luật kế
toán, chuẩn mực kế toán (Chuẩn mực số 24) và thông tư hướng dẫn thực hiện
(Thông tư 105/2003-TT-BTC ngày 04.11.2003). Báo cáo lưu chuyển tiền tệ chính là
một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát
sinh trong kỳ. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ thực chất là một báo cáo cung cấp thông
tin về những sự kiện và nghiệp vụ kinh tế có ảnh hưởng đến tình hình tiền tệ của
một doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Cụ thể là những thông tin về:
SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

13

GVHD: ThS. Lê Đình Thái



Doanh nghiệp làm cách nào để kiểm soát được tiền và việc chi tiêu.



Quá trình đi vay và trả nợ vay của doanh nghiệp.



Quá trình mua và bán lại chứng khoán vốn của doanh nghiệp.



Quá trình thanh toán cổ tức và các quá trình phân phối khác cho các

cổ đông.


Những nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tạo ra tiền và

khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Bảng lưu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin liên quan ba hoạt động chính tạo ra
và sử dụng tiền là: hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động
đầu tư. Các dòng tiền trong bảng lưu chuyển tiền tệ được chia thành 3 loại:
• Thứ 1: Dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh: Là các dòng tiền
ra và vào trực tiếp liên quan đến thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh
được ghi nhận trên bảng thu nhập.
• Thứ 2: Dòng tiền từ hoạt động đầu tư: Là các dòng tiền vào ra liên
quan đến việc mua và thanh lí các tài sản sản xuất kinh doanh do công ty sử
dụng hoặc đầu tư vào các chứng khoán của công ty khác.
Dòng tiền ra phản ánh các khoản đầu tư tiền mặt toàn bộ để có được các
tài sản này. dòng tiền vào chỉ được ghi nhận khi nhận được tiền từ việc thanh
lý các tài sản đầu tư trước. Chênh lệch giữa dòng tiền ra và vào từ hoạt động
đầu tư gọi là lưu chuyển thuần từ hoạt động đầu tư.
• Thứ 3: Dòng tiền từ hoạt động tài chính: Bao gồm dòng tiền ra và vào
liên quan đến các nghiệp vụ tiền tệ với các chủ thể ngoài doanh nghiệp ( từ các
chủ sở hữu và chủ nợ ) tài trợ cho doanh nghiệp và các hoạt động của doanh
nghiệp. Dòng tiền vào ghi nhận các hoạt động tài chính nhận tiền từ chủ sở
hữu vốn và chủ nợ. Dòng tiền ra ngược lại. Số chênh lệch dòng tiền ra và vào
từ hoạt động tài chính gọi là lưu chuyển thuần từ hoạt động tài chính.
Việc phát triển lâu dài của doanh nghiệp thường được tài trợ từ ba nguồn
chính trên. Các nguồn lực tài chính được sử dụng là một nhân tố quan trọng ảnh
hưởng đến độ rủi ro và khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Các thông tin trên có thể
giúp đánh giá cấu trúc vốn và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp.

SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

14

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

Như vậy việc phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ giúp kiểm tra tính trung
thực của tất cả các thông tin rút ra từ việc đánh giá các tỷ suất và vốn lưu động, về
tình trạng tiền mặt, khả năng thanh toán của công ty.
1.4.2. Phân tích các tỷ số tài chính:
Việc phân tích hệ số giúp ta thấy được điều kiện tài chính chung của một công ty.
Nó giúp các nhà phân tích và các nhà đầu tư xác định liệu một công ty có đang
trong tình trạng rủi ro mất khả năng thanh toán hay không và công ty này có làm ăn
tốt không khi so với các công ty cùng ngành hoặc đối thủ cạnh tranh. Các nhà đầu
tư nhìn vào các hệ số để đánh giá hoạt động và sự tăng trưởng của một công ty. Như
vậy, các hệ số tài chính tồi thường dẫn đến mức chi phí tài trợ cao hơn, trong khi
các hệ số tốt luôn có nghĩa là các nhà đầu tư mong muốn cấp vốn cho công ty với
chi phí rẻ hơn. Các ngân hàng cũng sử dụng các hệ số để xác đình xem có thể cho
một công ty hưởng mức tín dụng là bao nhiêu.
Các chủ nợ thường lo ngại khi một công ty không có đủ thu nhập để thanh
toán các khoản trả lãi định kỳ tính trên nợ hiện hành. Các chủ nợ cũng lo ngại về
các công ty mắc nợ trầm trọng, vì xu hướng đi xuống trong hoạt động kinh doanh
có thể dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán. Các nhà phân tích chứng khoán
thường giám sát các hệ số tài chính khác nhau của nhiều công ty mà họ quan tâm
bằng cách sử dụng một bảng hệ số. Bằng việc phân tích này, họ có thể tìm ra các
điểm mạnh và yếu trong các công ty khác nhau.
Những nhà quản lý sử dụng các hệ số tài chính để giám sát hoạt động kinh
doanh, nhằm bảo đảm rằng các công ty của họ sử dụng hiệu quả các nguồn vốn sẵn
có, và tránh lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Mục đích là xem tình trạng
tài chính và hoạt động của một công ty có được củng cố không và liệu các hệ số nói
chung của nó tốt hơn hay tồi tệ hơn so với các hệ số của các đối thủ cạnh tranh. Khi
các hệ số này thụt xuống dưới các chuẩn mực nhất định, nhà quản lý có trách nhiệm
phải khôi phục lại sự kiểm soát trước khi các vấn đề nghiêm trọng phát sinh.
Mỗi hệ số là một biểu thức toán học đơn giản thể hiện mối quan hệ của một
mục này so với mục khác. Các hệ số có thể được trình bày bằng nhiều cách khác
nhau. Để tính được một hệ số có giá trị, giữa các mục phải có một mối quan hệ đáng
SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

15

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

kể. Mỗi hệ số liên quan đến một mối quan hệ, song muốn giải thích đầy đủ hệ số đó
cần phải xem xét thêm các thông tin khác. Sử dụng các hệ số là công cụ giúp cho
việc phân tích và diễn giải, song chúng không thể thay thế cho việc suy luận hợp
logic. Các hệ số thường được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính là:
-

Các hệ số về khả năng thanh toán

-

Các hệ số hoạt động

-

Các hệ số nợ

-

Các hệ số về khả năng sinh lời

1.4.2.1. Các hệ số về khả năng thanh toán
Về cơ bản, các hệ số về khả năng thanh toán thử nghiệm mức độ thanh toán
của một công ty. Hai hệ số thông dụng được sử dụng để xác định khả năng thanh
toán của một công ty bao gồm hệ số khả năng thanh toán hiện tại tỷ lệ tài sản trên
nợ và hệ số khả năng thanh toán nhanh hay còn gọi là hệ số thử axit.
a. Hệ số khả năng thanh toán hiện tại:
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại là mối tương quan giữa tài sản lưu động và
các khoản nợ ngắn hạn.
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại = Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại không phản ánh được tính linh hoạt của
một doanh nghiệp. Hiển nhiên là một công ty có dự trữ tiền mặt lớn và các chứng
khoán khả mại sẽ có khả năng thanh toán lớn hơn một công ty có mức hàng tồn kho
lớn. Một hệ số được thiết lập chi tiết hơn khi xem xét vấn đề cơ cấu tài sản có thể
loại bỏ được những thành tố kém tính thanh khoản nhất trong tài sản lưu động chính
là hệ số khả năng thanh toán nhanh.
b. Hệ số khả năng thanh toán nhanh.
Bằng cách loại bỏ giá trị không chắc chắn của hàng trong kho và tập trung vào
những tài sản có khả năng chuyển đổi dễ dàng, hệ số khả năng thanh toán nhanh
được thiết lập nhằm xác định khả năng đáp ứng nhu cầu trả nợ của công ty trong
trường hợp doanh số bán tụt xuống một cách bất lợi.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tài sản lưu động – Hàng dự trữ/Nợ ngắn hạn
SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

16

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

1.4.2.2. Các hệ số về đòn cân nợ:
Phản ánh tình trạng nợ hiện thời của công ty, có tác động đến nguồn vốn hoạt
động và luồng thu nhập thông qua chi trả vốn vay và lãi suất khi đáo hạn. Tình trạng
nợ của công ty được thể hiện qua các hệ số: hệ số nợ; hệ số thu nhập trả lãi định kỳ;
hệ số trang trải chung.
Hệ số nợ hay tỷ lệ nợ trên tài sản cho biết phần trăm tổng tài sản được tài trợ
bằng nợ. Hệ số nợ càng thấp thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính càng ít và ngược lại hệ
số nợ càng cao thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính càng cao.
Hệ số nợ = Tổng số nợ/Tổng tài sản
Hệ số nợ được phản ánh thông qua hệ số nợ trên vốn cổ phần (D/E) và hệ số
nợ dài hạn trên tổng tài sản (LD/TA). Hệ số nợ trên vốn cổ phần biểu thị tương quan
giữa nợ dài hạn và vốn cổ phần. Mức cao thấp của hệ số này phụ thuộc vào từng
lĩnh vực kinh tế khác nhau.
Hệ số nợ trên vốn cổ phần (D/E)= (Nợ dài hạn + Giá trị tài sản đi thuê)/ Vốn cổ
phần.
Hệ số nợ dài hạn trên tổng tài sản (LD/TA) so sánh tương quan nợ với tổng tài
sản của một công ty, và có thể cho biết những thông tin hữu ích về mức độ tài trợ
cho tài sản bằng nợ dài hạn của một công ty, hệ số này có thể dùng để đánh giá hiệu
ứng đòn bẩy tài chính của một công ty.
Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ. Việc tìm xem một công ty có thể thực hiện trả
lãi đến mức độ nào cũng rất quan trọng, và người ta đã sử dụng hệ số thu nhập trả
lãi định kỳ. Hệ số này đánh giá khả năng sử dụng thu nhập hoạt động (thu nhập
trước thuế và lãi- EBIT) để trả lãi của một công ty, hệ số này cho biết công ty có
khả năng đáp ứng được các nghĩa vụ trả nợ lãi đến mức nào, thông thường hệ số thu
nhập trả lãi định kỳ càng cao thì khả năng thanh toán lãi của công ty cho các chủ nợ
càng lớn.
Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ = EBIT/ Chi phí trả lãi hàng năm.
1.4.2.3 Các tỷ số hoạt động:
a. Số vòng quay hàng tồn kho: Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng
hoá tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ.
SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

17

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán / Hàng tồn kho bình quân
Trong đó:
Hàng tồn kho bình quân = (Hàng tồn kho đầu kỳ + Hàng tồn kho cuối kỳ)/2
b. Số ngày một vòng quay hàng tồn kho: Số ngày một vòng quay hàng tồn kho
phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho.
Số ngày 1 vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán / Hàng tồn kho bình quân
c. Vòng quay các khoản phải thu: Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc
độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp.
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần / Số dư bình quân các khoản
phải thu
Trong đó:
Số dư bình quân các khoản phải thu = (Số dư các khoản phải + Số dư các khoản
phải thu cuối kỳ)/2
d. Kỳ thu tiền trung bình: Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để
thu được các khoản phải thu.
Kỳ thu tiền trung bình = 360 ngày /Vòng quay các khoản phải thu
e. Vòng quay vốn lưu động: Vòng quay vốn lưu động phản ánh trong kỳ vốn lưu
động quay được mấy vòng.
Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần / Vốn lưu động bình quân
Trong đó:
Vốn lưu động bình quân = (VLĐ đầu kỳ + VLĐ cuối kỳ)/2
f. Số ngày một vòng quay vốn lưu động: Số ngày 1 vòng quay vốn lưu động
phản ánh trung bình một vòng quay vốn lưu động hết bao nhiêu ngày.
Số ngày 1 vòng quay vốn lưu động = 360 ngày / Số vòng quay vốn lưu động

SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

18

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

g. Hiệu xuất sử dụng vốn cố định: Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả sử dụng vốn
cố định của doanh nghiệp. Có nghĩa là cứ đầu tư trung bình 1 đồng vào vốn cốđịnh
thì tạo ra bao nhiêu đồng thanh toán.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định = Doanh thu thuần / Vốn cố định bình quân
Trong đó:
Vốn cố định bình quân = (VCĐđầu kỳ + VCĐ cuối kỳ)/2
h. Vòng quay toàn bộ vốn: Chỉ tiêu này phản ánh vốn của doanh nghiệp trong kỳ
quay được bao nhiêu vòng.
Vòng quay toàn bộ vốn = Doanh thu thuần / Vốn sản xuất bình quân
Trong đó:
Vốn sản xuất bình quân = (VSX đầu kỳ + VSX cuối kỳ)/ Hàng tồn kho bình quân
1.4.2.4 Các tỷ số doanh lợi:
a. Tỷ suất doanh lợi doanh thu: Tỷ suất này thể hiện trong 1 đồng doanh thu mà
doanh nghiệp thực hiện trong kỳ có mấy đồng lợi nhuận
Tỷ suất doanh lợi doanh thu = Lợi nhuận thuần/Doanh thu thuần
b. Tỷ suất doanh lợi tổng vốn: Đây là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lợi của
đồng vốn. Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng vốn bình quân trong kỳ tạo ra mấy đồng
lợi nhuận.
Tỷ suất doanh lợi tổng vốn = Lợi nhuận thuần /Vốn sản xuất bình quân
c. Doanh lợi vốn chủ sở hữu: Là chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện của mục
tiêu này. Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra mấy đồng lợi nhuận sau
thuế.
Doanh lợi vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận thuần /Vốn chủ sở hữu bình quân
Hoặc
Doanh lợi vốn chủ sở hữu = Doanh lợi tổng vốn /(1 - Hệ số nợ bình quân)
d. Tỷ suất lợi nhuận Vốn lưu động: Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng vốn lưu động
bình quân toạ ra mấy đồng lợi nhuận sau thuế.
SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

19

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động = Lợi nhuận thuần/ Vốn lưu động bình quân
e.Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định: Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng vốn cố định bình
quân tạo ra mấy đồng lợi nhuận sau thuế.
Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định = Lợi nhuận thuần / Vốn cố định bình quân
1.4.3. Phân tích tài chính Du Pont:
Bên cạnh đó, các nhà phân tích còn sử dụng phương pháp phân tích tài chính
DUPONT. Với phương pháp này, các nhà phân tích sẽ nhận biết được các nguyên
nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp. Bản chất
của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh
nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn của sở hữu
(ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân
quả với nhau. Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó với tỷ số tổng
hợp.

SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

20

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

CHƯƠNG 2 : GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG PHÚ HƯNG GIA
2.1. Lịch sử hình thành:
2.1.1. Thông tin tổng quan:
Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Phú Hưng Gia (Phú Hưng Gia), được
thành lập tháng 10 năm 2004, theo giấy phép đăng ký kinh doanh số 4103002810
do Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp. HCM cấp ngày 27/4/2004.
- Tên đầy đủ: Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Phú Hưng Gia
- Viết tắt : PHG
- Địa chỉ : 312 Nguyễn thượng Hiền, Phường 5, Quận Phú Nhuận
- Điện thoại : 08-5154485

Fax : 08-5154484

- Mã số thuế : 0303527596
- Vốn điều lệ: 100.000.000.000 đồng.
- Hình thức sở hữu vốn: Công ty cổ phần.
- Lĩnh vực kinh doanh: Xây dựng
2.1.2. Lịch sử hình thành :
- Công ty Phú Hưng Gia được thành lập tháng 10 năm 2004 với số vốn ban
đầu là 18 tỷ đồng. Mục đích của công ty là hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đầu
tư kinh doanh bất động sản. Ngay từ khi thành lập, công ty đã có một dự án để thực
hiện, đó là đầu tư xây dựng khu căn hộ cao cấp Botanic Towers tại 312 Nguyễn
Thượng Hiền, Phường 5, Quận Phú Nhuận. Sau khi được cấp phép xây dựng khu
căn hộ cao cấp trên, tháng 12 năm 2005 công ty đã chính thức khởi công dự án trên.

- Năm 2006, công ty đã triển khai kinh doanh căn hộ Botanic Towers.
Tại thời điểm này, thị trường địa ốc gần như “đóng băng”, nhưng bằng những
kinh nghiệm, năng lực và sự đồng thuận cao của Hội đồng Quản trị và toàn

SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

21

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

thể cán bộ công nhân viên công ty, việc thực hiện dự án vẫn đạt kết quả tốt
đẹp.
- Bộ máy quản lý của công ty cũng được hình thành và phát triển cùng sự
lớn mạnh của công ty. Đến nay, công ty đã có đầy đủ đội ngũ quản lý và cán
bộ công nhân viên đủ về chất lượng cũng như số lượng để hoạt động đạt kết
quả tốt nhất cho sự phát triển của công ty.
2.2 Chức năng nhiệm vụ:
- Xây dựng dân dụng và công nghiệp. Tư vấn xây dựng (trừ kinh doanh thiết
kế công trình). Giám sát thi công. Quản lý dự án. Sửa chữa nhà và trang trí nội thất.
- Hoạt động thiết kế chuyên dụng (trừ thiết kế xây dựng). Thiết kế kiến trúc
công trình dân dụng – công nghiệp. Thiết kế xây dựng công trình dân dụng – công
nghiệp. Thiết kế xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị;
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu dân cư. Môi giới bất động sản. Mua bán
và cho thuê nhà ở. Dịch vụ quản lý chung cư và cao ốc văn phòng. Dịch vụ trông
giữ xe. Dịch vụ định giá, sàn giao dịch bất động sản. Kinh doanh bất động sản;
- Mua bán vật liệu xây dựng. Đại lý ký gửi hàng hóa;
Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Phú Hưng Gia là công ty xây dựng chuyên
nghiệp, chuyên thực hiện dự án cho các khách hàng trong và ngoài nước. Phú Hưng
Gia hoạt trong các lĩnh vực đầu tư dự án, kinh doanh bất động sản, kinh doanh vật
liệu xây dựng, thiết kế và thi công các công trình dân dụng và công nghiệp.
Phú Hưng Gia hoạt động theo hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001-2008
được chứng nhận bởi tổ chức đánh giá TUV.
2.3 Tổ chức bộ máy quản lý:
2.3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý

SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

22

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức nhân sự

Hội Đồng
Hội
Đồng
Quản
Trị
Quản Trị

Tổng
Tổng Đốc
Giám
Giám Đốc

Ban
Ban
Kiểm Soát
Kiểm Soát

Phó Tổng
Phó Tổng
Giám Đốc
Giám Đốc

Phòng Tài
Phòng
Tài
Chính
Chính

Phòng
Phòng& PT
TKKT
TKKT
PT
Dự&án
Dự án

Phòng Pháp
Phòngchế
Pháp
chế

Phòng KD &
Phòng
KD
&
Tiếp
Thị
Tiếp Thị

Phòng Hành
Phòng
Hành
chánh
– NS
chánh – NS

Ban Quản Lý
BanTòa
Quản

Nhà
Tòa Nhà

Tổng số Cán bộ Công Nhân Viên : 69 người
 Hội đồng quản trị

: 6 thành viên

 Ban Kiểm soát

: 3 thành viên

 Ban Giám đốc

: 2 thành viên

 Phòng tài chính

: 4 thành viên

 Phòng Thiết kế Kỹ thuật & Phát triển dự án

: 6 thành viên

 Phòng Pháp chế

: 1 thành viên

 Phòng Hành chánh – Nhân sự

: 4 thành viên

 Phòng Kinh doanh & Tiếp thị

: 5 thành viên

 Ban quản lý Tòa nhà

: 12 thành viên

 Bảo vệ Tòa nhà

: 26 thành viên

2.3.2. Chức năng, nhiệm vụ từng bộ phận:
2.3.2.1. Trách nhiệm và quyền hạn của Ban Giám đốc:
SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

23

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

• Bà Lê Thuý Hương:
- Chức danh: Tổng Giám đốc
- Trách nhiệm:
Điều hành trực tiếp hoạt động của Phòng Kế toán - Tài chính, Phòng Thiết
kế Kỹ thuật - Phát triển dự án, Phòng Pháp chế.
Chịu trách nhiệm với Hội đồng Quản trị kết quả kinh doanh và các mặt
hoạt động của toàn Công ty.
Chịu trách nhiệm về tính pháp nhân của Công ty; đề ra các chủ trương,
hoạt động, chiến lược phát triển Công ty và phê duyệt các chính sách công
ty.
Phụ trách việc đối ngoại và quan hệ chính quyền, ban ngành chức năng và
khách hàng (khi cần).
Phê duyệt và ký kết các giấy tờ, hợp đồng với đối tác, khách hàng; các
chứng từ kế toán; các ủy nhiệm chi…
Bàn bạc, trao đổi và giải quyết công việc với Phó Tổng Giám Đốc và là
người ra quyết định cuối cùng.
-

Quyền hạn:
Được toàn quyền quyết định các họat động của doanh nghiệp và định
hướng phát triển Công ty.

• Bà Trần thu Hoà:
- Chức danh: Phó Tổng Giám đốc:
- Trách nhiệm:
Điều hành trực tiếp hoạt động của Phòng Kinh doanh, Phòng Hành chính
Nhân sự, Ban Quản Lý tòa nhà.
Chịu trách nhiệm với Tổng Giám Đốc hoạt động của các Phòng Ban phụ
trách.
Quản lý và điều hành các hoạt động của Công ty trong trường hợp Tổng
Giám đốc vắng mặt.
Kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách tại công ty do Tổng
Giám Đốc đề ra.
Phát triển nguồn khách hàng, phát triển thị trường.
SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

24

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

Chịu trách nhiệm ký duyệt các quyết định tuyển dụng, gia hạn, bổ nhiệm,
tăng lương, điều động… và các loại giấy tờ khác theo phạm vi được ủy
quyền từ Tổng Giám đốc.
Ký duyệt các đề nghị chi thuộc phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của Phó
Tổng Giám Đốc.
Lưu trữ các hồ sơ/giấy tờ pháp lý quan trọng của Công ty và các dự án.
Thực hiện các nhiệm vụ theo sự phân công của Tổng Giám đốc và báo cáo
kết quả thực hiện.
- Quyền hạn:
Được toàn quyền quyết định các họat động thuộc phạm vi trách nhiệm
được giao.
2.3.2.2. Trách nhiệm và quyền hạn của các phòng ban:
• Phòng Kỹ Thuật và Phát triển dự án:
- Trách nhiệm:
Chịu trách nhiệm với Ban Giám Đốc về công tác xây dựng các công trình theo
các qui định của Nhà Nước về lĩnh vực xây dựng, cụ thể :
Tư vấn cho Ban Giám Đốc tổ chức đấu thầu hay tuyển chọn nhà thầu, các
tổ chức thi công, giám sát công trình có chức năng và kinh nghiệm.
Theo dõi, giám sát tiến độ thi công và thực hiện các nội dung trong dự án.
Lập các phương án đầu tư và thực hiện thi công cho các dự án do BGĐ chỉ
đạo.
Đại diện Ban Giám Đốc làm việc với các nhà thầu, tư vấn và các bên liên
quan để giải quyết các vấn đề về mặt kỹ thuật của công trình.
Kiểm tra chất lượng các loại vật liệu, các cấu kiện xây dựng, thiết bị lắp
đặt theo yêu cầu của thiết kế và tiêu chuẩn được duyệt.
Chuẩn bị các hồ sơ nghiệm thu thanh quyết toán, bàn giao và thực hiện
bảo hành sản phẩm.
Lập kế hoạch hoặc phương án sửa chữa, nâng cấp, cải tạo các công trình
của Công ty khi cần thiết.
Lập tiến độ dự án đầu tư,tiến độ công việc.
SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Luận văn tốt nghiệp

25

GVHD: ThS. Lê Đình Thái

Thay mặt công ty thương thảo ,làm việc với các nhà thầu,tư vấn ,các bên
liên quan khác về mặt kỹ thuật nhằm thúc đẩy tiến độ dự án đầu tư.
Tham gia giám sát việc thực hiện dự án đầu tư của công ty (chất lượng,
tiến độ, khối lượng , an tòan lao động…..)
Báo cáo trực tiếp Ban Giám Đốc công ty về kết quả công việc và đề ra
phương hướng cho những họat động sắp tới
Thực hiện các công việc khác theo yêu cầu của Ban Giám Đốc.
Công tác phối hợp với các Phòng ban khác:


Phối hợp với Phòng Kế toán trong việc thẩm định các phương án kinh
doanh của các Công ty để xem xét nguồn tài chính sao cho kịp thời và có
hiệu quả.



Phối hợp với Phòng Kinh doanh về định hướng xu thế của thị trường để
lập phương án thiết kế cho sản phẩm đầu ra.



Phối hợp với Phòng Hành chính Nhân sự trong vấn đề nhân lực khi thực
hiện dự án.



Phối hợp với Ban Quản lý về các vấn đề sửa chữa nếu cần khi công trình
đi vào hoạt động.

Phối hợp với Phòng Bảo Vệ để quản lý ,tổ chức di dời sửa chữa mặt bằng dự án
mới.
- Quyền hạn:
Được quyền xử lý và giải quyết các công Có quyền phân công, sắp xếp,
điều chuyển nhân viên về công việc trong từng tác nghiệp, nhiệm vụ cụ
thể
Có quyền tự quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định đó trong phạm
vi công việc phụ trách.
• Phòng pháp chế:
- Trách nhiệm:
Chịu trách nhiệm với Ban Giám Đốc các vấn đề về mặt pháp luật/qui định của
Nhà Nước liên quan ngành nghề, cụ thể :
Quản lý hồ sơ/giấy tờ pháp nhân của Công ty.
SV: Hồ Ngọc Hảo

MSSV: 05QT2_25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x