Tải bản đầy đủ

bài tập dân sự 1

Tình huống thứ 8:
Nguyên đơn: Anh Phạm Văn Hợp – Sinh năm: 1966
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hải – Sinh năm: 1965
Theo đơn kiện ngày 07/11/2012 và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn – anh
Phạm Văn Hợp trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Hải có mối quan hệ quen biết
làm ăn từ năm 1985. Ngày 16/12/2011, chị Hải đặt vấn đề vay của anh số tiền
609.600.000đ ( Sáu trăm lẻ chín triệu sáu trăm nghìn đồng) mục đích để kinh
doanh. Hai bên thoả thuận lãi suất 0,3% một tháng. Thời hạn trả gốc và lãi là
ngày 16/06/2012. Sau đó anh và chị Hải tiến hành viết giấy nhận nợ và giao đủ
số tiền trên. Anh Hợp khẳng định trong giao dịch này chỉ có anh và chị Hải,
không có người thứ ba tham gia. Tài sản anh cho chị Hải vay cũng là tài sản
riêng của anh. Tuy nhiên đến thời hạn trả nợ, chị Hải đã không trả cho anh gốc
và lãi như thoả thuận. Kể từ khi hết thời hạn trả nợ đến nay, anh đã nhiều lần yêu
cầu chị Hải trả khoản nợ vay này nhưng chị Hải vẫn không trả cho anh mà còn
có thái độ đe nẹt, doạ nạt.
Ngoài ra, vào năm 2010, biết anh buôn bán đồ gỗ, chị Hải đã mua của anh
01(một) bộ bàn ghế gỗ trị giá 135.000.000đ ( Một trăm ba lăm triệu đồng) và
còn nợ lại anh 50.000.000đ ( năm mưoi triệu đồng). Anh đã nhiều lần đòi số tiền
mua bàn ghế còn thiếu nhưng chị Hải chưa trả, chỉ đến khi anh làm đơn kiện thì
chị Hải mới viết cho anh giấy biên nhận nợ lại số tiền trên và hẹn sẽ trả số tiền
đó trước 4/2013.

Nay, anh hợp khởi kiện yêu cầu Toà án buộc chị Hải phải trả một lần cho anh
toàn bộ số tiền gốc là 609.600.000đ ( sáu trăm lẻ chín triệu sáu trăm nghìn đồng)
và số tiền lãi suất được tính theo sự thoả thuận hoặc quy định của pháp luật. Anh
còn yêu cầu chị Hải phải trả cho anh một lần toàn bộ số tiền 50.000.000đ ( năm
mươi triệu đồng) kèm theo lãi suất theo quy định của pháp luật.


Bị đơn – Chị Nguyễn Thị Hải có các lời khai tại Toà án như sau: CHị có mối
quan hệ làm ăn với anh Hợp từ lâu. Chị thừa nhận có viết giấy vay nợ với anh
Hợp số tiền 609.600.000đ ( Sáu trăm lẻ chín triệu sáu trăm nghìn đồng) vào
ngày 16/12/2011 kèm theo lãi suất 3% một tháng. Tuy nhiên việc nhận nợ này
xuất phát từ việc chị và anh Hợp làm ăn chung với nhau, cùng nhau mua đất và
xây dựng xưởng xấy ngô tại xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
Do tin tưởng nên hai bên không ký giấy tờ thoả thuận về việc làm chung này.
Sau đó vì không muốn làm chung nữa, anh Hợp đã đề nghị với chi viết giấy vay
nợ số tiền 609.600.000đ (Sáu trăm lẻ chín triệu sáu trăm nghìn đồng), để thoả
thuận lãi suất 3% một tháng và thời hạn trả nợ tính đến ngày 16/6/2012. Hiện tại
chị chưa trả được khoản tiền nào cho anh Hợp.
Chị Hải cũng thừa nhận mua của anh Hợp một bộ bàn ghế và còn nợ lại anh Hợp
số tiền 50.000.000đ ( Năm mươi triệu đồng) và viết giấy nợ khất đến 4/2013 sẽ
trả cho anh Hợp.
Chị Hải thừa nhận trong các giao dịch trên chỉ có chị và anh Hợp tham gia,
ngoài ra không còn ai khác. Tuy nhiên, hiện tại chị không có khả năng trả một
lần toàn bộ số tiền gốc và lãi theo yêu cầu của anh Hợp.

YÊU CẦU ĐỐI VỚI NHÓM
1. Nhận xét về quyền của Toà án cấp sơ thẩm. Nêu rõ căn cứ pháp lý đối với

từng nhận xét.
2. Nêu cách giải quyết của nhóm với tình huống nêu trên. Nêu rõ căn cứ
pháp lý đối với cách giải quyết của nhóm.
3. Đưa ra quan điểm giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật dân sự 2015.

Mở bài:


Vấn đề vay mượn tài sản là một trong những vấn đề thường gặp trong cuộc sống
hàng ngày. Do nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi kinh tế của các bên nên
thường phát sinh những tranh chấp trong hợp đồng vay mượn cũng như mua bán
tài sản. Trên thực tế đây là những loại hợp đồng rất phổ biến vì vậy những tranh


chấp xoay quanh hợp đồng này cũng khá đa dạng và việc giải quyết những tranh
chấp đó không hề đơn giản. Chính vì vậy, qua tình huống trên chúng em sẽ
nghiên cứu và làm sáng tỏ nội dung về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, cho
vay tài sản để từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật dân
sự.

Kết luận:
Qua tình huống thực tế trên chúng ta có thể thấy được tính chất, nội dung của
hợp đồng cho vay, mua bán tài sản và các tranh chấp thường gặp trong các loại
hợp đồng này. Để đáp ứng được sự phát triển của đất nước cũng như thỏa mãn
nhu cầu của người dân, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa việc hoàn thiện các quy
định của pháp luật về hợp đồng mua tài sản, hợp đồng cho vay tài sản nói riêng
và các hợp đồng dân sự nói chung. Đồng thời cần nâng cao ý thức của người
dân, trình độ hiểu biết pháp luật để có thể tham gia vào các quan hệ dân sự một
cách an toàn nhất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.


Các khái niệm:
-

Hợp đồng:
Theo điều 388 BLDS 2005 và theo điều 385 BLDS 2015 quy định: “Hợp

đồng là sự thay đổi giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự.”
-

Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng: Điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng là tổng hợp những yêu cầu pháp lý nhằm đảm bảo cho Hợp đồng
được lập đúng bản chất đích thực của nó. Xuất phát từ bản chất của Hợp
đồng, pháp luật Việt Nam quy định Hợp đồng phải tuân thủ các điều kiện
về chủ thể, nội dung, mục đích, sự tự nguyện và hình thức của Hợp đồng.

-

Hợp đồng vay tài sản:

Theo điều 471 BLDS 2005 và theo điều 463 quy định:” Hợp đồng vay tài sản
là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay;
khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo
đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật
có quy định.”
-

Hợp đồng mua bán tài sản:

+ Khái niệm:
Theo Điều 428 BLDS 2005 quy định:” Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả
thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và
nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.”
Theo Điều 430 BLDS 2015 quy định:’ Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả
thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua
và bên mua trả tiền cho bên bán. Hợp đồng mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử


dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà
ở và luật khác có liên quan.”
-

Trả chậm trả dần:

+Khái niệm:
Theo Điều 461 BLDS 2005 và theo điều 453 BLDS 2015 quy định:
"1. Các bên có thể thoả thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua
trong một thời hạn sau khi nhận vật mua; bên bán được bảo lưu quyền sở hữu
của mình đối với vật bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thoả
thuận khác.
2. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua
có quyền sử dụng vật mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian
sử dụng, trừ trường hợp có thoả thuận khác".
-

Lãi suất:
2005 “Điều 476. Lãi suất 1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng

không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công
bố đối với loại cho vay tương ứng. 2. Trong trường hợp các bên có thoả
thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về
lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương
ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”.
-

Cách tính lãi suất:
2005: Khoản 1 điều 476 :Qui định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận

nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà
nước công bố đối với các loại cho vay tương ứng”. 2015 Điều 468. Lãi suất
1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về
lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản
tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình
hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội


quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp
gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được
quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. 2.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ
lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức
lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×