Tải bản đầy đủ

Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế kế toán quản trị (610)

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt
BTC
CT
CTGS
Cty
DV
ĐVT
GTGT

HMLK
KDC
NKC
NN
NT
NVL
SC
SH
SXKD
TKĐƯ

TM
TNHH
TSCĐ
XD

Chữ đầy đủ
Bộ tài chính
Chứng từ
Chứng từ ghi sổ
Công ty
Dịch vụ
Đơn vị tính
Giá trị gia tăng
Hóa đơn
Hao mòn lũy kế
Khu dân cư
Nhật ký chung
Nhà nước
Ngày tháng
Nguyên vật liệu
Sổ cái
Số hiệu
Sản xuất kinh doanh
Tài khoản đối ứng
Thương mại
Trách nhiệm hữu hạn
Tài sản cố định
Xây dựng

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài
Lương là vấn đề muôn thuở của nhân loại và là vấn đề “ nhức nhối”
của hầu hết các công ty tại Việt Nam. Đây là đề tài từng gây tranh luận sôi nổi
1


trên diễn đàn quốc hội Việt Nam trong nhiều năm qua và hiện nay nó vẫn còn
là đề tài nóng bỏng đối với Việt Nam.
Hàng ngày chúng ta vẫn thường cố gắng học tập, nghiên cứu để làm


gì? Hẳn một phần lớn để sau đó được trả lương một cách thoả đáng hay sao?
Tất cả chúng ta có thể nói rằng lương là một nhu cầu của xã hội. Vì vậy trong
đợt thực tập khoá luận tốt nghiệp em đã chọn đề tài: “Kế toán tiền lương và
các khoản trích theo lương tại CÔNG TY Cổ PHầN THƯƠNG MạI VÀ
PHÁT TRIểN VIễN THÔNG VIệT TRUNG".
2 Mục tiêu nghiên cứu:
2.1 Mục tiêu chung
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ta hiện nay,
các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có quyền tổ chức và thực hiện hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình một cách độc lập tự chủ theo qui định của pháp
luật. Họ phải tự hạch toán và đảm bảo doanh nghiệp mình hoạt động có lợi
nhuận, và phát triển lợi nhuận đó, từ đó nâng cao lợi ích của doanh nghiệp,
của người lao động. Đối với nhân viên, tiền lương là khoản thù lao của mình
sẽ nhận được sau thời gian làm việc tại công ty. Còn đối với công ty đây là
một phần chi phí bỏ ra để có thể tồn tại và phát triển được. Một công ty sẽ
hoạt động và có kết quả tốt khi kết hợp hài hoà hai vấn đề này.
2.2 Mục tiêu cụ thể
Do vậy, việc hạch toán tiền lương là một trong những công cụ quản lý
quan trọng của doanh nghiệp. Hạch toán chính xác chi phí về lao động có ý
nghĩa cơ sở, căn cứ để xác định nhu cầu về số lýợng, thời gian lao động và
xác định kết quả lao động. Qua đó nhà quản trị quản lý được chi phí tiền
lương trong giá thành sản phẩm. Mặt khác công tác hạch toán chi phí về lao
động cũng giúp việc xác định nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước.
Đồng thời nhà nước cũng ra nhiều quyết định liên quan đến việc trả lương và
2


các chế độ tính lương cho người lao động. Trong thực tế, mỗi doanh nghiệp
có đặc thù sản xuất và lao động riêng, cho nên cách thức hạch toán tiền lương
và các khoản trích theo lương
3 Đối tượng nghiên cứu:
Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương.
4 Phương pháp nghiên cứu:
-

Phương pháp nghiên cứu
tài liệu

-

Phương pháp kế toán

-

Phương pháp thống kê

-

Phương pháp phân tích

-

Phương pháp toán học

5 Bố cục báo cáo
Báo cáo thực tập của em ngoài phần mở đầu và phần kết thúc bao gồm
ba phần :
Phần I :Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán lao động tiền lương
và các khoản trích theo lương ở các doanh nghiệp.
Phần II : Thực trạng về công tác hạch toán tiền lương và các khoản
trích theo lương tại Công ty cổ phần thương mại và phát triển viễn thông Việt
Trung
Phần III : Hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích
theo lương ở Công ty cổ phần thương mại và phát triển viễn thông Việt Trung

3


PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN LAO ĐỘNG
TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1 Đặc điểm của công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo
lương
Kế toán là một công cụ phục vụ quản lý kinh tế, gắn liền với hoạt
động quản lý đã xuất hiện cùng với sự hình thành đời sống loài người.
Theo quy định tái sản xuất trong doanh nghiệp công nghiệp bao
gồm các quá trình sản xuất- phân phối tiêu thụ, các giai đoạn này được
diễn ra một cách tuần tự. Sau khi kết thúc một quá trình sản xuất sản phẩm,
doanh nghiệp đýa ra sản phẩm sản xuất ra thị trýờng tiêu thụ, nghĩa là thực
hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm đó. Trong cừ chế thị trýờng
và sự cạnh tranh gay gắt hiện nay, sự sống còn của sản phẩm chính là sự
tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. Việc bán sản phẩm là một yếu tố
khách quan nó không chỉ quyết định sự tồn tại quá trình sản xuất của doanh
nghiệp mà còn đảm bảo đời sống cho công nhân, người lao động sản xuất
ra sản phẩm đó.
Tiền lương là một phạm trù kinh tế phức tạp mang tính lịch sử chính
trị và có ý nghĩa xã hội to lớn. Nhýng ngýợc lại bản thân tiền lương cũng
chịu sự tác động mạnh mẽ của xã hội, tý týởng chính trị. Cụ thể là trong xã
hội tý bản chủ nghĩa tiền lương là sự biểu hiện bằng tiền của sức lao động,
là giá cả của sức lao động biểu hiện ra bên ngoài sức lao động, Còn trong xã
hội chủ nghĩa tiền lương là giá trị một phần vật chất trong tổng sản phẩm
xã hội dùng để phân phối cho người lao động theo nguyên tắc làm theo
nóng lực, hưởng theo lao động. Tiền lương mang một ý nghĩa tích cực tạo
ra sự công bằng trong phân phối thu nhập quốc dân.
4


1.1.1 Khỏi niệm về tiền lương
- Theo quan niệm của Mác: Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá
trị sức lao động.
- Theo quan niệm của các nhà kinh tế học hiện đại: Tiền
lương là giá cả của lao động, được xác định bởi quan hệ cung
cầu trên thị trường lao động.
ở Việt nam trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, tiền
lương được hiểu là một bộ phận thu nhập quốc dân dùng để bù
đắp hao phí lao động tất yếu do Nhà nước phân phối cho công
nhân viên chức bằng hình thức tiền tệ phù hợp với quy luËt
ph©n phèi theo lao ®éng.
Tiền lương là một bộ phận của sản phẩm xã hội biểu hiện
bằng tiền được trả cho người lao động dựa trên số lượng và
chất lượng lao động của họ, dùng để bù đắp lại hao phí lao
động của người lao động và nó là một vấn đề thiết thực đối với
cán bộ công nhân viên.Tiền lương được quy định một cách
đúng đắn, là yếu tố kích thích sản xuất mạnh mẽ, nó kích thích
người lao động và làm việc, nâng cao trình độ tay nghề, cải
tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động.
1.1.2. ý nghĩa tiền lương.
Tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền với lao động, tiền tệ và nền
sản xuất hàng hoá. Mặt khác tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá trị
sản phẩm do lao động tạo ra, tuỳ theo cơ chế quản lý mà tiền lương có thể
được xác định là một bộ phận của chi phí sản xuất kinh doanh cấu thành nên
giá thành sản phẩm hay được xác định là một bộ phận của thu nhập, kết quả
tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.

5


Ngoài tiền lương mà người lao động được hưởng theo số lượng và chất
lượng của mình họ cần được hưởng các khoản tiền thưởng theo quy định của
đơn vị và trong trường hợp người lao động tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao
động như khi bị ốm đau. thai sản, tai nạn lao động... Sẽ được hưởng khoản trợ
cấp nhằm giảm bớt khó khăn trong cuộc sống.
Trong việc tăng cường quản lý lao động cải tiến và hoàn thiện việc
phân bổ và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động cải tiến và hoàn thiện chế
độ tiền lương chế độ sử dụng quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ được xem là một
phương tiện hữu hiệu để kích thích người lao động gắn bó với hoạt động sản
xuất kinh doanh, rèn luyện tay nghề, nâng cao năng suất lao động. Trên cơ sở
các chính sách chế độ về lao động, tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ Nhà
nước đã ban hành, các doanh nghiệp tuỳ thuộc vào đặc điểm ngành phải tổ
chức tốt lao động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
đồng thời tính toán, thanh toán đầy đủ kịp thời các khoản tiền lương, tiền
thưởng, BHXH, BHYT đúng chính sách, chế độ, sử dụng tốt kinh phí công
đoàn nhằm khuyến khích người lao động thực hiện tốt nhiệm vụ góp phần thể
hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị.
1.1.3. Nhiệm vụ kế toỏn tiền lương.
Để thực hiện chức năng của kế toán trong việc điều hành quản lý hoạt
động của doanh nghiệp. Kế toán tiền lương BHXH, BHYT, KPCĐ cần thực
hiện những nhiệm vụ sau:
Tổ chức ghi chép phản ánh tổng hợp một cách trung thực, kịp thời, đầy
đủ tình hình hiện có và sự biến động về số lượng và chất lượng lao động, tình
hình sử dụng thời gian lao động và kết quả lao động.
Tính toán chính xác, kịp thời đúng chính sách, chế độ, các khoản tiền
lương, tiền thưởng, các khoản trợ cấp phải trả cho người lao động. Phản ánh

6


đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình thanh toán các khoản trên cho người lao
động.
Thực hiện việc kiểm tra tình hình huy động và sử dụng lao động, tình
hình chấp hành các chính sách, chế độ về tiền lương BHXH, BHYT, KPCĐ.
Tình hình sử dụng quỹ tiền lương, quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ.
Tính toán và phân bổ chính xác đúng đối tượng các khoản tiền lương,
khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh hướng
dẫn và kiểm tra các bộ phận trong đơn vị thực hiện đầy đủ đúng đắn chế độ
ghi chép ban đầu về lao động, tiền lương, tiền thưởng BHXH, BHYT, KPCĐ
đúng chế độ, đúng phương pháp kế toán .
1.1.4. Quỹ tiền lương, quỹ BHXH, quỹ BHYT, KPCộ, bảo hiểm thất
nghiệp
1.1.4.1. Quỹ tiền lương.
Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương của doanh
nghiệp trả cho tất cả các loại lao động thuộc doanh nghiệp quản lý và sử
dụng. Thành phần quỹ lương bao gồm các khoản chủ yếu là tiền lương trả
cho người lao động trong thời gian thực tế làm việc( theo thời gian, theo
sản phẩm...). Trong quan hệ với quá trình sản xuất kinh doanh, kế toán phân
loại quỹ tiền lương của doanh nghiệp thành hai loại cừ bản:
- Tiền lương chính: Là tiền Lương trả cho người lao động trong
thời gian làm nhiệm vụ chính đã được quy định, bao gồm: tiền lương cấp
bậc, các khoản phụ cấp thýờng xuyên và tiền thưởng trong sản xuất.
- Tiền lương phụ : Là tiền lương phải trả cho người lao động trong
thời gian không làm nhiệm vụ chính nhýng vẫn được hưởng lương theo
chế độ quy định nhý tiền lương trả cho người lao động trong thời gian nghỉ
phép, thời gian đi làm nghĩa vụ xã hội, hội họp, đi học, tiền lương trả cho
7


người lao động trong thời gian ngừng sản xuất.
1.1.4.2. Quỹ bảo hiểm xó hội ( BHXH ) :
Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ dùng để trợ cấp cho người lao động có
tham gia đóng góp quỹ trong các trýờng hợp họ bị mất khả nóng lao động
nhý ốm đau, thai sản, tai nan lao động, hýu trí, mất sức...
Theo công văn số 3261/BHXH từ ngày 1/1/2013 tỷ lệ đóng BHXH là
24% trong đó người sử dụng lao động đóng 17% còn người lao động đóng
7%.
Theo qui định hiện hành, quỹ BHXH được dùng cho các mục đích sau:
- Chế độ trợ cấp ốm đau, người lao động bị tai nạn ( không phụ thuộc tai
nạn lao động ) bị ốm đau phải nghỉ việc, tiền trợ cấp bằng 75% tiền lương.
- Chế độ trợ cấp thai sản: Cho người lao động tiền trợ cấp bằng 100%
tiền công 1 tháng sau khi sinh con.
- Chế độ tử tuất thân nhân người lao động, khi người lao động chết thì
mức trợ cấp quy định chi tiết trong nghị định 43/CP.
Khi người lao động được nghỉ hưởng lương theo chế độ BHXH, kế toán
phải lập giấy chứng nhận nghỉ ốm hưởng BHXH cho từng người và lập bảng
thanh toán BHXH để làm cơ sở thanh toán với quỹ BHXH. Các doanh nghiệp
phải nộp BHXH trích trong kỳ vào quỹ tập trung do quỹ BHXH quản lý.
1.1.4.3. Quỹ bảo hiểm y tế ( BHYT ) :
Là loại bảo hiểm có tính chất bắt buộc với người lao động. BHYT có
tác dụng trực tiếp với người lao động và với cộng đồng trong trường hợp
người đó bị ốm đau, giảm bớt gánh nặng tài chính cho gia đình người lao
8


động và cả Ngân sách Nhà nước; góp phần nâng cao chất lượng và công bằng
xã hội trong việc khám và chữa bệnh. Theo chế độ qui định, hàng tháng doanh
nghiệp trích 4.5% tiền tổng quỹ lương toàn doanh nghiệp trong đó 3% do
doanh nghiệp đóng được tính vào chi phí kinh doanh và 1.5% do người lao
động đóng góp và trừ vào lương hàng tháng của người lao động.
1.1.4.4. Kinh phớ cụng đoàn ( KPCĐ ) :
Là nguồn tài trợ cho hoạt động công đoàn ở các cấp. Theo chế độ
tài chính hiện hành, KPCĐ được trích theo tỷ lệ 2% trên tổng số tiền
lương phải trả cho người lao động và doanh nghiệp phải chịu toàn bộ ( tính
vào chi phí sản xuất kinh doanh ).
1.1.4.5. Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) : (bắt đầu thực hiện từ ngày
01/01/2013)
Bảo hiểm thất nghiệp là một loại quỹ do cừ quan Bảo hiểm xã hội quản
lý dựng để chi trả cho người lao động trong thời gian thất nghiệp. Bảo hiểm
thất nghiệp bao gồm các chế độ trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp học nghề, trợ cấp
tìm việc làm. Đối tượng và mức đóng BHTN :
1. Người lao động là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng
lao động không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ 12 tháng đến 36
tháng. Người lao động đóng 1% trên tiền lương tiền công đóng BHTN, doanh
nghiệp khấu trừ lương người lao động.
2. Người sử dụng lao động trích 1% trên tiền lương tiền công
đóng bảo hiểm thất nghiệp tính vào chi phí của Doanh nghiệp.
3. Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách 1% mỗi nóm chuyển một lần
cho cừ quan quản lý.

9


Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp là người lao động đã đóng bảo
hiểm đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trýớc khi thất nghiệp đã
đóng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội và chýa tìm được việc làm
sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp.
1.2. Các hình thức trả lương
Hiện nay ở nước ta tiền lương cơ bản được áp dụng rộng rãi, có 2 hình
thức đó là:
+ Trả lương theo thời gian
+ Trả lương theo sản phẩm.
1.2.1.Trả lương theo thời gian
Đây là hình thức trả lương căn cứ vào thời gian lao động, lương cấp bậc
để tính lương cho công nhân viên. Hình thức này được áp dụng chủ yếu cho
cán bộ công nhân viên chức, quản lý, y tế giáo dục, sản xuất trên dây chuyền
tự động, trong đó có 2 loại:
Trả lương theo thời gian đơn giản.
Trả lương theo thời gian có thưởng.
+ Trả lương theo thời gian đơn giản: đây là số tiền trả cho người lao động căn
cứ vào bậc lương và thời gian thực tế làm việc không xét đến thái độ và kết
quả lao động.
- Lương tháng: áp dụng đối với cán bộ công nhân viên làm ở bộ phận
gián tiếp.
Mức lương = Lương cơ bản + Phụ cấp (nếu có)
- Lương ngày: đối tượng áp dụng chủ yếu như lương tháng khuyến
khích người lao động đi làm đều.
Mứclương = lương tháng: 26 ngày * số ngày làm việc thực tế

10


+ Trả lương theo thời gian có thưởng: thực chất của chế độ này là sự
kết hợp giữa việc trả lương theo thời gian đơn giản và tiền thưởng khi công
nhân vượt mức những chỉ tiêu số lượng và chất lượng đã quy định.
Hình thức này được áp dụng cho công nhân phụ (công nhân sửa chữa, điều
chỉnh thiết bị) hoặc công nhân chính làm việc ở những nơi có trình độ cơ khí
hoá, tự động hoá, công việc tuyệt đối phải đảm bảo chất lượng.
Mức lương = Lương tính theo thời gian giản đơn + Tiền thưởng
Hình thức này có nhiều ưu điểm hơn hình thức trả lương theo thời gian
đơn giản, vừa phản ánh trình độ thành thạo vừa khuyến khích được người lao
động có trách nhiệm với công việc. Nhưng việc xác định tiền lương bao nhiêu
là hợp lý rất khó khăn. Vì vậy nó chưa đảm bảo phân phối theo lao động.
1.2.2. Trả lương theo sản phẩm:
Tiền lương trả theo sản phẩm là một hình thức lương cơ bản đang áp
dụng trong khu vực sản xuất vật chất hiện nay, tiền lương mà công nhân nhận
được phụ thuộc vào đơn giá để hoàn thành một đơn vị sản phẩm. Hình thức
trả lương này có nhiều ưu điểm hơn so với hình thức trả lương tính theo thời
gian.
Trả lương theo sản phảm có những tác dụng sau:
Quán triệt đầy đủ hơn nguyên tắc trả lương theo số lượng, chất lượng
lao động gắn với thu nhập về tiền lương với kết quả sản xuất của mỗi công
nhân.do đó kích thích công nhân nâng cao năng suất lao động.
Khuyến khích công nhân ra sức học tập văn hoá kỹ thuật nghiệp vụ, ra
sức phát huy sáng tạo, cải tiến kỹ thuật cải tiến phương pháp lao động, sử
dụng tốt máy móc thiết bị để nâng cao năng suất lao động, góp phần thúc đẩy
cải tiến quản lý doanh nghiệp nhất là công tác lao động và thực hiện tốt công
tác kế hoạch cụ thể.
Khi một doanh nghiệp bố trí lao động chưa hợp lý, việc cung ứng vật tư
không kịp thời sẽ tác động trực tiếp đến kết quả lao động như năng suất lao
11


động thấp kém dẫn đến thu nhập của người lao động giảm. Do quyền lợi thiết
thực bị ảnh hưởng mà người công nhân sẽ kiến nghị, đề nghị bộ máy quản lý
cải tiến lại những bất hợp lý hoặc tự họ tìm ra biện pháp để giải quyết.Tuy
nhiên để phát
huy đầy đủ tác dụng của công tác trả lương theo sản phẩm nhằm đem lại hiệu
quả kinh tế cao phải có những điều kiện cơ bản sau đây:
+ Phải xây dựng được định mức lao động có căn cứ khoa học. Điều này tạo
điều kiện để tính toán đơn giá tiền lương chính xác.
+ Tổ chức sản xuất và tổ chức lao động phải tương đối hợp lý và ổn định.
Đồng thời tổ chức phục vụ tốt nơi làm việc để tạo điều kiện cho người lao
động trong ca làm việc đạt hiệu quả kinh tế cao.
+ Thực hiện tốt công tác thống kê, kiểm tra nghiệm thu sản phẩm sản xuất ra
để đảm bảo chất lượng sản phẩm, tránh làm bừa, làm ẩu, chạy theo số lượng.
+ Bố trí công nhân vào những công việc phù hợp với bậc thợ của họ.
Có các chế độ trả lương sau:
*) Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân: cách trả lương này
được áp dụng rộng rãi đối với người công nhân viên trực tiếp sản xuất trong
điều kiện quy trình lao động của người công nhân mang tính độc lập tương
đối, có thể quy định mức kiểm tra và nghiệm thu sản phẩm một cách riêng
biệt. Đơn giá tiền lương của cách trả lương này là cố định và tiền lương của
công nhân được tính theo công thức:
L = ĐG x Q
Trong đó: ĐG: đơn giá tiền lương.
Q: mức sản lượng thực tế.
+ Ưu điểm: là mối quan hệ giữa tiền lương của công nhân nhận được và kết
quả lao động thể hiện rõ ràng người lao động xác định ngay được tiền lương
của mình, do quan tâm đến năng suất, chất lượng sản phẩm của họ.

12


+ Nhược điểm: là người công nhân ít quan tâm đến chất lượng sản phẩm, tinh
thần tập thể tương trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất kém, hay có tình trạng
dấu nghề, dấu kinh nghiệm.
*) Chế độ trả lương khoán: được áp dụng cho những công việc nếu giao
chi tiết bộ phận sẽ không có lợi bằng giao toàn bộ khối lượng cho công nhân
hoàn thành trong một thời gian nhất định.
Chế độ lương này sẽ được áp dụng trong xây dựng cơ bản và áp dụng cho
những công nhân khi làm việc đột xuất như sửa chữa, tháo lắp nhanh một số
thiết bị để nhanh chóng đưa vào sản xuất, áp dụng cho cá nhân và tập thể.
+ Ưu điểm: trong chế độ trả lương này người công nhân biết trước được khối
lượng tiền lương mà họ sẽ nhận được sau khi hoàn thành công việc và thời
gian thành công được giao. Do đó họ chủ động trong việc sắp xếp tiến hành
công việc của mình từ đó tranh thủ thời gian hoàn thành công việc được giao
còn đối với người giao khoán thì yên tâm về khối lượng công việc hoàn thành.
+ Nhược điểm: để đảm bảo thời gian hoàn thành dễ gây ra hiện tượng làm
bừa, làm ẩu không đảm bảo chất lượng. Do vậy công tác nghiệm thu sản
phẩm được tiến hành một cách chặt chẽ.
1.3. Phương pháp hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương
1.3.1. Chứng từ sử dụng
Để hạch toán tiền lương, tiền công và các khoản trợ cấp, phụ cấp cho
người lao động dựa vào các hình thức trả lương. Kế hoạch lập bảng thanh
toán lương cho từng tổ, đội, phân xưởng sản xuất, các phòng ban. Đồng thời
tính tiền lương phải trả cho từng người lao động.
Các khoản khấu trừ được lập theo từng đơn vị sản xuất, theo đơn vị
hiện hành thì kế toán được sử dụng những chứng từ sau đây:
+ Bảng chấm công

Mẫu số 01. LĐTL
13


+ Bảng thanh toán lương

Mẫu số 02. LĐTL

+ Phiếu nghỉ được hưởng BHXH

Mẫu số 03. LĐTL

+ Bảng thanh toán BHXH

Mẫu số 04. LĐTL

+ Bảng thanh toán tiền thưởng

Mẫu số 05. LĐTL

+ Phiếu báo làm thêm giờ

Mẫu số 07. LĐTL

+ Biên bản điều tra tai nạn

Mẫu số 09. LĐTL

1.3.2. Tài khoản sử dụng:
Để phản ánh tình hình thanh toán tiền lương và các khoản trích theo lương
của người lao động, kế toán sử dụng TK 334 , TK 338
TK 338 có 7 TK cấp 2 :
+ TK 3381 : Tài sản thừa chờ sử lý
+ TK 3382 : Kinh phí công đoàn
+ TK 3383 : Bảo hiểm xã hội
+ TK 3384 : Bảo hiểm y tế
+ TK 3387 : Doanh thu chưa thực hiện
+ TK 3388 : Phải trả phải nộp khác
+ TK 3389 : Bảo hiểm thất nghiệp
Ngoài ra còn sử dụng các TK khác nhý : TK 111, 112, 622, 641, 642

14


1.3.3. Phương pháp hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo
lương.
1.3.3.1. Phương pháp hạch toán kế toán tiền lương
- Hàng tháng tính tiền lương phải trả cho cụng nhân viênvà phân bổ cho cỏc
đối týợng.
Nợ TK 622 : Chi phí nhân công trực tiếp
Nợ TK 627 : Chi phí sản xuất chung
Nợ TK 641 : Chi phí bán hàng
Nợ TK 642 : Chi phí quản lý doanh nghiệp
Nợ TK 241 : Xây dựng cừ bản dở dang
Có TK 334 : Phải trả công nhân viên
- Số tiền thưởng phải trả cho công nhân viên
Nợ TK 431 : Quĩ khen thưởng phúc lợi
Nợ TK 622, 627, 641, 642
Có TK 334 : Phải trả công nhân viên
- Các khoản phải trừ vào lương của công nhân viên
Nợ TK 334 : Phải trả công nhân viên
Có TK 141 : Tạm ứng
Có TK 333 (3338) : Các loại thuế khác
Có TK 138 (1388) : Phải thu khác
Có TK 338 : Phải trả phải nộp khác
- Khi thanh toán tiền lương, tiền công, BHXH, tiền thưởng cho CNV.
+ Nếu thanh toán bằng tiền
Nợ TK 334 : Phải trả công nhân viên
Có TK 111 : Tiền mặt
Có TK 112 : Tiền gửi ngân hàng
+ Nếu thanh toán bằng vật tý hàng hoá
Nợ TK 334 : Phải trả công nhân viên
15


Có TK 512 : Doanh thu bán hàng nội bộ
Có TK 3331 : Thuế GTGT phải nộp
éồng thời phản ánh giá vốn của vật tý hàng hoá xuất trả lương
Nợ TK 632 : Giá vốn hàng bán
Có TK 152, 154, 156.
- Hàng tháng khi trích trýớc tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản
xuất
Nợ TK 622 : Chi phí nhân công trực tiếp
Có TK 335 : Chi phí phải trả
- Khi xác định số tiền lương công nhân nghỉ phép thực tế phải trả
Nợ TK 335 : Chi phí phải trả
Có TK 334 : Phải trả công nhân viên
- Trýờng hợp doanh nghiệp không tiến hành trích trýớc tiền lương nghỉ phép
của công nhân trực tiếp sản xuất thì khi tính tiền lương nghỉ phép của công
nhân sản xuất thực tế phải trả
Nợ TK 622 : Chi phí nhân công trực tiếp
Có TK 334 : Phải trả công nhân viên

16


Sơ đồ 1
Kế toán các khoản thanh toán với công nhân viên
TK 334

TK 141

TK 622

Tạm ứng trừ vào lương

TK 333
TK 627, 641,642

Khấu trừ thuế thu nhập cá nhân phải
nộp nhà nước của CNV

Tiền lương và thưởng phải trả

TK 338
TK 431

BHXH, BHYT, KPCĐ khấu trừ vào
lương

TK 111
TK 338

Trả lương cho CNV
BHXH phải trả cho CNV

TK 138
Khấu trừ phải thu hồi bồi thường về
TS thiếu theo quyết định xử lý

17


1.3.3.2. Phương pháp hạch toán các khoản trích theo lương
- Hàng tháng trích BHXH, BHYT, KPCĐ
Nợ TK 622 : Chi phí nhân công trực tiếp
Nợ TK 627 : Chi phí sản xuất chung
Nợ TK 641 : Chi phí bán hµng
Nợ TK 642 : Chi phí quản lý doanh nghiệp
Nợ TK 241 : Xây dựng cơ bản dở dang
Có TK 3382, 3383, 3384
- Tính số BHXH phải trả công nhân viên
Nợ TK 338 : Phải trả phải nộp khác
Có TK 334 : Phải trả công nhân viên
- Khi chuyển tiền nộp BHXH, BHYT, KPCĐ
Nợ TK 338 (3382, 3383, 3384)
Có TK 111, 112 : Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
- Chi BHXH và KPCĐ tại doanh nghiệp
Nợ TK 338 ( 3383, 33822)
Có TK 111, 112
- Số BHXH được cơ quan BHXH cấp
Nợ TK 111, 112
Có TK 338 : Phải trả phải nộp khác
- Trường hợp số đã trả đã nộp về BHXH, KPCĐ kể cả số vượt chi lớn hơn
số phải trả phải nộp khi được cấp bù
Nợ TK 111 : Tiền mặt
Nợ TK 112 : Tiền gửi ngân hàng
Có TK 338 ( 3382, 3383)

18


Sơ đồ 2
Hạch toán các khoản trích theo lương
BHXH phải nộp trực tiếp cho công nhân

TK 334

TK 338

BHXH phải trả
TK 622

TK 111, 112

TK 627

Nộp KPCĐ,BHXH cho cơ quan qlý
và khoản kinh phí chi tại DN
Trích BHXH,BHYT

TK 641,642

KPCĐ tính vào chi phí

TK 241

Số chi hộ,chi vượt mức được
hoàn lại, được cấp lại

19


1.4. Các hình thức kế toán áp dụng
Tuỳ theo quy mô, loại hình và điều kiện hoạt động mà các doanh
nghiệp lựa chọn cho mình một hình thức sổ kế toán phù hợp. Các doanh
nghiệp có thể chọn một trong bốn hình thức sau để áp dụng trong công tác kế
toán:
- Hình thức Nhật ký chung
- Hình thức Nhật ký - sổ cái
- Hình thức Nhật ký - chứng từ
- Hình thức chứng từ ghi sổ
1.4.1. Hình thức nhật ký chung
éặc trýng cừ bản của hình thức sổ này là tất cả các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh đều được phản ánh theo trình tự thời gian vào sổ Nhật ký chung.
Sau đó, lấy số liệu trên sổ Nhật ký chung để ghi vào sổ Cái theo từng nghiệp
vụ phát sinh.
Hình thức Nhật ký chung bao gồm các loại sổ:
Sổ Nhật ký chung : Là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép các nghiệp
vụ kinh tế tài chính phát sinh theo trình tự thời gian. Bên cạnh đó thực hiện
việc phản ánh theo mối quan hệ đối ứng tài khoản để phục vụ việc ghi Sổ Cái.
Tuy nhiên trong trýờng hợp một hoặc một số đối týợng kế toán có số
lýợng phát sinh lớn, để giảm bớt khối lýợng ghi Sổ Cái, đừn vị có thể mở sổ
Nhật ký đặc biệt để ghi riêng các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến các đối
20


týợng kế toán đó. Các sổ Nhật ký đặc biệt là một phần của sổ Nhật ký chung.
Song để tr¸nh sự trùng lặp các nghiệp vụ đó ghi trên các sổ nhật ký đặc biệt
thì không ghi vào sổ Nhật ký chung.
Sổ Cái : Là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế,
tài chính phát sinh niên độ kế toán theo tài khoản kế toán được quy định trong
hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho doanh nghiệp. Mỗi tài khoản được mở
một hoặc một số trang liên tiếp trên sổ cái để ghi chép trong một niên độ kế
toán.
Các sổ, thẻ kế toán chi tiết : Các sổ, thẻ kế toán chi tiết dùng để ghi
chép các đối týợng kế toán cần phải theo dõi chi tiết nhằm phục vụ yêu cầu
tính toán tổng hợp, phân tích và kiểm tra mà các sổ kế toán tổng hợp không
thể đáp ứng được.
Trong kế toán tiền lương, hàng ngày cón cứ vào các chứng từ gốc, bảng
tính lương và BHXH, bảng thanh toán lương, kế toán phản ánh lần lýợt các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào sổ nhật ký chung sau đó ghi vào sổ cái các TK
334, 338. Nếu đừn vị mở sổ kế toán chi tiết thì đồng thời ghi vào sổ kế toán
chi tiết liên quan. Cuối kỳ, cộng số liệu trên sổ cái, lập bảng cân đối sổ phát
sinh, sau khi kiểm tra đối chiếu khớp số liệu trên sổ cái và bảng tổng hợp chi
tiết, kế toán lập báo cáo tài chính.
1.4.2. Hỡnh thức nhật ký - sổ cỏi
éặc trýng cừ bản của hình thức Nhật ký - Sổ c¸i : C¸c nghiệp vụ kinh tế
ph¸t sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh
tế trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là sổ Nhật ký - Sổ cái.
Cón cứ để ghi vào Nhật ký - Sổ cái là các chứng từ gốc hoặc bảng tổng
hợp chứng từ gốc, mỗi chứng từ ghi vào một dòng đồng thời ở cả hai phần :
21


phần Nhật ký và phần Sổ cái. Số liệu ghi trên Nhật ký - Sổ cái dùng để lập
báo cáo tài chính kế toán lương cón cứ chứng từ gốc để ghi vào Nhật ký - Sổ
cái trên các TK 334, 338, 111, 112, 642.
éối với sổ kế toán chi tiết, kế toán tiền lương và các khoản trích theo
lương có thể được theo dõi trên : sổ chi tiết thanh toán, sổ ghi chi phí sản xuất
kinh doanh.
1.4.3.Hình thức nhật ký chứng từ (NKCT)
Nhật ký - chứng từ : Là sổ kế toán tổng hợp để phản ánh toàn bộ nghiệp
vụ kinh tế tài chính phát sinh theo vế có của các tài khoản. Một Nhật ký - chứng
từ có thể mở cho một tài khoản hoặc có thể mở cho một số tài khoản có nội dung
kinh tế giống nhau có quan hệ đối ứng mật thiết với nhau.
Cón cứ để ghi chép các NKCT là chứng từ gốc, số liệu của các sổ kế
toán chi tiết, của bảng kê và bảng phân bổ.
NKCT phải mở từng tháng một, hết mỗi tháng phải khoá sổ NKCT cũ
và mở NKCT mới cho tháng sau. Mỗi lần khoá sổ cũ, mở sổ mới phải chuyển
toàn bộ số dý cần thiết từ NKCT cũ sang NKCT mới tuỳ theo yêu cầu cụ thể
của từng tài khoản.
- Sổ Cái : Là sổ kế toán tổng hợp mở cho cả nóm, mỗi tờ sổ dùng cho
một tài khoản trong đó phản ánh phát sinh Nợ, số phát sinh Có và số dý cuối
tháng hoặc cuối quý. Số phát sinh có của tài khoản được phản ánh trên sổ cái
theo tổng số lấy từ NKCT ghi Có tài khoản đó, số phát sinh Nợ được phản
ánh chi tiết theo từng tài khoản đối ứng Cú lấy từ cỏc NKCT cú liờn quan. Sổ
Cỏi chỉ ghi một lần vào ngày cuối tháng hoặc cuối quý sau khi đú khoỏ sổ và
kiểm tra, đối chứng số liệu trờn cỏc NKCT.

22


- Bảng kê : éýợc sử dụng cho một số đối týợng cần bổ sung chi tiết. Trên cừ
sở số liệu phản ánh ở bảng kê, cuối tháng ghi vào NKCT có liên quan.
- Bảng phân bổ : sử dụng với những khoản chi phí phát sinh thýờng
xuyên có liên quan đến nhiều đối týợng cần phân bổ ( tiền lương, vật liệu,
khấu hao TSCé). Các chứng từ gốc trýớc hết tập trung vào bảng phân bổ
chuyển vào các bảng và NKCT liên quan.
- Sổ chi tiết : dùng để theo dõi các đối týợng hạch toan chi tiết.
Trong hình thức NKCT những nghiệp vụ kinh tế liên quan đến bên Có
TK 334, 338, ( 3382, 3383, 3384) được phản ánh ở phần I, phần II, Nhật ký
chứng từ số 7, chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố ghi có TK 334, 338
(chi tiết phần BHXH, BHYT, KPCé).
Kế toán cón cứ vào các chứng từ gốc, lập bảng phân bổ số 1 ( bảng
phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương) lấy số liệu ghi vào bảng kê
số 4 và NKCT số 7.
Cuối tháng lấy số liệu ghi vào sổ cái TK 334, 338. Những nghiệp vụ
liên quan đến bên Nợ của TK 334 thýờng là thanh toán tiền lương cho CNV
thì số tiền đó trả được phản ánh trên NKCT số 1
Ngoài ra kế toán còn sử dụng bảng kê số 6 ( tập hợp chi phí phải trả TK
335).
1.4.4. Hình thức chứng từ - ghi sổ
Đặc trưng cừ bản của hình thức kế toán chứng từ ghi sổ : Cón cứ trực
tiếp để ghi sổ kế toán tổng hợp là các ( chứng từ ghi sổ ). Việc ghi sổ kế toán
tổng hợp bao gồm :

23


- Ghi theo trình tự thời gian trên sổ éóng ký chứng từ ghi sổ.
- Ghi theo nội dung kinh tế trên sổ cái.
Chứng từ ghi sổ được lập trên cừ sở từng chứng từ gốc hoặc bảng tổng
hợp chứng từ gốc cùng loại, có cùng nội dung kinh tế.
Chứng từ ghi sổ được đánh liên tục trong từng tháng hoặc cả nóm
( theo số thứ tự trong đóng ký chứng từ ghi sổ) và có chứng từ gốc kèm theo,
phải được kế toán trýởng duyệt trýớc khi ghi sổ kế toán.
Hình thức Chứng từ ghi sổ gồm :
- Sổ éóng ký chứng ghi sổ : Là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép
các nghiệp vụ kế toán phát sinh theo trình tự thời gian. Sổ này dùng để đóng
ký các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, quản lý chứng từ ghi sổ, vừa để kiểm tra
đối chiếu số liệu với bảng cân đối số phát sinh.
- Sổ Cái : Là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh theo tài khoản được quy định trong chế độ tài khoản kế toán cho
doanh nghiệp.
- Sổ, thẻ kế toán chi tiết : Là sổ kế toán phản ánh các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh theo từng đối tượng kế toán riêng biệt.
1.5. Kế toán tiền lương trong điều kiện áp dụng tin học
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều phần mềm kế toán khác nhau như:
Sas, Cads, Fast, Misa, Effect... Việc áp dụng tin học vào giúp cho kế toán
không còn phải thực hiện một cách thủ công một số khâu công việc mà nó
còn cho phép cung cấp thông tin một cách nhanh chóng với độ chính xác cao
thông qua tính năng ưu việt của máy tính và kỹ thuật tin học.
24


Việc tính lương thường được thực hiện ở thời điểm cuối tháng khi đã có
kết quả hoặc thời gian lao động của người lao động. Tuỳ thuộc vào từng bộ
phận trong doanh nghiệp và ở từng doanh nghiệp thì hình thức trả lương theo
thời gian hoặc theo sản phẩm đều có thể thực hiện được tính lương tự động
trên máy tính theo các phần mềm kế toán. Với một phần mềm kế toán thì tính
lương, các khoản trích theo lương đều có thể thực hiện được một cách tự động
Việc tính lương tự động đối với phần mềm kế toán được thực hiện trên
bảng tính lương. Bảng tính lương có khả năng tự động hoá cao, người sử dụng
chỉ cần nhập một lượng thông tin tối thiểu, phần còn lại chương trình sẽ tự
động thực hiện theo cơ chế đã được định sẵn.
Đồng thời với việc tính lương, chương trình sẽ tự động sinh ra các bút
toán phản ánh chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương theo từng bộ
phận.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x