Tải bản đầy đủ

Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế kế toán quản trị (527)

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt
BTC
CT
CTGS
Cty
DV
ĐVT
GTGT

HMLK
KDC
NKC
NN
NT
NVL
SC
SH
SXKD
TKĐƯ

TM
TNHH
TSCĐ
XD

Chữ đầy đủ
Bộ tài chính
Chứng từ
Chứng từ ghi sổ
Công ty
Dịch vụ
Đơn vị tính
Giá trị gia tăng
Hóa đơn
Hao mòn lũy kế
Khu dân cư
Nhật ký chung
Nhà nước
Ngày tháng
Nguyên vật liệu
Sổ cái
Số hiệu
Sản xuất kinh doanh
Tài khoản đối ứng
Thương mại
Trách nhiệm hữu hạn
Tài sản cố định
Xây dựng

1


PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp sản xuất muốn tồn tại và phát triển
nhất định phải có phương pháp sản xuất phù hợp và phải sản xuất ra được những
sản phẩm có chất lượng cao và giá cả hợp lý. Một quy luật tất yếu trong nền kinh tế
thị trường là cạnh tranh. Do vậy mà doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để đáp
ứng và phát triển trên thương trường, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng


với chất lượng ngày càng cao, giá thành hạ. Đó chính là mục đích chung của tất cả
các doanh nghiệp sản xuất nói chung và ngành xây dựng nói riêng. Nắm bắt được
thời thế trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình trên con đường công nghiệp
hóa, hiện đại hóa với nhu cầu cơ sở hạ tầng, đô thị hóa ngày càng cao, ngành xây
dựng cơ bản luôn luôn không ngừng phấn đấu để góp phần phát triển nền kinh tế
đất nước. Tuy nhiên trong thời gian vừa qua đầu tư xây dựng cơ bản còn thực hiện
tràn lan, thiếu tập trung, công trình dở dang làm thất thoát kinh phí lớn và việc đó
đã được dần dần khắc phục cho đến ngày nay. Trong tình hình đó việc đầu tư vốn
phải được tăng cường quản lý chặt chẽ trong ngành xây dựng là một điều hết sức
cấp bách hiện nay.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
1.2.1 Mục tiêu chung

Để thực hiện được điều đó, vấn đề đầu tiên là cần phải hoạch toán đầy đủ, rõ
ràng, chính xác vật liệu trong quá trình sản xuất vật chất. Vì đây là yếu tố cơ bản
trong quá trình sản xuất, nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí và giá thành sản
phẩm của doanh nghiệp. Chỉ cần một biến động nhỏ về chi phí nguyên vật liệu cũng
ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến lợi nhuận, kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy nguyên vật liệu đóng vai trò rất quan
2


trọng trong quá trình sản xuất. Các doanh nghiệp buộc phải quan tâm đến việc tiết
kiệm nguyên vật liệu mà vẫn đảm bảo chất lượng. Đó cũng là biệp pháp đúng đắn
nhất để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, tiết kiệm được chi phí, tăng khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Nhận thức được vai trò của kế toán một cách rõ ràng, đặc biệt là kế toán
nguyên vật liệu trong quá trình quản lý chi phí của doanh nghiệp, việc tổ chức hạch
toán nguyên vật liệu một cách khoa học hợp lý có ý nghĩa thực tiễn rất cao trong
việc nâng cao chất lượng quản lý và khả năng sử dụng vật liệu một cách có hiêu
quả.

1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Kế toán nguyên vật liệu

1.4 Phương pháp nghiên cứu:
-

Phương pháp nghiên cứu tài
liệu

-

Phương pháp kế toán

-

Phương pháp thống kê

-

Phương pháp phân tích

-

Phương pháp toán học

3


PHẦN II
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG
TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU- CÔNG CỤ DỤNG
CỤ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG
2.1 Tổng quan về kế toán nguyên vật liệu- công cụ dụng cụ

2.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và tính giá Nguyên vật liệu.

2.1.1.1Khái niệm:
Vật liệu là những đối tượng lao động, thể hiện dưới dạng vật hoá. Trong
các doanh nghiệp, vật liệu được sử dụng phục vụ cho việc sản xuất, chế tạo
sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ hay sử dụng cho bán hàng, cho quản lý
doanh nghiệp.
2.1.1.2 Đặc điểm:
Đặc điểm của vật liệu là chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất- kinh doanh
nhất định và toàn bộ giá trị vật liệu được chuyển hết một lần vào chi phí kinh
doanh trong kỳ. Khi tham gia vào hoạt động sản xuất - kinh doanh, vật liệu bị
biến dạng hoặc tiêu hao hoàn toàn. Vật liệu được hình thành từ nhiều nguồn
khác nhau như mua ngoài, tự sản xuất, nhận vốn góp liên doanh, vốn góp của
các thành viên tham gia công ty, …, trong đó, chủ yếu là do doanh nghiệp
mua ngoài.
2.1.1.2 Phân loại nguyên vật liệu.
Vật liệu trong các doanh nghiệp bao gồm nhiều thứ, nhiều loại khác nhau,
có giá trị, công dụng, nguồn gốc hình thành…khác nhau. Do vậy, cần thiết
4


phải tiến hành phân loại vật liệu nhằm tạo điều kiện cho việc hạch toán và
quản lý vật liệu.
Căn cứ vào vai trò và tác dụng của vật liệu trong sản xuất, vật liệu được
chia thành các loại như sau:
-Nguyên, vật liệu chính: là thứ nguyên, vật liệu mà sau quá trình gia công,
chế biến sẽ cấu thành nên thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm;
-Vật liệu phụ: là những vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ trong sản xuất,
được sử dụng kết hợp với vật liệu chính để làm thay đổi màu sắc, hình dáng,
mùi vị, hoặc dùng để bảo quản, phục vụ hoạt động của các tư liệu lao động
hay phục vụ cho lao động của công nhân viên chức (dầu nhờn, hồ keo, thuốc
nhuộm, thuốc chống rỉ, hương liệu, xà phòng, giẻ lau…);
-Nhiên liệu: là những thứ vật liệu được dùng để cung cấp nhiệt lượng trong
quá trình sản xuất, kinh doanh như than, củi, xăng dầu, hơi đốt, khí đốt…;
-Phụ tùng thay thế: là các chi tiết, phụ tùng dùng để sửa chữa và thay thế
cho các máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải …;
-Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: bao gồm các vật liệu và thiết bị (cần
lắp, không cần lắp, vật kết cấu, công cụ, khí cụ…) mà doanh nghiệp mua vào
với mục đích đầu tư cho xây dựng cơ bản;
-Phế liệu: là các loại vật liệu thu được trong quá trình sản xuất hay thanh
lý tài sản, có thể sử dụng hay bán ra ngoài (phôi bào, vải vụn, gạch, sắt …);
-Vật liệu khác: bao gồm các loại vật liệu còn lại ngoài các thứ chưa kể trên
như bao bì, vật đóng gói, các loại vật tư đặc chủng v.v
2.1.1.3 Đánh giá nguyên vật liệu
Vật liệu vô cùng quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đối với những doanh nghiệp sản xuất (Công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng
cơ bản vật liệu là yếu tố vô cùng quan trọng, chi phí vật liệu thường chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng số chi phí để tạo thành sản phẩm). Do vậy vật liệu không
chỉ quyết định đến số lượng sản phẩm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất
5


lượng sản phẩm tạo ra. Nguyên vật liệu có đảm bảo quy cách, chủng loại sự
đa dạng thì sản phẩm sản xuất ra mới đạt yêu cầu và phục vụ cho nhu cầu tiêu
dùng ngày càng cao của xã hội. Như vậy vật liệu có một giá trị vô cùng quan
trọng không thể phủ nhận trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Một hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không thể thực hiện
được nếu thiếu một trong ba yếu tố: Lao động, tư liệu lao động, và đối tượng
lao động. Trong đó con người với tưcách là chủ thể lao động sử dụng tư liệu
lao động và đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất. Trong doanh nghiệp
sản xuất công nghiệp biểu hiện cụ thể của đối tượng lao động là nguyên vật
liệu. Chi phí về vật liệu chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành sản
phẩm và là bộ phận quan trọng trong doanh nghiệp. Nó không chỉ làm đầu
vào của quá trình sản xuất mà còn là một bộ phận quan trọng của hàng tồn
kho được theo dõi bảo quản và lập dự phòng khi cần thiết.
Do vật liệu có vai trò quan trọng như vậy nên công tác kế toán vật liệu trong
các doanh nghiệp sản xuất phải được thực hiện một cách toàn diện để tạo điều
kiện quản lý vật liệu, thúc đẩy việc cung cấp đầy đủ kịp thời, đồng bộ những
vật liệu cần cho sản xuất, dự trữ và sử dụng vật liệu hợp lý, tiết kiệm ngăn
ngừa các hiện tượng hư hao, mất mát và lãng phí vật liệu trong tất cả các khâu
của quá trình sản xuất kinh doanh.
2.1.1.4 Phương pháp tính giá nguyên vật liệu.
Tính giá vật liệu về thực chất là việc xác định giá trị ghi sổ của vật liệu.
Theo quy định vật liệu được tính theo giá thực tế (giá gốc). Tức là vật liệu khi
nhập kho hay xuất kho đều được phản ánh trên sổ sách theo giá thực tế.
2.1.1.4.1. Tính giá nguyên vật liệu nhập kho.
Giá gốc ghi sổ vật liệu trong các trường hợp cụ thể được tính như sau:
Với các vật liệu mua ngoài: giá thực tế (giá gốc) ghi sổ gồm trị giá mua
ngoài của vật liệu thu mua [là giá mua ghi trên hoá đơn của người bán đã
trừ(-) các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá hàng mua được hưởng,
6


cộng (+) các loại thuế không được hoàn lại (nếu có) và các chi phí thu mua
thực tế (chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí bao bì; chi phí của bộ phận thu
mua độc lập; chi phí thuê kho, thuê bãi; tiền phạt lưu kho, lưu hàng, lưu
bãi…)].
Như vậy, trong giá thực tế của vật liệu trong doanh nghiệp tính thuế theo
phương pháp khấu trừ không bao gồm thuế GTGT đầu vào được khấu trừ mà
bao gồm các khoản thuế không được hoàn lại như thuế nhập khẩu, thuế tiêu
thụ đặc biệt (nếu có).
Với vật liệu doanh nghiệp sản xuất: giá thực tế ghi sổ của vật liệu do
doanh nghiệp sản xuất khi nhập kho là giá thành sản xuất thực tế (giá thành
công xưởng thực tế) của vật liệu sản xuất ra.
Với vật liệu thuê ngoài, gia công, chế biến: giá thực tế ghi sổ nhập kho bao
gồm giá thực tế của vật liệu, cùng các chi phí liên quan đến thuê ngoài gia
công, chế biến, (tiền thuê gia công, chế biến, chi phí vận chuyển, bốc dỡ, hao
hụt định mức…).
Với vật liệu nhận đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia góp
vốn: giá thực tế ghi sổ là giá thoả thuận do các bên xác định (hoặc tổng giá
thanh toán ghi trên hoă đơn GTGT do các bên tham gia liên doanh lập) cộng
(+) với các chi phí tiếp nhận mà doanh nghiệp phải bỏ ra (nếu có).
Với phế liệu: giá thực tế ghi sổ của phế liệu là giá ước tính có thể sử dụng
được hay giá trị thu hồi tối thiểu.
Với vật liệu được tặng, thưởng: giá trị thực tế ghi sổ của vật liệu là giá thị
trường tương đương cộng (+) chi phí liên quan đến việc tiếp nhận (nếu có).
2.1.1.4.2. Tính giá nguyên vật liệu xuất kho.
Để xác định giá thực tế (giá gốc) ghi sổ của vật liệu xuất kho trong kỳ, tuỳ
theo đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp, vào yêu cầu quản lý và trình
độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, có thể sử dụng một trong các phương pháp
sau đây theo nguyên tắc nhất quán trong hạch toán, nếu thay đổi phương
pháp phải giải thích rõ ràng. Cụ thể như sau:
7


a, Phương pháp giá đơn vị bình quân:
Theo phương pháp này, giá thực tế vật liệu xuất kho trong kỳ được tính
theo công thức:
Giá thực tế từng loại xuất

=

kho

Số lượng từng loại
xuất kho

*

Giá đơn vị bình
quân

Trong đó, giá đơn vị bình quân có thể tính theo một trong 3 cách sau:

Cách 1: Giá đơn vị bình
quân cả kỳ dự trữ

Giá thực tế từng loại tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
=
Lượng thực tế từng loại tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ

Cách tính này tuy đơn giản, dễ làm nhưng độ chính xác không cao.
Hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng, gây ảnh hưởng đến công tác
quyết toán nói chung.

Cách 2: Giá đơn vị
bình quân cuối kỳ
=
trước

Giá thực tế từng loại tồn đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
Lượng thực tế từng loại tồn kho đầu kỳ
(hoặc cuối kỳ trước)

Cách này mặc dầu khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến
động của từng loại vật liệu, dụng cụ, sản phẩm hàng hoá trong kỳ, tuy nhiên
không chính xác vì không tính đến sự biến động của giá cả vật liệu, dụng cụ,
hàng hoá cũng như giá thành sản phẩm trong kỳ.
Cách 3: Giá đơn vị
bình quân sau mỗi
lần nhập

Giá thực tế từng loại tồn kho sau mỗi lần nhập
=

Lượng thực tế từng loại tồn kho sau mỗi lần
nhập

8


Cách này tính theo giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập lại khắc phục
được nhược điểm của cả 2 phương pháp trên, vừa chính xác, vừa cập nhật.
Nhược điểm của phương pháp này là tốn nhiều công sức, tính toán nhiều lần.
b, Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO):
Theo phương pháp này, giả thiết rằng số vật liệu nào nhập trước thì xuất
trước, xuất hết số nhập trước mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng số
hàng xuất. Nói cách khác, cơ sở của phương pháp này là giá thực tế của vật
liệu nhập kho trước sẽ được dùng làm giá để tính giá thực tế của vật liệu xuất
trước và do vậy, giá trị của vật liệu tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số vật
liệu nhập kho sau cùng. Phương pháp này thích hợp trong trường hợp giá cả
ổn định hoặc có xu hướng giảm.
c, Phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO):
Phương pháp này giả định những vật liệu nhập kho sau cùng sẽ được xuất trước tiên,
ngược lại với phương pháp nhập trước xuất trước ở trên. Phương pháp nhập sau xuất trước
thích hợp trong trường hợp lạm phát.
d, Phương pháp trực tiếp:
Theo phương pháp này, giá thực tế vật liệu được xác định theo đơn chiếc hay từng lô
và giữ nguyên từ lúc nhập và cho tới lúc xuất kho (trừ trường hợp điều chỉnh). Khi xuất
kho lô nào (hay cái nào) sẽ được tính theo giá thực tế của lô ấy hay cái ấy. Do vậy, phương
pháp này còn có tên gọi là phương pháp đặc điểm riêng hay phương pháp giá thực tế đích
danh và thường sử dụng trong các doanh nghiệp có ít loại vật liệu hoặc vật liệu ổn định, có
tính tách biệt và nhận diện được.
e, Phương pháp giá thực tế hạch toán:
Ngoài các phương pháp cơ bản trên, trong thực tế công tác kế toán, để giảm nhẹ việc
ghi chép cũng như bảo đảm tính kịp thời của thông tin kế toán, để tính giá thực tế của vật
liệu xuất kho, kế toán còn sử dụng phương pháp giá hạch toán.
Theo phương pháp này, toàn bộ vật liệu biến động trong kỳ được tính theo giá hạch
toán (giá kế hoạch hoặc một loại giá ổn định trong kỳ). Cuối kỳ, kế toán sẽ tiến hành điều
chỉnh từ giá hạch toán sang giá thực tế theo công thức:

9


Giá thực tế từng loại xuất kho
(hoặc tồn kho cuối kỳ)

=

Giá hạch toán
từng loại xuất kho

* Hệ số giá từng loại

Hệ số giá có thể tính cho từng loại, từng nhóm hoặc từng thứ vật liệu chủ yếu tuỳ thuộc
vào yêu cầu và trình độ quản lý. Về thực chất, việc sử dụng giá hạch toán để ghi sổ các loại
hàng tồn kho nói chung chính là một thủ thuật của kế toán nhằm phản ánh kịp thời tình
hình biến động hiện có của từng loại hàng tồn kho. Giá trị từng loại hàng tồn kho tính theo
phương pháp giá hạch
toán đúng bằng giá trị từng loại hàng tồn kho tăng, giảm hiện có tính theo phương pháp giá
đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ.
2.1.5 Chứng từ và sổ sách sử dụng:

Chứng từ dùng để hạch toán vật liệu là cơ sở để ghi chép vào thẻ kho
và các sổ kế toán liên quan đồng thời là căn cứ để kiểm tra tình hình biến
động của nguyên vật liệu. Chứng từ được lập trên cơ sở kiểm nhận nguyên vật
liệu hoặc là kiểm nhận kết hợp với đối chiếu (tuỳ theo nguồn nhập) và trên cơ
sở xuất kho nguyên vật liệu. Nội dung của chứng từ phải phản ánh được
những chỉ tiêu cơ bản như tên, quy cách của nguyên vật liệu, số lượng nguyên
vật liệu nhập hoặc xuất, vì lý do nhập hoặc xuất kho.
Theo chế độ hiện hành kế toán nguyên vật liệu sử dụng các chứng từ
chủ yếu sau:
- Phiếu nhập kho nguyên vật liệu (Mẫu 01-VT)
- Phiếu xuất kho vật tư (Mẫu 02-VT)
- Phiếu nhập kho kiêm vận chuyển nội bộ (Mẫu 03-VT)
- Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm hàng hóa (Mẫu 08-VT)
- Hóa đơn (GTGT) (Mẫu 01-GTGT)
- Hóa đơn cước vận chuyển (Mẫu 03-BH)
Ngoài các chứng từ bắt buộc sử dụng thống nhất theo quy định của Nhà
nước các doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán hướng dẫn
như : Phiếu xuất nguyên vật liệu theo hạn mức (Mẫu 04-VT); biên bản kiểm
nghiệm nguyên vật liệu (Mẫu 05-VT); Phiếu báo nguyên vật liệu còn lại cuối
10


kỳ (Mẫu 07-VT) và các chứng từ khác tùy thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ
thể của từng doanh nghiệp.
Để kế toán chi tiết nguyên vật liệu tuỳ thuộc vào phương pháp hạch
toán chi tiết áp dụng trong doanh nghiệp mà sử dụng các sổ (thẻ) kế toán chi
tiết sau:
- Sổ (thẻ) kho
- Sổ (thẻ) kế toán chi tiết nguyên vật liệu
- Sổ đối chiếu luân chuyển
- Sổ số dư
Sổ (thẻ) kho (Mẫu 06-VT) được sử dụng để theo dõi số lượng nhập
xuất tồn kho của từng thứ nguyên vật liệu theo từng kho. Thẻ kho do phòng
kế toán lập và ghi chi tiết: tên, nhãn hiệu, quy cách, đơn vị tính, mã số nguyên
vật liệu. Sau đó giao cho thủ kho để ghi chép tình hình nhập - xuất - tồn hàng
ngày về mặt số lượng. Thẻ kho dùng để hạch toán ở kho không phân biệt hạch
toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp nào. Còn sổ (Thẻ) kế toán chi
tiết, sổ đối chiếu luân chuyển, sổ số dư được sử dụng để hạch toán từng hàng
nhập - xuất - tồn nguyên vật liệu về mặt giá trị hoặc cả lượng và giá trị phụ
thuộc vào phương pháp hạch toán chi tiết áp dụng trong doanh nghiệp.
Ngoài các sổ kế toán chi tiết nêu trên, còn có thể sử dụng các bảng kê
nhập - xuất, các bảng luỹ kế tổng hợp nhập xuất tồn, kho nguyên vật liệu phục
vụ cho việc ghi sổ kế toán chi tiết được đơn giản, nhanh chóng, kịp thời.
2.1.6 Phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu

2.1.6.1 Phương pháp thẻ song song
Theo phương pháp thẻ song song, hạch toán chi tiết vật liệu tại các doanh
nghiệp được tiến hành như sau:
Tại kho: Thủ kho dùng thẻ kho để phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn vật
liệu về mặt số lượng.
11


Tại phòng kế toán: Kế toán sử dụng thẻ kế toán chi tiết vật liệu để phản
ánh tình hình hiện có, biến động tăng, giảm theo từng danh điểm vật liệu với
thẻ kho mở ở kho.
Để thực hiện đối chiếu giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, kế toán
phải căn cứ vào các thẻ kế toán chi tiết để lập bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn
kho về mặt giá trị của từng loại vật liệu.
Phương pháp thẻ song song mặc dầu đơn giản, dễ làm nhưng việc ghi chép
còn nhiều trùng lặp. Vì thế, chỉ thích hợp với doanh nghiệp có quy mô nhỏ, số
lượng nghiệp vụ ít, trình độ nhân viên kế toán chưa cao.

ThÎ

Phiếu nhập kho

B¶ng tæng hîp
nhËp,
xuÊt, tån kho

hoÆc

Thẻ kho




KÕ to¸n tæng
hîp

to¸n
chi
Phiếu xuất kho

Ghi chú:

tiÕt

Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu

12


2.1.6.2 Kế toán chi tiết vật liệu theo phương pháp sổ đối chiếu luân
chuyển:
Theo phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển, công việc cụ thể tại kho giống
như phương pháp thẻ song song ở trên. Tại phòng kế toán, kế toán sử dụng sổ
đối chiếu luân chuyển để hạch toán số lượng và số tiền của từng thứ (danh
điểm) vật liệu theo từng kho. Sổ này được ghi mỗi tháng 1 lần vào cuối tháng
trên cơ sở các bảng kê nhập, bảng kê xuất từng thứ (danh điểm) vật liệu; mỗi
danh điểm ghi một dòng trong sổ. Cuối tháng, kế toán đối chiếu số lượng
vật liệu trên sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho của thủ kho; đồng thời
đối chiếu số tiền của từng danh điểm vật liệu với kế toán tổng hợp (theo giá
hạch toán ở các bảng tính giá).

Phương pháp này mặc dầu đã có cải tiến nhưng việc ghi chép vẫn còn
trùng lặp.
Chứng từ xuất

Bảng kê nhập

Thẻ kho

Sổ đối chiếu

Chứng từ xuất

Bảng kê xuất

Luân chuyển
Sổ kế toán tổng hợp

Ghi chú:

Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra

2.1.6.3 Kế toán chi tiết vật liệu theo phương pháp sổ số dư.
Theo phương pháp sổ số dư, công việc cụ thể taị kho giống như các
phương pháp trên. Định kỳ, sau khi ghi nhận thẻ kho, thủ kho phải tập hợp
13


toàn bộ chứng từ nhập kho, xuất kho phát sinh theo từng vật liệu quy định.
Sau đó, lập phiếu giao nhận chứng từ và nộp cho kế toán kèm theo các chứng
từ nhập, xuất kho vật liệu. Ngoài ra, thủ kho còn phải ghi số lượng vật liệu tồn
kho cuối tháng theo từng danh điểm vào sổ số dư.
Sổ số dư do kế toán mở cho từng kho, dùng cho cả năm và giao cho thủ
kho trước ngày cuối của mỗi tháng để ghi số lượng tồn kho vật liệu vào sổ.
Trong sổ số dư, các danh điểm vật liệu được in sẵn, xếp theo từng nhóm và
từng loại. Sau khi ghi số lượng từng loại vật liệu tồn kho vào sổ số dư, thủ
kho sẽ chuyển sổ cho phòng kế toán để kiểm tra và tính thành tiền.

Phiếu giao nhận chứng từ
nhập

Phiếu nhập kho
Sổ số dư

Bảng luỹ kế nhập, xuất, tồn
vật tư

Thẻ kho
Kế toán tổng hợp

Phiếu giao nhận chứng từ xuất

Phiếu xuất kho
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
Ghi định kỳ

Tại phòng kế toán, định kỳ, nhân viên kế toán phải xuống kho để
hướng dẫn và kiểm tra việc ghi chép thẻ kho của thủ kho và thu nhận chứng
từ. Khi nhận được chứng từ, kế toán kiểm tra và tính giá theo từng chứng từ
(giá hạch toán). Tổng cộng số tiền và ghi vào cột số tiền trên phiếu giao nhận

14


chứng từ. Đồng thời, ghi số tiền vừa tính được của từng nhóm vật liệu (nhập
riêng, xuất riêng) vào bảng luỹ kế nhập, xuất, tồn kho.
Tiếp đó, cộng số tiền nhập, xuất trong tháng và dựa vào số dư đầu
tháng để tính ra số dư cuối tháng của từng nhóm vật liệu. Số dư này được
dùng để đối chiếu với cột “số tiền” trên sổ số dư (số liệu trên sổ số dư do kế
toán vật tư tính bằng cách lấy số lượng tồn kho * giá hạch toán).
2.1.7 Kế toán tổng hợp vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên.

2.1.7.1 Khái niệm và tài khoản sử dụng:
Phương pháp kê khai thường xuyên:là phương pháp theo dõi và phản ánh
tình hình hiện có, biến động tăng, giảm hàng tồn kho một cách thường xuyên,
liên tục trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho. Phương pháp này
được sử dụng phổ biến hiện nay ở nước ta vì những tiện ích của nó. Phương
pháp này có độ chính xác cao và cung cấp thông tin về hàng tồn kho kịp thời,
cập nhật. Theo phương pháp này, tại bất kỳ thời điểm nào kế toán cũng có thể
xác định được lượng nhập, xuất, tồn kho từng loại hàng tồn kho nói chung và
nguyên, vật liệu nói riêng.
Để hạch toán nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên, kế
toán sử dụng các tài khoản sau:
-Tài khoản 152: “Nguyên liệu, vật liệu” tài khoản này được dùng để theo
dõi giá trị hiện có, tình hình tăng, giảm của các nguyên, vật liệu theo giá thực
tế, có thể mở chi tiết theo từng loại, nhóm, thứ… tuỳ theo yêu cầu quản lý và
phương tiện tính toán.
Bên nợ: phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm tăng giá thực tế của nguyên,
vật liệu trong kỳ (mua ngoài, tự sản xuất, nhận góp vốn, phát hiện thừa, đánh
giá tăng…).
Bên có: phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm giảm nguyên, vật liệu trong
kỳ theo giá thực tế (xuất dùng, xuất bán, xuất góp vốn, thiếu hụt…).
Dư nợ: giá thực tế của nguyên, vật liệu tồn kho.
15


-Tài khoản 151: “Hàng mua đi đường” tài khoản này dùng theo dõi các
loại nguyên, vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hoá… mà doanh nghiệp đã mua
hay chấp nhận mua, đã thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng cuối
tháng, chưa về nhập kho (kể cả số đang gửi kho người bán).
Bên nợ: Phản ánh giá trị hàng mua đang đi đường tăng thêm trong kỳ.
Bên có: Phản ánh giá trị hàng đi đường kỳ trước đã nhập kho hay chuyển
giao cho các bộ phận sử dụng hoặc giao cho khách hàng.
Dư nợ: giá trị hàng đang đi đường (đầu và cuối kỳ).
Ngoài ra, trong quá trình hạch toán, kế toán còn sử dụng một số tài khoản
liên quan khác như 133, 331, 111, 112, 632….
Căn cứ vào giấy báo nhận hàng, nếu xét thấy cần thiết, khi hàng về đến
nơi, có thể lập ban kiểm nhận để kiểm nhận vật liệu thu mua cả vể số lượng,
chất lượng, quy cách…Ban kiểm nhận căn cứ vào kết quả thực tế ghi vào
“Biên bản kiểm nhận vật tư”. Sau đó bộ phận cung ứng sẽ lập “Phiếu nhập
kho” vật tư trên cơ sở hóa đơn, giấy báo nhận hàng và biên bản kiểm nhận rồi
giao cho thủ kho. Thủ kho sẽ ghi số vật liệu vào phiếu rồi chuyển cho phòng
kế toán làm căn cứ ghi sổ. Trường hợp phát hiện thừa, thiếu, sai quy cách, thủ
kho phải báo cho bộ phận cung ứng biết và cùng người giao lập biên bản.
2.1.7.2 Phương pháp hạch toán:
a, Với doanh nghiệp áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
Đối với đơn vị tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ ( đã thực hiện
việc mua bán hàng hoá có hóa đơn, chứng từ ghi chép kiểm tra đủ). Thuế
GTGT đầu vào được tách riêng, không ghi vào giá thực của vật liệu. Như vậy,
khi mua hàng trong tổng giá thanh toán phải trả cho người bán, phần giá mua
chưa thuế được ghi tăng giá trị vật tư mua vào, còn phẩn thuế GTGT đầu vào
được ghi vào số được khấu trừ. Kế toán sử dụng tài khoản 133 (1331) -Thuế
GTGT đầu vào của hàng hoá dịch vụ mua ngoài).
b, Với doanh nghiệp áp dụng thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp:
16


Đối với cơ sở sản xuất không đủ điều kiện để tính thuế GTGT theo phương
pháp khấu trừ thì thuế GTGT đầu vào được ghi vào giá thực tế nguyên vật
liệu. Như vậy, khi mua vật liệu thuế GTGT đầu vào được tính vào giá của vật
liệu. Kế toán không sử dụng tài khoản 133 “Thuế GTGT đầu vào”. Còn
phương
pháp hạch toán tương tự như trường hợp tính thuế GTGT theo phương
pháp khấu trừ.
Trình tự hạch toán vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên được
khái quát theo sơ đồ (xem sơ đồ 1.4).
2.1.8 Kế toán tổng hợp vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kì.

2.1.8.1 Khái niệm và tài khoản sử dụng:
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp không theo dõi một cách
thường xuyên, liên tục về tình hình biến động của các loại vật tư, hàng hoá,
sản phẩm trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho mà chỉ phản
ánhgiá trị tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ của chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ,
xác định lượng tồn kho thực tế và lượng xuất dùng cho sản xuất kinh doanh
và các mục đích khác.
Nhược điểm của phương pháp này là độ chính xác không cao.
Phương pháp này áp dụng cho các đơn vị kinh doanh nhiều chủng loại
hàng hoá, vật tư khác nhau, giá trị thấp thường xuyên dùng, xuất bán.
Các tài khoản kế toán sử dụng :
Tài khoản 611 “mua hàng” – chi tiết TK 6111 “mua nguyên liệu, vật
liệu”: Tài khoản này dùng để theo dõi tình hình thu mua, tăng, giảm nguyên
vật liệu theo giá thực tế (giá mua và chi phí thu mua).
Kết cấu TK 611:
Bên nợ: Phản ánh giá thực tế NVL tồn kho đàu kỳ và tăng thêm trong kỳ.
Bên có: phản ánh giá thực tế VL xuất dùng, xuất bán, thiếu hụt trong kỳ và
tồn kho cuối kỳ.
17


Tài khoản này không có số dư.
Tài khoản 151: “Hàng mua đang đi trên đường”. Dùng để phản ánh trị giá
số vật liệu mà doanh nghiệp đã mua hay chấp nhận mua (đã thuộc sở hữu của
đơn vị) nhưng đang đi đường hay đang gửi tại kho người bán, chi tiết theo
từng loại, từng người bán.
Bên nợ: giá thực tế hàng đang đi đường cuối kỳ.
Bên có: kết chuyển giá thực tế hàng đang đi đường cuối kỳ
Dư nợ: giỏ thực tế hàng đang đi đường.
Tài khoản 152: “Nguyờn liệu, vật liệu”. Dựng để phản ánh giờ thực tế
nguyên, vật liệu tồn kho, chi tiết theo từng loại.
Bờn nợ: giỏ thực tế vật liệu tồn kho cuối kỳ.
Bờn có: kết chuyển giỏ thực tế vật liệu tồn kho đầu kỳ.
Dư nợ: giờ thực tế vật liệu tồn kho.
Ngoài ra trong quá trình hạch toán, kế toán cũn sử dụng một số tài khoản
khỏc có liên quan như 133, 111, 112, 331….Cỏc tài khoản này có nội dung và
kết cấu giống như phương pháp kờ khai thường xuyờn.
2.1.8.2. Phương pháp hạch toán
Trình tự hạch toán vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kỳ được khái
quát theo sơ đồ.

18


2.1.9 Các hình thức sổ kế toán vận dụng trong công tác kế toán nguyên vật liệu.

Sổ kế toán là một phương tiện vật chất cơ bản, cần thiết để người làm kế
toán ghi chép, phản ánh có hệ thống các thông tin kế toán theo thời gian cũng
như theo đối tượng.
Hình thức tổ chức sổ kế toán là hình thức kết hợp các loại sổ kế toán khác
nhau về chức năng ghi chép, về kết cấu, nội dung phản ánh theo một trình tự
nhất định trên cơ sở của chứng từ gốc.
Các doanh nghiệp khác nhau về loại hình, quy mô và các điều kiện kế toán
sẽ hình thành cho mình một hình thức sổ kế toán khác nhau. Song quy lại có
bốn hình thức sổ sách kế toán sau:
-Hình thức Nhật ký chung.
19


-Hình thức Nhật ký - Sổ Cái.
-Hình thức Chứng từ ghi sổ.
-Hình thức Nhật ký - Chứng từ.
2.1.9.1. Hình thức Nhật ký chung.
Hàng ngày, căn cứ vầo các chứng từ nhập, xuất (Phiếu nhập kho, phiếu
xuất kho…) kế toán ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ Nhật ký chung. Sau đó,
căn cứ vào sổ Nhật ký chung để ghi sổ Cái TK 152, 331…
Nếu đơn vị có mở sổ kế toán chi tiết thì đồng thời với việc ghi sổ Nhật ký
chung, các nghiệp vụ trên được ghi vào các sổ kế toán chi tiết liên quan.
Trong trường hợp đơn vị mở Nhật ký đặc biệt thì hàng ngày căn cứ chứng
từ dùng để ghi sổ, ghi nghiệp vụ phát sinh tổng hợp từ Nhật ký đặc biệt có
liên quan. Định kỳ (5-10 ngày) hoặc cuối tháng, tuỳ khối lượng nghiệp vụ
phát sinh tổng hợp từ Nhật ký đặc biệt, lấy số liệu để ghi vào các TK phù hợp
rên sổ Cái sau khi đã loại bỏ số trùng lặp do một nghiệp vụ được ghi dồng
thời vào nhiều sổ Nhật ký đặc biệt.
2.1.9.2. Hình thức Nhật ký - Sổ cái.
Theo hình thức này, các nghiệp vụ kế toán phát sinh được phản ánh vào một
quyển sổ gọi là Nhật ký - Sổ cái. Sổ này là sổ hạch toán tổng hợp duy
nhất, trong đó kết hợp phản ánh theo thời gian và theo hệ thống. Tất cả
các tài khoản mà doanh nghiệp sử dụng được phản ánh cả hai bên Nợ - Có
trên cùng một vài trang sổ. Căn cứ ghi vào sổ là chứng từ gốc hoặc bảng tổng
hợp chứng từ gốc, mỗi chứng từ ghi một dòng vào Nhật ký - Sổ cái. Cuối kỳ
khoá sổ thẻ kế toán chi tiết, lập tổng hợp chi tiết để đối chiếu với Nhật ký - Sổ
cái.
2.1.9.3. Hình thức Chứng từ ghi sổ.
Hình thức này thích hợp với mọi loại hình đơn vị, thuận tiện cho việc áp
dụng máy tính. Tuy nhiên, việc ghi chép bị trùng lặp nhiều nên việc lập báo
20


cáo dễ bị trễ nhất là trong điều kiện thủ công, sổ sách trong hình thức này
gồm:
-Sổ cái: Là sổ phân loại dùng để hạch toán tổng hợp. Mỗi tài khoản được
phản ánh trên một vài trang sổ cái theo kiểu ít cột hoặc nhiều cột.
-Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ: Là sổ ghi thời gian, phản ánh toàn bộ chứng
từ ghi sổ đã lập trong tháng. Sổ này nhằm quản lý chặt chẽ chứng từ ghi sổ và
kiểm tra, đối chiếu với bảng cân đối phát sinh. Mọi chứng từ ghi sổ sau khi
lập xong đều phải đăng ký vào sổ này để lấy số hiệu và ngày tháng. Số hiệu
của chứng từ ghi sổ được đánh giá liên tục từ đầu tháng (hoặc đầu năm) đến
cuối tháng (hoặc cuối năm). Ngày, tháng trên chứng từ ghi sổ tính theo ngày
ghi “Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ”.
-Bảng cân đối tài khoản: Dùng để phản ánh tình hình đầu kỳ, phát sinh
trong kỳ và tình hình cuối kỳ của các loại tài sản và nguồn vốn với mục đích
kiểm tra tính chính xác của việc ghi chép.
-Các sổ, thẻ hạch toán chi tiết: Dùng để phản ánh các đối tượng cần hạch
toán chi tiết (vật liệu, dụng cụ, tài sản cố định, chi phí sản xuất, tiêu thụ…)
2.1.9.4 Hình thức Nhật ký chứng từ.
Hình thức này phù hợp với doanh nghiệp có số lượng nghiệp vụ nhiều
và điều kiện kế toán thủ công, dễ chuyên môn hoá cán bộ kế toán. Tuy nhiên
đòi hỏi trình độ kế toán phải cao. Mặt khác không phù hợp với kế toán bằng
máy. Sổ sách trong hình thức này bao gồm:
Sổ nhật ký chứng từ: Nhật ký-chứng từ mở hàng tháng cho một hoặc
một sổ tài khoản có nội dung kinh tế giống nhau và có liên quan với nhau theo
yêu cầu quản lý. Nhất ký- chứng từ được mở theo số phát sinh bên Có của tài
khoản đối ứng với bên Nợ các tài khoản có liên quan, kết hợp giữa ghi theo
thời gian và ghi theo hệ thống, giữa hạch toán tổng hợp và hạch toán phân
tích.
21


-Sổ cái: Mở cho từng tài khoản tổng hợp và cho cả năm. chi tiết theo
từng tháng trong đó bao gồm: số dư đầu kỳ, số phát sinh bên Nợ của tài khoản
đối ứng với các tài khoản có liên quan, còn số phát sinh bên Có của tài khoản
chi ghi tổng số trên cơ sở tổng hợp số liệu từ Nhật ký- chứng từ có liên quan.
-Bảng kê: Được sử dụng cho một số đối tượng cần bố xung chi tiết như
bảng kê ghi Nợ của tài khoản 111, 112… trên cơ sở các số liệu phản ánh ở
cuối bảng kê cuối tháng ghi vào Nhật ký chứng từ có liên quan.
-Sổ chi tiết: Dùng để theo dõi các đối tượng hạch toán cần phải hạch
toán chi tiết.

22


PHẦN III: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN VỀ CÔNG TY TNHH
NGHỊ HƯƠNG

3.1 Tổng quan về công ty TNHH Nghị Hương
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

3.1.1.1 Khái quát chung
Tên công ty: CÔNG TY TNHH NGHỊ HƯƠNG
• Địa chỉ trụ sở chính: Nam Tiến-Phổ Yên-Thái Nguyên.
• Điện thoại: 0511.3653955-3653956
• Mã số thuế: 0400450740
• Fax: 0511.3653956
• Loại hình doanh nghiệp: Cty TNHH 2 thành viên trở lên
• Quy mô hiện tại: Doanh nghiệp vừa và nhỏ
• Vốn điều lệ: 10.000.000 đồng
• Ngành nghề kinh doanh: Xây dựng công trình giao thông, hệ thống
cấp thoát nước, san lấp mặt bằng. Xây dựng các công trình công
nghiệp, dân dụng. Xây dựng cá công trình thủy lợi, thủy điện. Tư vấn
thiết kế các công trình xây dựng. Kinh doanh bất động sản, dịch vụ
môi giới bất động sản. Tư vấn, thiết kế các công trình hạ tầng kỹ
thuật. Trang trí nội thất. Sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng.
Thương mại, dịch vụ và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa.

3.1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển
Sau một thời gian tìm hiểu và khảo sát thực tế Thành phố Đà Nẵng đang
ngày càng phát triển và điều tất yếu là phải đi kèm với việc phát triển cơ sở hạ tầng.
Nhận thấy được nhu cầu đó và Công ty TNHH Nghị Hương đã được thành lập theo
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 3202001066 do Sở Kế hoạch và đầu tư
Thành phố Thái Nguyên cấp ngày 16 tháng 7 năm 2003.
23


Vốn điều lệ ban đầu:

1.200.000.000 đồng

Gồm 3 thành viên:
+ Võ Thị Hồng

(40%) = 480.000.000 đồng

+ Mai Vũ Đình Chương

(30%) = 360.000.000 đồng

+ Hoàng Thanh Bình

(30%) = 360.000.000 đồng

Thay đổi vốn điều lệ lần thứ nhất ngày 10/06/2004:
Vốn điều lệ:

1.500.000.000 đồng

Gồm 2 thành viên:
+ Võ Thị Hồng

(76%) = 1.140.000.000 đồng

+ Mai Vũ Đình Chương

(24%) = 360.000.000 đồng

Thay đổi vốn điều lệ lần thứ hai ngày 11/03/2011:
Vốn điều lệ:

10.000.000.000 đồng

Gồm 4 thành viên:
+ Võ Thị Hồng

(94%) = 9.400.000.000 đồng

+ Mai Vũ Đình Chương

(4%) = 400.000.000 đồng

+ Mai Vũ Thị Tường Vy

(1%) = 100.000.000 đồng

+ Nguyễn Thị Thôi

(1%) =

100.000.000 đồng

Trong những năm đầu mới thành lập, Công ty TNHH Nghị Hương không
những phải đương đầu với sự cạnh tranh của các doanh nghiệp cùng ngành, mà bên
cạnh đó Cty còn gặp nhiều trở ngại về mặt nhân lực, thị trường….và kinh nghiệm
của Cty còn khá non trẻ, do đó mà Cty đã gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó,
Ban lãnh đạo Cty đã huy động mọi nguồn lực và năng lực của mình, đề ra các chiến
lược kinh doanh, đầu tư đổi mới nhiều trang thiết bị máy móc, phương tiện vận tải,
cải thiện điều kiện lao động cho công nhân, phát huy tính tự chủ sáng tạo của cán bộ
nhân viên, mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng của sản phẩm.
Trải qua những khó khăn ban đầu, với sự phấn đấu nỗ lực không ngừng
của Cty cùng với sự giúp đỡ của các cơ quan ban nghành có liên quan mà Cty đã
mở rộng được thị trường cũng như quy mô SXKD của mình, từ đó nâng cao được
24


doanh thu của doanh nghiệp và cải thiện thu nhập cho người lao động, bên cạnh đó
còn đáp ứng được nhu cầu của thị trương và khách hàng, từng bước nâng cao và
khẳng định uy tín cũng như thương hiệu của Cty trên thị trường.

3.1.1.3 Kết quả kinh doanh và đóng góp vào ngân sách nhà nước của
Công ty TNHH Nghị Hương
Chính nhờ những thuận lợi kể trên mà trong những năm gần đây tình hình
kinh doanh của Công ty TNHH Nghị Hương có nhiều chuyển biến thuận lợi, doanh
thu cũng như lợi nhuận ngày càng tăng nhanh thể hiện ở bảng số liệu sau:
Bảng 1.1-TÌNH HÌNH KINH DOANH VÀ ĐÓNG GÓP VÀO NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA CÔNG TY TNHH NGHị HƯƠNG

ĐVT: đồng
Chỉ tiêu
Doanh thu
Lợi nhuận trước thuế
Thuế TNDN phải nộp
Lợi nhuận sau thuế

2010
13.623.702.895
18.650.000
5.222.000
13.428.000

2011
34.102.315.263
73.890.802
20.689.425
53.201.377

2012
90.524.549.051
238.546.069
39.134.562
199.411.507

Bảng 1.2-SO SÁNH TÌNH HÌNH KINH DOANH VÀ ĐÓNG GÓP VÀO NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA CÔNG TY TNHH NGHị HƯƠNG

ĐVT: đồng
Chỉ tiêu

Năm 2011 so với Năm

2012

so Năm 2012 so với

năm 2010
với năm 2011
năm 2010
Doanh thu
250
265
664
Lợi nhuận trước thuế
396
322
1279
Thuế TNDN phải nộp
792
189
1498
Lợi nhuận sau thuế
331
374
1243
Qua bảng số liệu trên cho thấy kết quả kinh doanh của Cty rất thuận lợi,
doanh thu cũng như lợi nhuận sau thuế tăng đáng kể. Doanh thu năm 2011 là
34.102.315.263 đồng đạt 250% so với năm 2010, năm 2012 là 90.524.549.051 đồng
đạt 265% so với năm 2011. Tương tự như vậy ta thấy lợi nhuận sau thuế cũng tăng
cao qua các năm, đạt trên 300% so với năm trước đó. Khoảng thuế đóng góp cho
ngân sách nhà nước cũng tăng qua các năm cũng tăng.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x