Tải bản đầy đủ

Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế kế toán quản trị (287)

LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nước ta đã chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao
cấp sang nền kinh tế theo cơ chế thị trường, có sự quản lý điều tiết vĩ mô của Nhà nước.
Cơ chế thị trường đã và đang tỏ rõ tính ưu việt của nó so với cơ chế cũ. Bên cạnh đó,
tháng 11/2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế
giới WTO đã tạo điều kiện phát triển đồng thời đặt ra những thách thức rất lớn đối từng
doanh nghiệp, từng ngành nghề. Để đứng vững trên thị trường cạnh tranh khốc liệt hiện
nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến, hoàn thiện và đổi mới cả về
hinh thức và nôi dung hoạt động. Đó là đổi mới công nghệ, lao động và quản lý, nắm bắt
các nhu cầu thị trường một cách chính xác nhanh nhạy để có những biện pháp đúng đắn
hợp lý đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra một cách liên tục nhịp nhàng,
hiệu quả. Nói cách khác, cơ chế mới các doanh nghiệp phải luôn khẳng định mình. Có
như vậy các doanh nghiệp mới có khả năng đứng vững trong cạnh tranh, ổn định và phát
triển. Muốn vậy nhà quản lý phải thực hiện tốt chức năng của mình đưa ra các quyết
định một cách kịp thời chính xác, khoa học khả thi để kiểm soát được mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh … Phân tích hoạt động kinh tế được coi là công cụ giúp người quản lý
nhận thức đúng đắn đầy đủ, sâu sắc cụ thể về hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh
nghiệp. Nó có ý nghĩa với mọi thành viên trong doanh nghiệp nói riêng xã hội nói
chung.

Qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần đo đạc bản đồ và kiến trúc xây


dựng Quảng Ninh, được sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo hướng dẫn Đỗ Đào Hạnh và
các bác, anh chị trong phòng kế toán của công ty đã giúp em có cơ hội tiếp cận với thực
tế, qua đó củng cố thêm những kiến thức đã được học tại trường, em đã mạnh dạn đi sâu
nghiên cứu, tìm hiểu và viết khoá luận tốt nghiệp về đề tài “ Công tác tổ chức lập Bảng
cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần đo đạc bản đồ và
kiến trúc xây dựng Quảng Ninh ”.

Trang 1


Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của bài khoá luận này được trình
bày trong phạm vi 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về báo cáo tài chính
Chương 2:Thực trạng tổ chức lập và phân tích Bảng cân đối kế toán và Báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh tại Công ty cổ phần đo đạc bản đồ và kiến trúc xây dựng
Quảng Ninh.
Chương 3: Kết luận- Kiến nghi
Để hoàn thành bài khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn
Đỗ Đào Hạnh cùng ban lãnh đạo công ty, các bác, anh chị trong phòng kế toán và đã tạo
điều kiện, giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận này. Tuy nhiên dù đã cố gắng nhưng do
thời gian có hạn và trình độ còn hạn chế nên những điều trình bày trong bài khóa luận
này không khỏi còn thiếu sót. Vì vậy em mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến
của thầy cô để bài báo cáo của em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Trang 2


CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 .Khái quát về báo cáo tài chính:
1.1.1. Khái niệm báo cáo tài chính doanh nghiệp
Báo cáo tài chính là một nội dung cơ bản thuộc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh, được biểu hiện
dưới hình thái tiền tệ để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá
trị doanh nghiệp. Báo cáo tài chính giữ vị trí và vai trò quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp
nên việc tổng kết, phân tích và đánh giá tình hình tài chính là nhiệm vụ cần thiết và quan trọng đối với
mỗi doanh nghiệp.


Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tình
hình tài chính hiện hành với quá khứ thông qua hệ thống các phương pháp và công cụ khác nhau nhằm
đánh giá tiềm năng, hiệu quả cũng như những rủi ro và triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai .
Một doanh nghiệp tồn tại trong nền kinh tế luôn là đối tượng của nhiều nhóm người khác. Để có
thể đưa ra các quyết định đúng đắn trong hoạt động kinh doanh của mình, nhằm đem lại tối đa lượng tài
sản cho bản thân thì họ luôn đặt ra nhu cầu hiểu biết về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp mà cụ
thể là tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo kế toán rất hữu ích đối với việc quản trị doanh
nghiệp, đồng thời là nguồn thông tin tài chính cơ bản đối với người ngoài doanh nghiệp. Do đó, sự
phân tích tài chính trước hết tập trung vào các số liệu được cung cấp trong các báo cáo kế toán kết hợp
thông tin bổ sung của các bộ phận quản lý. Đáp ứng nhu cầu của các chủ thể sử dụng kết quả của việc
phân tích tài chính doanh nghiệp, bản thân phân tích chỉ ra những thay đổi chủ yếu và những chuyển
biến theo xu hướng trong những mối quan hệ kinh tế xuất phát từ quá trình hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
1.1.2. Mục đích và ý nghĩa của báo cáo tài chính.

1.2.1.1. Mục đích của Báo cáo tài chính.
Từ các thông tin tài chính chi tiết hay những con số thống kê, phân tích thực sự là “ việc làm
cho các con số biết nói” để có thể quyết định một cách trực tiếp và hiệu quả. Chính vì thế, phân tích
báo cáo tài chính của doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như ban giám
đốc, các nhà đầu tư, cổ đông, các chủ nợ, khách hàng, các nhà cho vay tín dụng, nhân viên ngân hàng,

Trang 3


các cấp quản lý, bảo hiểm... Mỗi nhóm người này có nhu cầu thông tin khác nhau do vậy, mỗi nhóm có
xu hướng tập trung vào các khía cạnh khác nhau trong bức tranh tài chính của đơn vị.

1.2.1.2. Ý nghĩa của Báo cáo tài chính.
Mặc dù mục đích của họ là khác nhau nhưng thường liên quan đến nhau và do vậy các công cụ
và kỹ thuật phân tích cơ bản mà họ sử dụng để phân tích tình hình tài chính là giống nhau và có ý
nghĩa riêng.
- Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp
Nhà quản lý doanh nghiệp tiến hành nghiên cứu các hoạt động tài chính gọi là phân tích nội bộ.
Phân tích nội bộ hoàn toàn khác với phân tích từ bên ngoài, những nhà phân tích nội bộ có ưu thế rõ
ràng về chất lượng thông tin và sự hiểu biết về doanh nghiệp. Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân
tích nội bộ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Để đạt được mục tiêu đó, người quản lý doanh
nghiệp phải đưa ra các quyết sách đúng như :
- Các quyết định đầu tư dài hạn và ngắn hạn.
- Việc tìm kiếm nguồn tài trợ .
- Sử dụng vốn và tài sản sao cho có hiệu quả cao nhất ...
Như vậy, mục tiêu cơ bản và thử thách sống còn của doanh nghiệp là thanh toán được nợ và kinh
doanh có lãi. Chỉ quá trình phân tích tài chính thận trọng và đầy đủ mới có thể tìm ra mấu chốt và
những vấn đề còn bất cập trong toàn bộ quá trình kinh doanh của doanh nghiệp . Ví dụ như về hiệu quả
sử dụng tài sản cố định còn chưa hiệu quả, vòng quay vốn lưu động thấp, khả năng thanh toán không
đủ đáp ứng dẫn đến nguy cơ phải giải phóng tài sản để thanh toán nợ đến hạn ... trên cơ sở đó mới có
thể tìm giải pháp hữu hiệu để khắc phục .
- Đối với các chủ nợ
Các chủ nợ bao gồm ngân hàng, các doanh nghiệp cho vay, ứng trước hay bán chịu, mối quan tâm
của họ thường hướng tới khả năng trả nợ của doanh nghiệp đi vay. Vì vậy, họ đặc biệt chú ý đến tiền và
các khoản có thể quy thành tiền nhanh, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để có thể nhận biết được khả
năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Đối với các khoản nợ dài hạn thì còn phải quan tâm đến
khả năng sinh lời của doanh nghiệp, vì khả năng này liên quan trực tiếp đến việc thanh toán vốn sẽ diễn
trong tương lai.
Như vậy trước khi cho vay, người cho vay phải nghiên cứu khả năng thanh toán của doanh nghiệp
để trả lời các câu hỏi:
-Tình hình tài chính của doanh nghiệp là mạnh hay yếu ?

Trang 4


-Doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ đến hạn hạn hay không ?
-Doanh nghiệp có thực hiện được doanh thu thoả đáng so với vốn đầu tư vào tài sản lưu động và cố
định hay không ?
-Doanh nghiệp có thể đạt mức lợi nhuận là bao nhiêu trước khả năng không thể đáp ứng chi phí cố định
như lãi suất, tiền thuê nhà đất, các khoản chi trả cố định khác...?
Nếu doanh nghiệp thua lỗ, các tài sản sẽ mất giá trị bao nhiêu so với con số trong bảng tổng kết tài
sản trước khi các chủ nợ được bảo hiểm chấp nhận thiệt hại. Từ những phân tích trên, các chủ nợ sẽ
xem xét, dự báo được mức độ rủi ro đối với các khoản cho vay, cân nhắc giữa doanh lợi và rủi ro, đi
đến quyết định có cho vay hay không ...
- Đối với nhà đầu tư
Đây là các doanh nghiệp, các cá nhân quan tâm trực tiếp đến tính toán các giá trị doanh nghiệp,
họ giao vốn cho doanh nghiệp sử dụng và sẽ cùng chịu mọi rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải. Thu nhập
của nhà đầu tư là tiền chia lợi tức và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư. Hai yếu tố này chịu ảnh hưởng
của lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp .Các nhà đầu tư lớn thường dựa vào các nhà chuyên môn
những người chuyên phân tích tài chính, chuyên nghiên cứu kinh tế về tài chính để phân tích làm dự
báo triển vọng của doanh nghiệp.
Đối với các nhà đầu tư hiện tại cũng như các nhà đầu tư tiềm năng thì mối quan tâm trước hết
của họ là việc đánh giá những đặc điểm đầu tư của doanh nghiệp . Các đặc điểm này có yếu tố rủi ro,
sự hoàn hảo, lãi cổ phần hoặc tiền lời, sự bảo toàn vốn, khả năng thanh toán vốn, sự tăng trưởng và các
yếu tố khác . Các nhà đầu tư quan tâm đến sự an toàn về vốn đầu tư của họ thông qua tình hình được
phản ánh trong điều kiện tài chính của doanh nghiệp và tình hình hoạt động của nó .
Mặt khác, các nhà đầu tư còn quan tâm tới thu nhập của doanh nghiệp. Họ quan tâm tới tiềm
năng tăng trưởng, các thông tin liên quan đến việc doanh nghiệp đã giành nhưng nguồn tiềm năng gì và
như thế nào, những loại rủi ro nào mà doanh nghiệp đang phải đối mặt, doanh nghiệp có sử dụng đòn
bẩy tài chính không ? Ngoài ra, các nhà đầu tư còn quan tâm tới việc điều hành hoạt động và tính hiệu
quả của công tác quản lý trong doanh nghiệp để có thể ra các quyết định đầu tư .
- Đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp.
Lương là khoản thu nhập chính trong doanh nghiệp . Vì vậy, người hưởng lương buộc phải quan
tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp . Cách quan tâm của người hưởng lương đến tình hình tài
chính của doanh nghiệp một cách đơn giản hơn các đối tượng khác, câu hỏi lớn nhất mà họ đặt ra là :
Tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay không, lợi nhuận đạt đến mức nào,

Trang 5


nếu lỗ thì là bao nhiêu, triển vọng trong tương lai là tăng lên hay gặp khó khăn ? chỉ có phân tích tài
chính mới có thể trả lời được câu hỏi này.
Như vậy, có thể nói,mục đích cao nhất của phân tích tài chính là đảm bảo tối đa hoá giá trị. Quy
luật cạnh tranh luôn luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường, để đứng vững và phát triển doanh nghiệp
cần có chiến lược kinh doanh đúng đắn, cụ thể hợp lý tạo thế mạnh riêng cho mình. Bởi vậy, phân tích
tình hình tài chính doanh nghiệp là hết sức quan trọng, giúp nhà phân tích có thể nhận dạng một cách
trung thực tình trạng “sức khoẻ’’ của doanh nghiệp, từ đó đề ra chiến lược kinh doanh phù hợp .

1.1.2.Hệ thống báo cáo tài chính.
Trình tự phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
- Xác định mục tiêu phân tích
Mỗi chủ đề đều có những yêu cầu khác nhau đối với công tác phân tích tài chính. Vì vậy, họ cần đi
sâu vào những nội dung khác nhau trong quá trình phân tích. Xác định mục tiêu phân tích sẽ giúp nhà
phân tích sử dụng những phương pháp thích hợp và tập trung vào những vấn đề cụ thể hơn. Những
người sử dụng khác nhau sẽ đưa ra các quyết định khác nhau theo những mục đích khác nhau :
- Quyết định quản lý doanh nghiệp
- Quyết định mua bán tín phiếu
- Quyết định chấp nhận hay từ chối tín dụng
- Quyết định mua toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp
...
Phân tích tài chính của nhóm người sử dụng khác nhau đòi hỏi phải đáp ứng vấn đề chuyên môn
của mỗi nhóm.
- Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt
động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán tài chính nó bao gồm cả những thông tin
nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và các thông tin khác nhau, những
thông tin về số lượng và giá trị trong đó: các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong báo cáo kế toán
của doanh nghiệp, là những thông tin đặc biệt quan trọng. Do vậy, phân tích tài chính trên thực tế là
phân tích các báo cáo kế toán trong doanh nghiệp .
- Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của quá trình phân tích tình hình tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu
thập được. Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở góc độ nghiên cứu khác nhau, có phương

Trang 6


pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đặt ra: xử lý thông tin là quá trình sắp xếp
các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích đánh giá xác định
nguyên nhân của các kết quả đã được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định .
Trong việc xử lý thông tin, người ta chú trọng đến việc sử dụng các phương pháp phân tích thích
hợp để làm việc với thông tin đó.
Phương pháp phân tích tài chính: bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận,
nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng các mối quan hệ bên trong chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết
nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp .
- Có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp trong thực tế người ta có thể sử dụng
các phương pháp sau:

Phương pháp so sánh
- Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải bảo đảm các điều kiện có thể so sánh được các chỉ tiêu tài
chính (thống nhất về không gian, nội dung tính chất và đơn vị tính toán ...) và theo mục đích phân tích
mà xác định gốc so sánh. Gốc so sánh được chọn là là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kỳ phân
tích được chọn bàng số tuyệt đối, số tương đối huặc số bình quân, nội dung so sánh gồm :
+ So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính
doanh nghiệp. Đánh giá sự thâm hụt hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số với số thực hiện kỳ trước để thấy mức phấn đấu của doanh
nghiệp.
+ So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình ngành, của các doanh nghiệp khác nhau
để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình tốt hay xấu, được hay chưa được.
+ So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều
ngang của nhiều kỳ để tháy sự biến đổi cả về số lượng tương đối và tượng đối của một chỉ tiêu nào đó
qua các niên độ kế toán liên tiếp.

Phương pháp phân tích tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực, các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong quan hệ tài
chính. Sự biến đổi các tỷ lệ là sự biến đổi của các đại lượng tài chính .Về nguyên tắc, phương pháp tỷ
lệ yêu cầu phải xác định các định mức để nhận xét, đánh giá tinh hình tài chính trên cơ sở so sánh các
tỷ lệ của doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ tài chính
đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Đó là các

Trang 7


nhóm, tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực
hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời.
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính
trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích người phân tích lựa chọn các nhóm tỷ lệ
khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình.

1.2. Báo cáo kế toán tài chính tài liệu chủ yếu sử dụng trong phân tích tình hình tài
chính doanh nghiệp
1.2.1.Khái niệm và vai trò của báo cáo kế toán tài chính
+Báo cáo tài chính là những bản báo cáo được lập dựa vào nhưng bản báo cáo được lập dựa vào
phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tại
những thời điểm nhất định. Các báo cáo tài chính phản ánh một hệ thống tình hình tài sản của đơn vị tại
những thời điểm, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trong thời hạn nhất định.
Đồng thời được giải trình giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính nhận biết được thực trạng
tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị để ra quyết định phù hợp.
+ Tác dụng và ý nghĩa của báo cáo tài chính.
°Trong nền kinh tế thị trường, đối tượng sử dụng các thông tin kinh tế rất rộng rãi: Các nhà quản lý
nhà nước, quản lý doanh nghiệp, cổ đông chủ đầu tư, chủ tài trợ. Vì vậy, báo cáo tài chính có vai trò
quan trọng mà cụ thể là :
+ Cung cấp những chỉ tiêu kinh tế tài chính cần thiết, giúp kiểm tra phân tích một cách tổng hợp toàn
diện, có hệ thóng tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính chủ yếu của
doanh nghiệp.
+ Cung cấp nhưng thông tin số liệu để kiểm tra, giám sát tình hình hạch toán kinh doanh, tình hình
chấp hành các chế độ kinh tế - tài chính của doanh nghiệp.
+Cung cấp những thông tin và số liệu cần thiết để phân tích đánh giá những khả năng và tiềm năng
kinh tế tài chính của doanh nghiệp, giúp cho công tác dự báo và lập kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài
hạn của doanh nghiệp.
˜Ngoài các vai trò trên báo cáo kế toán tài chính còn có nhiều tác dụng đối với người sử dụng các
thông tin tài chính.

Trang 8


+ Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp: dựa vào các báo cáo kế toán tài chính để nhận biết và đánh
giá khả năng, tiềm lực của doanh nghiệp, tình hình vốn công nợ, thu chi tài chính để ra các quyết định
cần thiết, thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của doanh nghiệp.
+ Đối với các tổ chức cá nhân ngoài doanh nghiệp như các nhà đầu tư, chủ nợ, ngân hàng các đối tác
kinh doanh ... Dựa vào các báo cáo kế toán tài chính để doanh nghiệp để phân tích, đánh giá thực trạng
kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp, để quyết định phương hướng và quy mô đầu tư, khả năng
hiệp tác, liên doanh cho vay.
+Đối với các cơ quan chức năng, cơ quan quản lý nhà nước dựa vào các báo cáo kế toán tài chính
doanh nghiệp để kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh
nghiệp có đúng chính sách, chế độ và pháp luật không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình
thực hiện nghiệp vụ với Nhà nước và khách hàng.

Trang 9


1.2.2. Yêu cầu và trách nhiệm, thời hạn lập và gửi báo cáo tài chính
Theo quyết định 167/ Bộ Tài Chính tất cả các doanh nghiệp phải lập và gửi các báo cáo tài chính
theo đúng quy định của chế độ kế toán doanh nghiệp. Riêng báo cáo lưu chuyển tiền tệ tạm thời chưa
quy định là báo cáo bắt buộc phải lập và gửi nhưng khuyến khích các doanh nghiệp lập và sử dụng các
báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
+ Yêu cầu đối với báo cáo tài chính
-

Báo cáo tài chính phải được lập đúng mẫu theo quy định của Bộ tài chính đã ban hành như các
bảng CĐKT, báo cáo kết quả kinh doanh, thuyết minh báo cáo tài chính.

-

Báo cáo tài chính phải đảm bảo độ chính xác nghĩa là các thông tin số liệu trên báo cáo phải
phản ánh đúng thực trạng tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình sản xuất kinh doanh của công
ty.

-

Báo cáo tài chính phải đảm bảo tính khách quan đó là việc báo cáo tài chính được công khai
cho các cơ quan chức năng, các nhà đầu tư…

-

Báo cáo tài chính phải được trình bày một cách rõ ràng, dễ hiểu đảm bảo cho quá trình kiểm tra,
đối chiếu được thuận lợi.

+Thời hạn lập và gửi báo cáo tài chính doanh nghiệp:
Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp phải lập và gửi vào cuối quý, cuối năm tài chính cho các cơ
quan quản lý Nhà nước và cho các doanh nghiệp cấp trên theo quy định. Trường hợp có công ty con
( công ty trực thuộc ) thì phải gửi kèm bản sao báo cáo tài chính cùng quý, cùng năm của công ty con.
-

Đối với các doanh nghiệp Nhà nước. Các doanh nghiệp hạch toán độc lập và hạch toán phụ

thuộc Công ty, và các doanh nghiệp hạch toán độc lập không nằm trong các Công ty, thời hạn gửi báo
cáo tài chính năm chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Đối với Công ty, thời hạn
gửi báo cáo tài chính chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
-Đối với các doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, thời hạn gửi báo cáo tài chính chậm nhất là
30 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
- Đối với các công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các loại
hình hợp tác xã, thời hạn gửi báo cáo tài chính chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
-Đối với các doanh nghiệp có năm tài chính kết thúc không vào ngày 31/12 hàng năm thì phải gửi
báo cáo tài chính quý IV (quý kết thúc) vào ngày 31/12 và có số luỹ kế từ đầu năm tài chính đến hết
ngày 31/12
+Nơi nhận báo cáo tài chính

Trang 10


Nơi nhận báo cáo
Sở thống DN cấp

Các loại doanh

Thời hạn

Sở tài

Cục

nghiệp

lập báo cáo

chính

thuế



trên

đăng ký KD

x

x

x

x

x

x

x

x

1. Doanh nghiệp Quý, năm
nhà nước
2.Doanh nghiệp

Năm

có vốn ĐTNN
3.Các loại doanh

Năm

nghiệp khác

Cơ quan

x

x
x

1.2.3.Nội dung của hệ thống báo cáo tài chính
- Báo cáo tài chính quy định cho các doanh nghiệp bao gồm 4 biểu mẫu sau:
+Bảng cân đối kế toán

(Mẫu số B01-DN)

+Bảng kết quả hoạt động kinh doanh

(Mẫu số B02-DN)

+Lưu chuyển tiền tệ

( Mẫu số B03-DN)

+Thuyết minh báo cáo tài chính

(Mẫu số B09- DN)

 Ngoài ra ,để phục vụ yêu cầu quản lý kinh tế tài chính,yêu cầu chỉ đạo điều hành các nghành,các
Công ty ,các tập đoàn sản xuất, liên hiệp xí nghiệp, các công ty liên doanh ... có thể quy định thêm các
báo cáo tài chính chi tiết khác.
a. Bảng cân đối kế toán

Khái niệm và kết cấu của bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh
nghiệp theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm nhất định, là tài liệu quan trọng
để phân tích đánh giá một cách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và triển
vọng kinh tế tài chính của doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán chia làm hai phần: Phần “Tài sản” và phần “Nguồn vốn” được trình bày
dưới dạng 1 phía (bảng cân đối báo cáo ) hoặc hai phía (bảng cân đối kế toán ).
+ Phần tài sản
- Phản ánh hai loại tài sản là TSCĐ và TSLĐ. Xét về mặt kinh tế, các chỉ tiêu của bảng cân đối kế toán
thể hiện vốn bằng tiền của doanh nghiệp có ở thời điểm lập bảng cân đối kế toán .Xét về mặt pháp lý
,đây là vón thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.
+ Phần nguồn vốn

Trang 11


-

Phản ánh các nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp bao gồm công nợ và vốn chủ sở
hữu .Xét về mặt kinh tế ,đây là các chỉ tiêu thể hiện các nguồn tài sản mà doanh nghiệp hiện có.
Xét về mặt pháp lý, đây là các chỉ tiêu thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vật chất của doanh
nghiệp đối với các đối tượng góp vốn cho doanh nghiệp kinh doanh.

+ Bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng đối với việc đánh giá khái quát tình hình và kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế tài chính của doanh
nghiệp.Các đặc điểm sau đây của nó rất hữu ích cho việc phân tích tài chính doanh nghiệp :
-

Các chỉ tiêu được phản ánh dưới hình thức giá trị nên nó cho phép tổng hợp, đánh giá toàn bộ
tài sản.

-

Bảng cân đối kế toán bao gồm hai phần tài sản và nguồn vốn,do vậy tổng tài sản và tổng nguồn
vốn luôn bằng nhau.

Thông qua các đẳng thức của bảng cân đói kế toán,ta có thể đánh giá được thực trạng tài chính của
doanh nghiệp.
b. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

.Khái niệm
Báo cáo hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và
kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp chi tiết theo từng hoạt dộng kinh doanh
chính và các hoạt động kinh doanh khác, tình hình thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước về thuế và các
khoản phải nộp khác.

. Kết cấu của bảng báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh gồm 3 phần :

Phần I :Lãi ,lỗ.
Phần này phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh ,hoạt động tài chính và hoạt động bất thường.
Phần II:Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước.
Phần này phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về thuế, phí,lệ phí và các khoản phải
nộp khác.
Phần III : Thuế GTGT được khấu trừ, đã khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT được
giảm, thuế GTGT hàng bán nội địa.

Trang 12


Phản ánh số thuế GTGT được khấu trừ đã khấu trừ, còn được khấu trừ cuối kỳ; thuế GTGT được
giảm, đã giảm và còn được giảm cuối kỳ thuế GTGT hàng bán nội địa còn phải nộp đầu kỳ, thuế
GTGT đầu ra phát sinh, thuế GTGT hàng bán nội địa đã nộp vào Nhà nước và còn phải nộp cuối kỳ.
* Nguồn gốc số liệu để lập báo cáo
- Căn cứ vào báo cáo kết quả kinh doanh của kỳ trước
- Căn cứ vào sổ kế toán trong kỳ dùng cho các tài khoản từ loại 5 cho đến loại 9 và tài khoản 133 “
Thuế GTGT được khấu trừ’’.Tài khoản 333 “ Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước’’.
c. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

 Khái niệm mục đích lập báo cáo
Nếu bảng cân đối kế toán cho biết nguồn lực của cải và nguồn gốc của những tài sản đó; báo cáo
kết quả kinh doanh cho biết thu nhập và chi phí phát sinh để tính kết quả lãi lỗ trong kỳ kinh doanh thì
báo cáo lưu chuyển tiền tệ được trả lời các vấn đề liên quan đến luồng tiền vào, ra trong doanh nghiệp,
tình hình tài trợ đầu tư bằng tiền của daonh nghiệp trong từng thời kỳ.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng
tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.
Dựa vào báo cáo lưu chuyển người ta có thể đánh giá khả năng tạo ra tiền, sự biến động của tài sản
thuần của doanh nghiệp, khả năng thanh toán của doanh nghiệp và dự đoán luồng tiền trong kỳ tiếp
theo.
Chính vì vậy, mục đích của báo cáo lưu chuyển tiền tệ là nhằm trình bày cho người sử dụng biết tiền
tệ được sinh ra bằng cách nào và doanh nghiệp đã sử dụng chúng như thế nào trong kỳ báo cáo. Người
sử dụng báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ tiến hành phân tích, đánh giá và sử dụng các mặt chính sau đây:
1-Dự đoán các lượng tiền mang lại từ hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp thông qua việc xem
xét việc thu và chi tiền trong quá khứ.
2-Đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
3- Chỉ ra mối quan hệ giữa lãi (lỗ) ròng và luồng tiền tệ bởi doanh nghiệp sẽ không thu được lợi nhuận
nếu hoạt động kinh doanh của họ thiếu tiền.
4- Xác định nhu cầu tài chính cần thiết trong tương lai của doanh nghiệp như nhu cầu đầu tư TSCĐ,
đầu tư nghiên cứu sản phẩm mới, đánh giá khả năng sinh lợi ...

Nội dung và kết cấu của báo cáo
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần :
Phần I: Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh:

Trang 13


Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp như tiền bán hàng tiền thu từ các khoản phải thu thương mại, các chi phí bằng
tiền như tiền trả cho người cung cấp (trả ngay trong kỳ là khoản tiển trả cho các khoản nợ từ kỳ trước ),
tiền thanh toán cho công nhân viên về tiền lương và BHXH ...các khoản chi phí khác bằng tiền (chi phí
văn phòng phẩm, công tác phí ...)
Phần II : Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư .
Phản ánh dòng tiền thu vào và chi ra có liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp .
Hoạt động đầu tư bao gồm :
-Đầu tư cơ sở vật chất cho bản thân doanh nghiệp hoạt động xây dựng cơ bản, mua sắm TSCĐ.
-Đầu tư vào các đơn vị khác dưới hình thức góp vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán, cho vay không
phân biệt đầu tư ngắn hạn hay dài hạn. Dòng tiền lưu chuyển được tính toàn bộ các khoản thu do thanh
lý, bán TSCĐ, thu hồi các khoản đầu tư vào các đơn vị khác ... và các khoản chi mua sắm, xây dựng
TSCĐ, chi để đầu tư vào các đơn vị khác .
Phần III. Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính
Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính của doanh
nghiệp. Hoạt động tài bao gồm các nghiệp vụ làm tăng, giảm vốn kinh doanh của doanh nghiệp như
chủ doanh nghiệp góp vốn, vay vốn (không phân biệt vay dài hạn hay vay ngắn hạn ), nhận vốn liên,
doanh phát hành cổ phiếu, trái phiếu trả nợ vay ...
Dòng tiền lưu chuyển được tính bao gồm toàn bộ các khoản thu, chi liên quan như tiền vay nhận
được, tiền thu được như góp vốn liên doanh bằng tiền, do phát hành cổ phiếu trái phiếu bằng tiền, thu
lãi tiền gửi.
Phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo phương pháp gián tiếp và trực tiếp. Sự khác biệt ở hai
phương pháp này là điểm xuất phát và căn cứ để xác định lưu chuyển tiền của hoạt động kinh doanh.
Đối với lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính cách lập của hai phương pháp là
giống nhau.

Trang 14


-Phương pháp gián tiếp
Theo phương pháp này báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập bằng cách điều chỉnh lợi tức trước thuế
của hoạt động sản xuất, kinh doanh khỏi ảnh hưởng của các nghiệp vụ không trực tiếp thu tiền huặc chi
tiền đã làm tăng, giảm lợi tức loại trừ các khoản lãi lỗ của hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính đã
tính vào lợi nhuận trước thuế, điều chỉnh các khoản mục thuộc vốn lưu động .
-Phươ

ng pháp trực tiếp: Theo phương pháp này báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập bằng

cách xác định và phân tích trực tiếp các khoản thực thu, chi bằng tiền trên các sổ kế toán vốn bằng tiền
theo từng loại hoạt động và theo nội dung thu chi .
d. Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính là báo cáo nhằm thuyết minh và giải trình bằng lời, bằng số liệu một
số chỉ tiêu kinh tế - tài chính chưa được thể hiện trên các báo cáo tài chính trên. Bản thuyết minh này
cung cấp thông tin bổ sung cần thiết cho việc đánh giá kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong năm
được chính xác.
Khi lập báo cáo thuyết minh cần chú ý :
-Phần trình bày bằng lời phải ngắn gọn, rõ ràng dễ hiểu. Phần trình bày bằng số liệu phải thống
nhất trên số liệu các báo cáo khác .
- Đối với báo cáo quý, các chỉ tiêu thuộc phần chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp phải thống
nhất trong cả niên độ kế toán. Nếu có sự thay đổi phải trình bày lý do thay đổi.
-Trong các biểu số liệu, các cột số liệu thể hiện số kế hoạch của kỳ báo cáo, cột số thực hiện kỳ trước
thể hiện số liệu của kỳ ngay trước kỳ báo cáo.
- Các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp chỉ sử dụng trong thuyết minh
báo cáo tài chính năm.
Theo chế độ kế toán hiện hành thì căn cứ vào 4 chuẩn mực kế toán đã ban hành theo Quyết định số
48/QĐ/BTC ngày 19/04/2006 của bộ tài chính (mẫu B09-DN ) đã được giải thích và bổ xung một số
chỉ tiêu.
Các báo cáo tài chính doanh nghiệp có mối liên hệ mật thiết với nhau, mỗi sự thay đổi một chỉ tiêu
trong báo cáo này hoặc trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng tới báo cáo kia, trình tự đọc hiểu và kiểm tra
các báo cáo tài chính phải được bắt đầu từ báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ
kết hợp với bảng cân đối kế toán kế toán để đọc kiểm tra bảng cân đối kế toán này .

Trang 15


CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LÂP PHÂN TÍCH BÁO
CÁO TÀI CHÍNH VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ SẢN XUẤT KNH
DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐO ĐẠC BẢN ĐỒ VÀ KIẾN
TRÚC XÂY DỰNG QUẢNG NINH
2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần đo đạc bản đồ và kiến trúc xây dựng Quảng
Ninh
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần đo đạc bản đồ và kiến
trúc xây dựng Quảng Ninh

Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN ĐO ĐẠC BẢN ĐỒ VÀ KIẾN TRÚC
XÂY DỰNG QUẢNG NINH
Địa chỉ: Đường Hậu Cần phường Bãi Cháy, Tỉnh Quảng Ninh
Điện thoại:
Fax:
Mã số thuế: 0104638654
Tài khoản số:
Công ty cổ phần đo đạc bản đồ và kiến trúc xây dựng Quảng Ninh là doanh nghiệp cổ
phần hoạt động sản xuất kinh doanh theo giấy chứng nhận dăng ký doanh nghiệp số
, do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Thành phố Quảng Ninh cấp lần đầu ngày

04/06/2013.

5700866097

Vị trí địa lý

trên rất thuận lợi về thương mại, giao thông, đủ điều kiện để giao lưu hàng hoá.

Trang 16


2.1.2 Tổ chức quản lý và sản xuất tại Công ty cổ phần đo đạc bản đồ và kiến trúc xây
dựng Quảng Ninh
2.1.2.1. Tổ chức bộ máy quản lý
Sơ đồ bộ máy tổ chức

Đại hội đồng cổ đông

Giám đốc

Phòng TC-HC

Phòng kế toán
tài vụ

Phòng kỹ thuật
sản xuất

Phòng kinh
doanh

Hệ thống cửa hàng và văn phòng đại diện

Đội xây dựng

Ghi chú: - Quan hệ trực tuyến:
- Quan hệ chức năng


Quản lý theo trực tuyến: Là mọi công việc được giao cho từng đơn vị và quan hệ

quyền hành được phân định với một cấp trên trực tuyến, trực tuyến ở đây là giám đốc giao trực

Trang 17


tiếp cho phó giám đốc, phó giám đốc giao trực tiếp cho các phòng ban, các đội trong từng dây
chuyền sản xuất.
Ưu điểm: Quản lý theo trực tuyến giúp cho các phòng ban Công ty thể hiện được

o

chức năng của mình, tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ công nhân viên
trong từng lĩnh vực, phát huy tính sáng tạo trong công việc.
Nhược điểm: Công việc giải quyết chưa kịp thời

o

Nhiệm vụ, chức năng của từng bộ phận trong bộ máy tổ chức
* Đại hội đồng cổ đông: Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao
nhất của Công ty cổ phần, quyết định những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến sự tồn tại và
hoạt

động

của

Công

ty.

Đại hội đồng cổ đông làm việc theo chế độ tập thể, thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình
chủ yếu thông qua kỳ họp của Đại hội đồng cổ đông, do đó Đại hội đồng cổ đông phải họp ít
nhất mỗi năm một lần
* Giám đốc: Là người trực tiếp quản lý, là đại diện pháp nhân của công ty trước pháp
luật; đồng thời là người chịu trách nhiệm trước công ty về về hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty đi đôi với việc đại diện cho quyền lợi của toàn cán bộ công nhân viên chức trong
đơn vị.
* Phòng Kinh doanh:
Phòng Kinh doanh thực hiện chức năng xây dựng và kiểm soát kế hoạch sản xuất kinh
doanh của công ty trong ngắn hạn, trung hạn của công ty
* Phòng Kỹ thuật:
Phòng Kỹ thuật thực hiện các công việc liên quan đến việc chế biến thanh nhựacao su.
* Phòng Tài chính – Kế toán:
- Quản lý tài chính
- Lập kế hoạch, kiểm tra, Đánh giá việc sử dụng các nguồn tài trợ.
- Lập kế hoạch ngân sách, kiểm tra và Đánh gia việc thực hiện ngân sách.
- Lập dự báo rủi ro tài chính và đề xuất các biện pháp hạn chế, giảm thiểu rủi ro, tổn thất
tài chính đối với các hoạt động kinh doanh, đầu tư của công ty.

Trang 18


* Quản lý công tác tài chính kế toán: Thu nhập và kiểm tra các dữ liệu, thông tin, chứng
từ, tài liệu kế toán theo đúng các quy định pháp luật hiện hành và quy chế quản lý của công ty.
* Phòng Tổ chức – Hành chính
Phòng Tổ chức – Hành chính là bộ phận trực thuộc công ty có chức năng quản trị hành
chính theo yêu cầu phát triển hoạt động kinh doanh của công ty trong từng thời kỳ.
* Phòng kỹ thuật sản xuất: Có trách nhiệm đảm bảo các phân xưởng hoạt động đều đặn và
tìm ra những cách thực tiễn để thiết kế những sản phẩm mới và những qui trình sản xuất
mới với việc đảm bảo chất lượng kỹ thuật, tiết kiệm chi phí và đơn giản trong sản xuất.
* Hệ thống cửa hàng và phòng đại diện:
Tạo thế thuận lợi về giao dịch, đẩy mạnh xuất khẩu

2.1.2.2. Tổ chức bộ máy sản xuất
Sơ đồ bộ máy sản xuất
Khảo
sát thi
công

Thi
công

Hoàn
thiện

Kiểm
tra

Nghiệm
thu

Các giai đoạn sản xuất
-

Giai đoạn khảo sát thi công: Là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình thi công một

công trình, nó quyết định trực tiếp đến quá trình tồn tại của công trình. Ở giai đoạn này, sau khi
nhận bàn giao địa điểm, công ty sẽ thành lập ngay đội khảo sát thiết kế, được trang bị đầy đủ
các thiết bị, dụng cụ khảo sát thiết kế cho dự án. Đội khảo sát sẽ tiến hành ngay công tác đo
đạc, kiểm tra hệ thống cọc mốc. Từ đó thiết kế và chọn phương án thi công hợp lý.
Giai đoạn thi công: Là giai đoạn thực hiện các bước theo tiến độ được lập ra dựa trên bản
thiết kế kỹ thuật do bộ phận kỹ thuật cung cấp
Giai đoạn hoàn thiện: Thực hiện các công tác hoàn thiện cần thiết nhằm đảm bảo chất
lượng và tính thẩm mỹ của công trình.
Giai đoạn nghiệm thu: Tiến hành kiểm tra thực tế các khoản mục công trình đúng như thiết
kế được duyệt thì tiến hành nghiệm thu.

Trang 19


-

Giai đoạn bàn giao: Khi công trình đã được nghiệm thu xong thì tiến hành bàn giao cho

bên chủ đầu tư.

2.1.3 Những chức năng, nhiệm vụ chính của DN
2.1.3.1 Chức năng
Công ty hoạt động với những chức năng cụ thể:
- Xây dựng các công trình dân dụng.
- Trang trí nội thất.
- Sản xuất cấu kiện bê tông, phụ tùng, phụ kiện kim loại cho xây dựng.
- Kinh doanh vật tư, vật liệu xây dựng.
- Xây dựng những công trình kỹ thuật hạ tầng.
2.1.3.2 Nhiệm vụ
Bảm đảm chất lượng sản phẩm, quán triệt nguyên tắc tự chủ là chính, cố gắng tự trang trải bù
đắp chi phí làm ăn có lãi.
- Từng bước ứng dụng thiết bị khoa học kỹ thuật công nghệ mới vào sản xuất. Mở rộng sản
xuất, hợp tác với nước ngoài, nâng cao năng lực sản xuất cùng thúc đẩy công ty đi lên.
- Không ngừng đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật nghiệp vụ,
chính trị tư tưởng và quản lý cán bộ công nhân viên.
- Chấp hành đúng các chế độ quản lý kinh tế của nhà nước, thực hiện đầy đủ các khoản nghĩa
vụ nộp ngân sách nhà nước.
- Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ công nhân

2.1.4 Tổ chức công tác kế toán tại Công ty cổ phần đo đạc bản đồ và kiến trúc xây
dựng Quảng Ninh
2.1.4. 1 Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty cổ phần đo đạc bản đồ và kiến trúc xây
dựng Quảng Ninh
Công ty cổ phần đo đạc bản đồ và kiến trúc xây dựng Quảng Ninh, với đặc điểm là
một doanh nghiệp tư nhân hoạt động độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân với quy mô
nhỏ, để hạch toán hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, Công ty đã lựa chọn
Trang 20


áp dụng mô hình bộ máy kế toán tập trung. Đây là mô hình bộ máy kế toán một cấp, đơn
vị kế toán độc lập chỉ mở một bộ sổ kế toán. Công ty có một phòng kế toán, các hoạt
động kinh tế tài chính đều báo cáo về phòng kế toán để theo dõi, hạch toán kế toán.
Phòng Kế toán có nhiệm vụ tập hợp, phân loại chứng từ để ghi chép vào các Sổ kế
toán tổng hợp, chi tiết. Lập báo cáo hàng tháng và quyết toán theo năm.
* Chức năng và nhiệm vụ của phòng kế toán
- Cung cấp đầy đủ, kịp thời toàn bộ thông tin về hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp trong từng thời kỳ, giúp Giám đốc quản lý và điều hành hoạt động đạt kết quả
cao.
- Phản ánh toàn bộ tài sản hiện có của công ty, cũng như sự vận động của tài sản,
giúp Giám đốc quản lý chặt chẽ về tài sản và nâng cao hiẹu quả sử dụng tài sản trong
công ty.
- Phản ánh toàn bộ nguồn vốn sản xuất kinh doanh, giúp Giám đốc chủ động trong
việc sử dụng nguồn vốn.
- Phản ánh đầy đủ và chính xác chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất, tính toán
được kết quả sản xuất kinh doanh, kiểm tra việc thực hiện nguyên tắc, tự bù đắp chi phí
và có lãi trong sản xuất kinh doanh, thu hồi kịp thời công nợ, quay vòng vốn kinh doanh
của công ty.
- Phản được kết quả thu nhập của người lao động nhằm khuyến khích người lao
động nâng cao thành quả lao động của mình.
* Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán
Sơ đồ 2.2

KẾ TOÁN TRƯỞNG

Tổ chức bộ máy kế toán công ty

Kế toán vật tư hàng
hóa và TSCĐ

Kế toán về thanh toán
và công nợ

Thủ quỹ

Trang 21


Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo hình thức tập trung, nghĩa là phòng Kế
toán thực hiện toàn bộ công tác Kế toán - Tài chính của công ty từ xử lý chứng từ, ghi Sổ
kế toán tổng hợp, Sổ kế toán chi tiết đến việc lập Báo cáo kế toán và các Báo cáo tài chính.
Phòng Kế toán của Công ty cổ phần đo đạc bản đồ và kiến trúc xây dựng Quảng Ninh bao
gồm 04 người:
- 01 Kế toán trưởng;
- 02 Kế toán viên;
- 01 Thủ quỹ.
Đứng đầu phòng Kế toán chịu trách nhiệm chung là Kế toán trưởng (kiêm Trưởng
phòng Kế toán), hai nhân viên kế toán và Thủ quỹ làm việc dưới quyền của Kế toán
trưởng.
Mỗi nhân viên sẽ đảm nhận chức năng nhiệm vụ của mình dưới sự chỉ đạo tập
trung thống nhất của Kế toán trưởng, đảm bảo sự chuyên môn hoá, đồng thời phát huy
được trình độ của mỗi nhân viên.
Cụ thể nhiệm vụ của mỗi người như sau:
- Kế toán trưởng (kiêm Kế toán tổng hợp):
+ Thiết lập tổ chức bộ máy kế toán của công ty và trực tiếp quản lý, điều hành công
tác kế toán phù hợp với đặc điểm, tình hình hoạt động kinh doanh của công ty;
+ Chịu trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu, tổng hợp các số liệu từ các bộ phận khác
chuyển sang, thực hiện các bút toán kết chuyển khóa sổ kế toán cuối kỳ, xác định kết
quả kinh doanh, lập các Báo cáo tài chính và Báo cáo kế toán;
+ Tổ chức lưu giữ, bảo quản các chứng từ, tài liệu, sổ sách kế toán;
+ Cung cấp các thông tin, số liệu về kế toán cho Giám đốc và cho các cơ quan có
thẩm quyền khi được yêu cầu. Đồng thời phải chịu trách nhiệm trước Pháp luật, Nhà
nước về số liệu báo cáo.
- Kế toán vật tư hàng hóa và tài sản cố đinh:
Trang 22


+ Hàng ngày theo dõi tình hình nhập - xuất - tồn vật tư, hàng hóa của Công ty;
+ Có nhiệm vụ theo dõi tình hình biến động về TSCĐ luân chuyển trong doanh
nghiệp, tính toán và phân bổ chi phí khấu hao TSCĐ thật chính xác.
- Kế toán thanh toán và công nợ:
+ Có trách nhiệm hạch toán thu chi tiền mặt, tiền gửi ngân hàng qua các chứng từ;
+ Có nhiệm vụ tính lương phải trả cho người lao động, tính toán và theo dõi trích
nộp các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ theo quy định;
+ Theo dõi phần thanh toán với khách hàng và các khoản công nợ. Ghi sổ hàng
ngày các TK 111, 112, 131, 331, 141,…
- Thủ quỹ:
+ Chịu trách nhiệm về thu chi tiền mặt hàng ngày căn cứ vào chứng từ thu chi, qua
các chứng từ gốc theo dõi và sử dụng vốn đúng mục đích, ghi sổ quỹ mỗi ngày.
+ Khi có yêu cầu của cấp trên, thủ quỹ và các bộ phận liên quan kiểm kê lại tiền
mặt hiện có. Nếu phát hiện thừa hoặc thiếu thì cùng kế toán tìm hiểu nguyên nhân và
giải quyết.
2.1.4.2. Các vấn đề khác liên quan đến tổ chức công tác kế toán
* Chế độ kế toán áp dụng
Công ty cổ phần đo đạc bản đồ và kiến trúc xây dựng Quảng Ninh áp dụng đầy đủ
chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa được ban hành theo Quyết định số
48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính. Cụ thể:
- Kỳ kế toán áp dụng: kỳ kế toán năm (mười hai tháng, tính từ ngày 01 tháng 01
đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương lịch).
- Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán: Việt Nam đồng (VNĐ)
- Hình thức kế toán áp dụng: Nhật ký chung
- Phương pháp tính thuế GTGT: theo phương pháp khấu trừ
- Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Kê khai thường xuyên
- Kỳ lập báo cáo: theo tháng, quý, năm.
Trang 23


* Tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản tại Doanh nghiệp
Doanh nghiệp thực hiện tổ chức, vận dụng hệ thống chứng từ, tài khoản ban hành
theo Quyết định số 48/2006 ngày 14/09/2006 của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính.
* Tổ chức hệ thống sổ sách kế toán
Theo Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14 tháng 09 năm 2006 về chế độ kế
toán doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định, để phù hợp với sản xuất kinh doanh thực tế của
công ty, hiện nay Công ty cổ phần đo đạc bản đồ và kiến trúc xây dựng Quảng Ninh
đang áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung.
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký chung là: Tất cả các nghiệp vụ
kinh tế, tài chính phát sinh đều phải được ghi vào sổ Nhật ký, mà trọng tâm là sổ Nhật
ký chung, theo trình tự thời gian phát sinh và theo nội dung kinh tế (định khoản kế toán)
của nghiệp vụ đó. Sau đó lấy số liệu trên các sổ Nhật ký để ghi Sổ Cái theo từng nghiệp
vụ phát sinh.
Hình thức kế toán Nhật ký chung gồm các loại sổ chủ yếu sau:
- Sổ Nhật ký chung, Sổ Nhật ký đặc biệt
- Sổ Cái
- Các sổ, thẻ kế toán chi tiết
Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký chung

Chứng từ kế toán

Sổ Nhật ký
đặc biệt

SỔ NHẬT KÝ CHUNG

Sổ, thẻ kế toán
chi tiết

Sơ đồ 2.3
SỔ CÁI
TRÌNH TỰ GHI SỔ KẾ TOÁN
THEO HÌNH THỨC KẾ TOÁN NHẬT KÍ CHUNG

Bảng cân đối số
phát sinh

BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Bảng tổng hợp
chi tiết

Trang 24


Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng, hoặc định kì
Quan hệ đối chiếu, kiểm tra

(a) Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ đã kiểm tra được dùng làm căn cứ ghi sổ,
trước hết ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ Nhật ký chung, sau đó căn cứ số liệu đã ghi trên
sổ Nhật ký chung để ghi vào Sổ Cái theo các tài khoản kế toán phù hợp. Nếu đơn vị có
mở sổ, thẻ kế toán chi tiết thì đồng thời với việc ghi sổ Nhật ký chung, các nghiệp vụ
phát sinh được ghi vào các sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan.
Trường hợp đơn vị mở các sổ Nhật ký đặc biệt thì hàng ngày, căn cứ vào các chứng
từ được dùng làm căn cứ ghi sổ, ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ Nhật ký đặc biệt liên
quan. Định kỳ (3, 5, 10... ngày) hoặc cuối tháng, tuỳ khối lượng nghiệp vụ phát sinh,
tổng hợp từng sổ Nhật ký đặc biệt, lấy số liệu để ghi vào các tài khoản phù hợp trên Sổ
Cái, sau khi đã loại trừ số trùng lặp do một nghiệp vụ được ghi đồng thời vào nhiều sổ
Nhật ký đặc biệt (nếu có).
(b) Cuối tháng, cuối quý, cuối năm, cộng số liệu trên Sổ Cái, lập Bảng cân đối số
phát sinh. Sau khi đã kiểm tra đối chiếu khớp, đúng số liệu ghi trên Sổ Cái và bảng tổng
Trang 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x