Tải bản đầy đủ

Tiểu luận tình huống quản lý nhà nước ngạch chuyên viên: “ Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC trên địa bàn huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu

Lời nói đầu

Hiến pháp năm 1992 của nớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam CHXHCNVN) đã khẳng định: Khiếu nại, tố cáo
(KNTC) là một trong các quyền cơ bản của công dân, quyền
này đợc sử dụng không hạn chế ở bất cứ lĩnh vực nào. Luật
KNTC đã cụ thể hóa các quyền KNTC của công dân thành
những chế độ đợc thực thi trên thực tế (Luật KNTC đã đợc
Quốc hội nớc CHXHCNVN thông qua ngày 2/2/1998, sửa đổi
bổ sung năm 2004). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để
công dân thực hiện quyền KNTC của mình cũng nh các cơ
quan nhà nớc, trong đó các thanh tra các cấp, thanh tra cấp
huyện đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức tiếp dân,
giải quyết KNTC theo thẩm quyền quy định của pháp luật,
góp phần phát huy dân chủ, tăng cờng pháp chế xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích nhà nớc, quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, cơ quan tổ chức.
Giải quyết KNTC đúng quy định của pháp luật thể hiện
bản chất tốt đẹp của nhà nớc ta. Những quyết định hành vi
trái pháp luật của cơ quan, cán bộ, công chức nhà nớc hoặc
công dân bị xử lý nghiêm minh thì quan hệ giữa nhân dân

với Đảng và Nhà nớc đợc củng cố ngày một vững chắc, dân
chủ đợc phát huy, tính tích cực sáng tạo của nhân dân đợc
nâng cao. Trong những năm qua thông qua công tác tiếp
dân, nỗ lực giải quyết KNTC của các cấp, các ngành nói
chung, huyện Than Uyên nói riêng đã phát huy đợc tính dân
chủ trong đời sống xã hội, phát hiện ra nhiều tiêu cực, những


bất cập, kẽ hở trong cơ chế, chính sách của Nhà nớc, các hoạt
động. Các hoạt động này đã góp phần khôi phục lại quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, thu hồi tiền, tài sản bị thất
thoát về cho Nhà nớc, tập thể và công dân bị chiếm đoạt
trái phép, xử lý kỷ luật cán bộ sai phạm, nghiêm khắc với
những kẻ lợi dụng dân chủ trong KNTC để trục lợi, kiến nghị
các giải pháp, bổ sung sửa đổi cơ chế chính sách cho Nhà
nớc, địa phơng, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân
với Đảng và Nhà nớc.
Bên cạnh những việc đã làm đợc trong công tác tiếp
dân, giải quyết KNTC thì trong công tác này ở địa bàn
huyện Than Uyên vẫn còn bộc lộ những bất cập, hạn chế đó
là: Việc tổ chức tiếp dân ở một số phòng ban chuyên môn,
cơ sở xã thị trấn còn chạy theo hình thức cha tuân thủ các
quy trình tiếp công dân, giải quyết KNTC một số nơi cha
đúng pháp luật hoặc giải quyết qua loa đại khái, kéo dài
thời hạn giải quyết và né tránh, đùn đẩy giải quyết đơn th
gây ra những điểm nóng trong giải quyết KNTC, xử lý
tình trạng những kẻ lợi dụng KNTC để vu cáo bôi nhọ chính
quyền, những kẻ kích động lôi kéo quần chúng nhân dân
nên cá biệt ở một số xã bất ổn do khiếu kiện gây ra. Xuất
phát từ tình hình đó, cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô trờng Cán bộ thanh tra, và những kiến thức tiếp thu đợc, em
đã chọn đề tài: Một số giải pháp nhằm tăng cờng công tác
tiếp dân, giải quyết đơn th KNTC trên địa bàn huyện Than
Uyên, tỉnh Lai Châu


Do thời gian nghiên cứu đề tài cũng nh hiểu biết và
kinh nghiệm thực tế cha nhiều, nên đề tài không thể tránh
khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất mong nhận đợc sự
chỉ bảo tận tình của các thầy cô trờng cán bộ thanh tra và
sự góp ý chân thành của đồng nghiệp để em hoàn thành


bản tiểu luận này!
Em xin chân thành cảm ơn!


Phần I
Thực trạng công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố
cáo trên địa bàn huyện
Than Uyên Lai Châu
I. Đặc điểm chung
Than uyên mang nét đặc thù của huyện miền núi vùng
cao Tây Bắc, nằm men theo chân dãy núi Hoàng Liên Sơn,
địa hình chia cắt bởi nhiều suối nhỏ và có một con sông
chính là sông Nậm Mu. Là nơi sinh sống của 7 dân tộc: Thái,
Kinh, Hmông, Dáy, Lào, Khơ mú, Dao. Kinh tế huyện thuần
nông với tập quán canh tác lâu đời trên đất dốc của đồng
bào dân tộc, hệ thống giao thông quốc lộ 32 chạy dọc theo
huyện và quốc lộ 279 cắt ngang nối liền với các tỉnh bạn Lào
Cai, Yên Bái, Sơn La. Ngoài ra, còn có hệ thống đờng liên xã
với 100% số xã có đờng ô tô đến trung tâm xã. nhờ có điều
kiện địa lý, đặc biệt nhờ hệ thống suối, sông có lu vực cao
nên trên con sông Nậm Mu đang diễn ra công tác xây dựng 2
đập thủy điện lớn: Bản Chát, Huội Quảng trong hệ thống
thuỷ điện quốc gia Tà Pú Sơn La, những lợi ích tích cực
của việc xây dựng hệ thống thủy điện cùng với thế mạnh các
sản phẩm từ cây trồng nông nghiệp, công nghiệp hứa hẹn
kinh tế huyện có sự chuyển biến mạnh mẽ, các nguồn thu đợc
đa dạng từ kinh tế nông, lâm, ng nghiệp và dịch vụ.
Cùng với sự phát triển kinh tế và sự quan tâm đầu t
đồng đều của Nhà nớc từ các chơng trình theo QĐ 186/CP,
135/CP, đầu t tái định c thủy điện làm cho diện mạo nông
thôn Than Uyên ngày càng đợc đổi mới, có cơ sợ hạ tầng thủy


điện, đờng giao thông nông thôn, trờng học, trạm xá và các
công trình phúc lợi đợc đầu t xây dựng góp phần nâng cao
cuộc sống cho nhân dân. Tuy nhiên mặt trái của quá trình
phát triển, ảnh hởng không tốt nh việc xây dựng thủy điện
đã thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, các vấn đề nảy sinh
từ việc mở rộng các tuyến quốc lộ, hệ thống đờng nội thị đã
làm phát sinh những tiêu cực, bất cập của cơ chế, chính sách
trong giải phóng mặt bằng, tái định c cho các hộ dân, cấp
đất, mua bán đất đai trái phép, không đúng thẩm quyền,
thất thoát trong đầu t xây dựng cơ bản,Từ các vấn đề này
phát sinh khiếu nại, tố cáo. Nếu giải quyết không tốt dễ trở
thành điểm nóng, ảnh hởng đến các chơng trình, công
trình quốc gia, huyện, tỉnh.
Từ đặc điểm trên Huyện ủy, HĐND, UBND huyện thờng
xuyên quan tâm chỉ đạo các cấp, các ngành, đặc biệt là cơ
quan Thanh tra huyện trong công tác tổ chức tiếp dân, giải
quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền, triệt để trên địa
bàn không để phát sinh điểm nóng về KNTC làm ảnh hởng đến tình hình chung của huyện, góp phần ổn định
an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo tiền đề cho
việc phát triển kinh tế xã hội không ngừng nâng cao mọi
mặt đời sống cho nhân dân.
II. Thực trạng công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại,
tố cáo trên địa bàn huyện.
1. Nhận định chung
Những năm gần đây, các ngành, các cấp chính quyền
địa phơng huyện Than Uyên đã quan tâm chú trọng đến


công tác tiếp dân, giải quyết KNTC đồng thời với việc đa
dạng hóa hình thức và tuyên truyền vận động nhân dân
chấp hành tốt chủ trơng, đờng lối của Đảng, chính sách pháp
luật của Nhà nớc, nên tình hình khiếu nại tố cáo trên địa
bàn huyện Than Uyên đã đợc giải quyết tơng đối triệt để,
kịp thời ngăn chặn tình trạng điểm nóng đơn th. Các nội
dung đơn th tập trung trên địa bàn 2 thị trấn: Thị trấn
Nông Trờng, thị trấn Huyện, xã Mờng Kim, Mờng Khoa, Tà
Hừa,. Trong đó, 60% chính sách đền bù và đất đai, còn lại
là các nội dung khác. Các cơ quan chức năng đã xem xét giải
quyết kịp thời đạt đợc kết quả cao trong. Tuy nhiên vẫn còn
một số đơn th có quá trình giải quyết kéo dài, điển hình
nh : Vụ việc các hộ dân khu chợ thị trấn Nông Trờng mợn đất
chợ kinh doanh khi Nhà nớc thu hồi đất do mở rộng quốc lộ 32,
khi giải phóng mặt bằng đòi yêu cầu bồi thờng đất thổ c ;
các hộ dân khiếu kiện về cấp nhà thuộc dự án đờng nội thị
thị trấn Than Uyên; các cán bộ hu trí khiếu kiện về thông
báo dừng cấp lơng hu của BHXH tỉnh Lai Châu. Việc giải
quyết kéo dài xuất phát từ một số nguyên nhân nh: Nội dung
khiếu kiện phức tạp liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành,
cơ chế chính sách trong đền bù còn có nhiều bất cập trong
việc xác định nguồn gốc đất, cấp nhà xây dựng, bên cạnh
đó ngời đi khiếu kiện cha thông hiểu chính sách pháp luật,
cố chấp, bị kẻ xấu lôi kéo, xúi giục, dẫn đến đơn th khiếu
kiện vợt cấp, ảnh hởng đến tình hình chung của địa phơng.
2. Kết quả tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo


Thấy rõ đợc vai trò quan trọng trong việc tổ chức tiếp
dân và giải quyết đơn th, huyện ủy, HĐND, UBND huyện đã
quan tâm chỉ đạo các cấp, các ngành trên địa bàn; vụ việc
phát sinh đến đâu tập trung giải quyết dứt điểm đến đó,
không để phát sinh thành điểm nóng, hạn chế công dân
khiếu kiện vợt cấp.
2.1. Công tác tiếp dân
Tổ chức công tốt công tác tiếp dân là một việc làm cụ
thể thể hiện quan điểm Dân là gốc của Đảng và Nhà nớc
ta, nơi tiếp dân là nới mà cán bộ, thủ trởng các cấp nhận đợc
các thông tin phản hồi về công việc, chính sách đã triển khai
đến dân hiệu quả và những ảnh hởng tích cực, tiêu cực của
nó, lắng nghe tâm t, nguyện vọng và những bức xúc của
nhân dân thông qua đó để có những chính sách, cơ chế
quản lý phù hợp và hiệu quả hơn.
Việc tiếp dân là một khâu quan trọng đầu tiên trong
quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, đóng vai trò không
nhỏ vào hiệu quả giải quyết KNTC. Do vậy làm tốt khoản này
tức là đã làm tốt một bớc quan trọng trong giải quyết đơn th.
Với ý nghĩa quan trọng đó nên HĐND UBND huyện, UBND
các xã thị trấn, các phòng ban chuyên môn của huyện đều
có phòng tiếp dân; nơi tiếp dân, các địa điểm tiếp dân
đợc bố trí ở nơi thuận tiện, khang trang, bố trí nơi tiếp dân
và phòng tiếp dân riêng biệt. Tại nơi tiếp dân đợc bố trí
đầy đủ các tài liệu pháp luật, văn bản, chính sách của Nhà
nớc, các chủ trơng lớn của địa phơng và các trang thiết bị


văn phòng đầy đủ để có thể tiếp dân chu đáo, đồng thời
có điều kiện lồng ghép công tác tuyên truyền pháp luật.
Đối với phòng tiếp dân, HĐND UBND huyện đợc trang
bị đầy đủ các tiện nghi vật chất, tài liệu pháp luật. Ngoài ra
có nội quy tiếp dân và bảng phân công tiếp dân của lãnh
đạo HĐND UBND theo tuần, trong đó thứ 4 tuần thứ 2, 4
trong tháng chủ tịch UBND huyện và ngời đợc ủy quyền (các
phó chủ tịch khi chủ tịch đi vắng), thứ 6 tuần thứ nhất
trong tháng chủ tịch HĐND huyện (các phó chủ tịch, ủy viên
HĐND khi chủ tịch đi vắng). Thờng trực tiếp dân là tổ tiếp
dân theo quyết định của Chủ tịch HĐND huyện, tổ trởng là
phó chánh thanh tra huyện, các tổ viên là những chuyên viên
có kinh nghiệm, các phòng ban chuyên môn chính của huyện
đợc thực hiện tiếp dân theo lịch phân công hàng ngày của
tổ trởng.
Đối với chủ tịch UBND các xã thị trấn tiếp dân vào thứ 2,
thứ 6 hàng tuần, các ngày còn lại bố trí tiếp dân thờng xuyên
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân đến khiếu nại, tố
cáo; phản ánh kiến nghị kịp thời. Các phòng ban huyện thờng xuyên bố trí cán bộ trực tiếp dân luân phiên, kiêm
nhiệm kịp thời ghi nhận những đơn th và ghi nhận việc
công dân đến cơ quan mình.
Kết quả trong 2 năm 2004, 2005 huyện Than Uyên đã
tiếp 1080 lợt công dân, trong đó phòng tiếp dân HĐND
UBND huyện tiếp 256 lợt ngời, xã thị trấn phòng ban chuyên
môn tiếp 824 lợt. Nội dung công dân đến kiến nghị, đề


nghị, khiếu nại, tố cáo tập trung trong lĩnh vực giải phóng
mặt bằng, chính sách xã hội, tranh chấp đất đai.
Nh vậy các phòng tiếp dân đã làm tốt đợc vai trò tiếp
nhận những ý kiến phản ánh, đơn th KNTC, tuyên truyền
giáo dục pháp luật và quan trọng hơn nữa là lãnh đạo huyện,
xã gần dân hơn và lắng nghe những kiến nghị, phản ánh
những nội dung có thể trả lời ngay cho dân rút ngắn thời
gian chờ đợi kết quả giải quyết. Những nội dung phức tạp có
thể trao trực tiếp cho phòng ban, bộ phận xác minh báo cáo
để có thể trả lời thỏa đáng tình hình. Cán bộ tiếp dân vừa
thực hiện trách nhiệm tiếp dân vừa thực hiện công việc giải
thích cho dân hiểu chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nớc. Vì vậy, đã hạn chế những bức xúc của công dân tại nơi
tiếp dân và hạn chế đợc đơn th vợt cấp.
2.2. Công tác tiếp nhận giải quyết đơn th khiếu
nại, tố cáo
Trong những năm qua các cấp, các ngành đã có nhiều cố
gắng trong công tác giải quyết đơn th KNTC, qua đó đã
khôi phục, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân,
cơ quan, tổ chức. Đồng thời thông qua giải quyết đơn th các
cấp, các ngành đã có những điều chỉnh, sửa chữa, uốn nắn
kịp thời những sơ hở trong cơ chế, chính sách, yếu kém
trong công tác quản lý nhà nớc. Để từ đó có những định hớng, quyết định đúng đắn nhằm ổn định tình hình an
ninh chính trị, phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn.
Trong quá trình xem xét giải quyết đơn th KNTC theo
thẩm quyền các đơn vị, cơ quan Nhà nớc đã tuân thủ chặt


chẽ trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, đảm bảo kết
quả giải quyết kịp thời, khách quan và đúng pháp luật.
Chính vì vậy đã góp phần tạo đợc niềm tin trong nhân
dân, chỉ có một số ít vụ việc giải quyết còn kéo dài và vẫn
còn khiếu kiện vợt cấp.
Năm 2004 2005, UBND huyện, xã và các cơ quan đơn
vị trên địa bàn huyện đã tiếp nhận 586 đơn th kiến nghị,
đề nghị, khiếu nại, tố cáo. Đơn th thuộc thẩm quyền UBND
huyện là 47 đơn th, đơn th thuộc thẩm quyền cấp xã và các
cơ quan chuyên môn cấp huyện là 539 đơn.
Nội dung đơn th tập trung trên các lĩnh vực:
- Về đền bù giải phóng mặt bằng: 287 đơn, chiếm
48,9 %
- Về đất đai, nhà cửa: 153 đơn, chiếm 26,1 %
- Vế chính sách, xã hội: 65 đơn, chiếm 11%
- Về tài chính, tín dụng: 36 đơn, chiếm 6,1 %
- Nội dung khác: 45 đơn, chiếm 7,9 %
Lợng đơn th đã giải quyết xong đạt 87 % ở tất cả các
cấp, các ngành. Những vụ việc đã đợc giải quyết qua tổng
kết, phân loại nh sau: Đơn th KNTC, kiến nghị, đề nghị
đúng 57 %; có đúng có sai: 26,5 %; sai hoàn toàn: 16,5 %.
Trong số 47 vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết cấp
huyện, có 10 vụ việc phức tạp phải thành lập đoàn thanh tra
giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đoàn thanh tra đã tiến hành xác


minh vận động, thuyết phục giải quyết triệt để các vấn đề
đơn th nêu, chỉ rõ những nội dung đúng đợc giải quyết
theo chính sách, pháp luật đồng thời vạch rõ những nội dung
sai, thậm chí vu khống của đối tợng lợi dụng đơn th , từ đó
có báo cáo kiến nghị xác đáng để kết luận của UBND huyện
đợc kịp thời và đợc các bên nhất trí cao, không có hiện tợng
tái khiếu, điển hình nh vụ việc thanh tra thu chi Ban quản
lý chợ huyện; xác định cấp nhà đền bù thuộc dự án tuyến đờng nội thị thị trấn huyện; đòi bồi thờng đất của các hộ
kinh doanh tại chợ thị trấn Nông Trờng; cấp phát kinh phí chơng trình khai hoang ruộng nớc tại xã Tà Hừa, Nậm Sỏ;chơng
trình giao thông nông thôn xã Ta Gia.
Đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
đề nghị của UBND xã, thị trấn, phòng ban chuyên môn đã có
nhiều chuyển biến tích cực, ở cơ sở và đơn vị đã vận dụng
triệt để công tác hòa giải khi vụ việc phát sinh, giải quyết
thấu tình đạt lý, triệt để các vụ việc nh đơn th tố cáo
ngành giáo dục về xâm tiêu tiền của hiệu trởng trờng phổ
thông cơ sở xã Pác Ta, tranh chấp đất đai xã Mờng Kim, giải
thích chế độ tiền lơng hu trí của thị trấn Nông Trờng,Nên
không có tình trạng đoàn đông ngời kéo lên phòng tiếp
dân UBND huyện và giảm bớt đơn th vợt cấp.
3. Đánh giá kết quả tiếp dân giải quyết khiếu nại,
tố cáo.
3.1. Những mặt đã làm đợc.
Điểm nổi bật trong công tác tiếp dân đó chính là ngời
dân đã đến phòng tiếp dân, từ đó có thể khẳng định


nhân dân tin tởng vào cấp chính quyền. Qua đó lãnh đạo
các cấp, các ngành lắng nghe đợc bức xúc trong nhân dân.
Trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có nhiều
chuyển biến tích cực, đã đi vào nề nếp và đạt hiệu quả
cao. Các cấp, các ngành trong toàn huyện đã tổ chức thực
hiện tốt luật KNTC và các văn bản pháp luật có liên quan, giúp
cho việc giải quyết đúng luật, khách quan và dân chủ.
Huyện ủy, HĐND, UBND huyện và các cấp ủy Đảng đã có sự
quan tâm chỉ đạo và tăng cờng kiểm tra đôn đốc các
ngành, các cấp trong công tác tiếp dân, giải quyết KNTC. Từ
đó, đã nâng cao đợc trách nhiệm của các cấp, các ngành
trong việc giải quyết KNTC góp phần ổn định an ninh trật
tự ở đơn vị.
Tỷ lệ đơn th tồn đọng thấp, không có hiện tợng tái
khiếu, khiếu kiện vợt cấp đông ngời, các vụ việc phần lớn đã
đợc thụ lý và giải quyết từ cơ sở, tỷ lệ thành công từ hòa giải
đạt cao.
3.2. Những tồn tại, hạn chế.
Bên cạnh những việc đã làm đợc thì công tác tiếp dân,
giải quyết KNTC vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần đợc uốn
nắn, khắc phục đó là:
Thứ nhất: Một số thủ trởng đơn vị, chủ tịch xã có nhận
thức cha đầy đủ về trách nhiệm trong công việc tiếp dân
và coi nhẹ việc giải quyết KNTC dẫn đến việc bố trí tiếp
dân không thuận tiện cho ngời dân đến trình bày, thiếu
sổ sách theo dõi. Trong công tác giải quyết KNTC thì: Đối


thoại với công dân hời hợt, chứng cứ lỏng lẻo, thiếu thuyết
phục, căn cứ kết luận còn yếu, thái độ còn né tránh, đùn
đẩy lên cấp trên giải quyết, không dám nhận sai và sửa sai;
công dân bị xâm hại quyền lợi chính đáng khi đề nghị
chính quyền giải quyết thì có thái độ thờ ơ, chần chừ làm
giảm lòng tin trong dân , dẫn đến bức xúc trong dân và
đơn th vợt cấp.
Thứ hai: Việc xác định phân loại xử lý nội dung nào là
KNTC còn yếu của cán bộ tiếp dân, còn có hiện tợng nhầm
lẫn giải quyết quyết định hành chính, hành vi hành chính
với giải quyết dân sự, giải quyết khiếu nại với tố cáo dẫn đến
quyết định giải quyết cha đúng với quy định của pháp luật.
Thứ ba: Hiệu lực, hiệu quả sau quá trình kết luận vụ
việc cha cao do cha kết hợp đợc gia giải quyết theo pháp luật
với vận động, thuyết phục hòa giải các đoàn thể, khu phố,
thôn bản và tập quán ngời dân của địa phơng.
Thứ t: Trình độ của cán bộ tiếp dân, giải quyết KNTC
cha đều, cha sâu và cha nắm chắc quy trình giải quyết
vòng vo kéo dài, hiệu quả thấp.
3.3. Nguyên nhân hạn chế, tồn tại.
- Cơ chế, chính sách của Nhà nớc khi triển khai xuông
cơ sở còn thiếu đồng bộ và cha sát với thực tế. Ví dụ với 45
triệu đồng cộng với ngày công của ngời dân có thể làm đợc
1 Km đờng giao thông nông thôn loại B ( mặt đờng rộng 4 m
gồm cả rãnh dọc) đối với những xã đồng bằng, trung du, nhng
với điều kiện đó thì ở xã Miền núi thì chỉ có thể làm đợc


1/4 km do ta luy cao, khối lợng đất đá lớn không có khả năng
làm thủ công. do vậy chính sách cơ chế cần sát với thực tế.
- Trình độ quản lý cấp xã, thị trấn trong một số lĩnh
vực nh : đất đai, tài chính, xây dựng cơ bản,còn yếu và
buông lỏng dẫn đến những sai phạm: cấp đất trái thẩm
quyền, thất thoát trong xây dựng cơ bản, thu các khỏan thu
ngoài quy định. Để ngoài sổ sách để tự chi,gây bức xúc
trong quần chúng nhân dân.
- Việc tuyên truyền pháp luật nói chung và luật khiếu
nại, tố cáo nói riêng cha thực sự sâu rộng dẫn đến một bộ
phận ngời dân hiểu sai và cha đầy đủ, gửi đơn th đến
nhiều nơi, vợt cấp và phản ánh không đúng sự thật vụ việc.
- Còn có một số đối tợng có biểu hiện đầu đơn kích
động, lôi kéo lợi dụng quy chế dân chủ để cố tình khiếu
nại, tố cáo sai sự thật nhằm hạ uy tín cán bộ.
- Công tác xử lý sai kết quả giải quyết cha triệt để,
hình thức xử lý đối với tập thể, cá nhân thiếu trách nhiệm
trong tiếp dân và giải quyết KNTC còn nhẹ và thiếu tính răn
đe và cha thực sự đi vào nề nếp.
4. Bài học kinh nghiệm
4.1. Vai trò của cấp ủy Đảng, ngời đứng đầu cơ
quan hành chính Nhà nớc cấp xã, huyện
Công tác tiếp dân giải quyết KNTC đóng vai trò quan
trọng trong hoạt động quản lý Nhà nớc. Làm tốt công tác này
có nghĩa là tạo đợc niềm tin của nhân dân với Đảng, bộ máy


chính quyền. Vì vậy cần phải phát huy và nhận thức đầy
đủ của hệ thống chính trị, ngời đứng đầu các cơ quan
hành chính. Từ thực tiễn và so sánh kết quả thực hiện ở một
số địa bàn, các ngành trong huyện thì ở nơi nào có đợc sự
quan tâm đúng mức của các cấp ủy Đảng, nhận thức sâu
sắc của ngời đứng đầu thì công tác tiếp dân, giải quyết
KNTC ở đó đạt hiệu quả cao.
Nội dung các vụ việc phức tạp liên quan đến nhiều cấp,
nhiều ngành thì cần phải có sự đồng thuận và biện pháp xử
lý cơng quyết, triệt để thì hiệu quả cao. Nhng nếu nơng
nhẹ, bảo vệ, né tránh thì gây ra điểm nóng, phức tạp về
đơn th và khó giải quyết về sau.
4.2. Vai trò của các đoàn thể
KNTC phát sinh ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
đối tợng khiếu kiện phần lớn thuộc trong các hội đoàn thể
nh nông dân, hội phụ nữ, cựu chiến binh, đoàn thanh niên,
do vậy cần đề cao vai trò tổ chức hội tham gia vào quá
trình giải quyết đơn th, tự hòa giải, xác minh, củng cố hồ
sơ chứng cứ đơn th đến thực hiện quyết định giải quyết.
Nếu thực hiện phối hợp tốt thì các phát sinh khiếu kiện đơn
giản sẽ đợc giải quyết ngay từ khi phát sinh hoặc nhân dân
sẽ đợc rõ nội trình sự việc đợc giải quyết. Qua đó vận động,
thuyết phục và tham gia bảo vệ quyền lợi chính đáng của
các hội viên đảm bảo quy trình giải quyết khách quan, đúng
theo luật định.
4.3. Vai trò của các cơ quan đơn vị, cơ sở xã


Các vụ việc phát sinh từ cơ sở nếu đợc các cấp ủy quan
tâm, định hớng giải quyết, UBND xã thực hiện triệt để, kịp
thời và đúng pháp luật thì sẽ chấm dứt khiếu kiện. Còn nếu
ở đâu hời hợt, né tránh đơn th thì nơi đó nhân dân bức
xúc đơn th vợt cấp và lên phòng tiếp dân của huyện để
khiếu kiện làm cho tình hình thêm phức tạp, tốn kém thời
gian và tiền bạc của công dân cũng nh các cơ quan nhà nớc.
Vì vậy có thể khẳng định giải quyết KNTC ở cơ sở tốt
thì sẽ giảm đợc đơn th vợt cấp, khiếu kiện đông ngời.
4.4. Vai trò thanh tra huyện
Thanh tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo điều 21
luật thanh tra: Ngoài việc giải quyết KNTC theo thẩm quyền
khi chủ tịch UBND giao còn phải thực hiện chức năng tổng
hợp, báo cáo kết quả về công tác thanh tra, giải quyết KNTC
trên địa bàn huyện thực hiện việc xem xét trách nhiệm tiếp
dân giải quyết KNTC. ở cơ sở xã, đơn vị đồng thời phải làm
tốt vai trò tổ chức tiếp dân phòng tiếp dân huyện tập
huấn, hớng dẫn các cơ sở xã, cơ quan đơn vị thực hiện quy
chế tiếp dân, xử lý đơn th.
Để làm tốt chức năng, nhiệm vụ đó trớc hết đòi hỏi đội
ngũ cán bộ thanh tra phải có đủ năng lực, trình độ chuyên
môn và tâm huyết với nghề nghiệp. Ngoài ra còn cần có
những hiểu biết nhất định đa ngành, đa lĩnh vực và bổ
trợ cho quá trình giải quyết. Thanh tra huyện phải thờng
xuyên đổi mới công tác tiếp dân, cải tiến quy trình giải
quyết đơn th phù hợp với đặc thù địa bàn quản lý. đồng thời
phải là cơ quan tham mu đắc lực cho UBND huyện tháo gỡ


những vụ việc phức tạp, hạn chế mức độ thấp nhất đơn th
vợt cấp khiếu kiện đông ngời.
4.5. Vai trò của tính công khai, minh bạch trong
các cơ chế chính sách
Một trong những nguyên nhân xảy ra khiếu kiện đó
chính là tính công khai, minh bạch của chính sách, cơ chế
khi thực hiện thực tế. Công khai tài chính, quy hoạch đất
đai, các khỏan thu chi,rộng rãi trên phơng tiện thông tin đại
chúng để mọi ngời biết chính quyền đang làm gì và sẽ làm
nh thế nào. Minh bạch các khoản chi, trong các hoạt động
trong bầu cử, các dự án để quyền lợi chính đáng thực hiện
đúng đối tợng, đảm bảo dân chủ, công khai, kịp thời.


Phần II
Một số giải pháp nhằm tăng cờng công tác tiếp dân,
giải quyết KNTC trên địa bàn
huyện Than Uyên

Khiếu nại, tố cáo là vấn đề tất yếu của quá trình quản
lý nhà nớc, giải quyết tốt KNTC nhằm an dân, ổn định an
ninh chính trị, tạo đà cho phát triển kinh tế xã hội là mục
đích của chính quyền các cấp và nhà nớc ta nói chung. Để
đạt đợc điều đó cần phát huy sức mạnh của các hệ thống
chính trị chứ không riêng của cơ quan ngành nào. ngoài ra
để nâng cao chất lợng đòi hỏi những nhận thức đầy đủ
pháp luật về giải quyết KNTC cả nhng ngời đứng đầu chính
quyền, đơn vị và từ ngời đó khiếu kiện hạn chế tình trạng
đơn th tồn đọng, giải quyết đơn th khi mới phát sinh tại cơ
sở làm cho tình hình an ninh chính trị ổn định.
Từ thực tiễn công tác tiếp dân giải quyết KNTC trên địa
bàn huyện Than Uyên trong thời gian qua, cần tăng cờng một
số giải pháp nhằm nâng cao chất lợng giải quyết KNTC trong
thời gian tới.
1. Tăng cờng sự lãnh chỉ đạo của Huyện ủy, HĐND,
UBND huyện của các cấp ủy.
Tăng cờng vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác giải
quyết KNTC, đối với nội dung và hình thức chỉ đạo, giữ
nguyên tắc Đảng không làm thay vai trò quản lý nhà nớc nhng
giữ định hớng dân chủ tập trung. Do vậy duy trì sự chỉ


đạo của Đảng trong công tác giải quyết KNTC là hết sức quan
trọng và cần thiết.
Trong các cấp đảng cần có những định hớng đúng
đắn trên cơ sở pháp luật, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh,
cơ chế chính sách và phong tục tập quan ngời địa phơng.
thống nhất trong phơng thức giải quyết, xử lý nghiêm túc và
triệt để những cán bộ đảng viên vi phạm. Kết hợp giữa xử lý
và xây dựng chỉnh đốn Đảng, Thờng vụ huyện ủy ngoài
những định hớng giải quyết các vụ việc cụ thể thì cần có
nhiệm vụ cụ thể cho cán bộ luân chuyển, ban chỉ đạo TW
62 và các cấp ủy tham gia trong quá trình giải quyết ở cơ sở
nơi phát minh, nắm bắt tình hình, dự báo trớc các nguy cơ
tâm t nguyện vọng của nhân dân.
Hội đồng nhân dân cần tăng cờng công tác giám sát
đối với việc giải quyết KNTC của chính quyền các cấp các
ngành. Đại biểu HĐND đã có mối liên hệ chặt chẽ với cử tri trên
địa bàn thông qua hoạt động tiếp xúc. Đó là kênh thông tin
quan trọng nắm bắt những bức xúc nổi cộm trong nhân
dân, đại diện cho những nguyện vọng chính đáng của
nhân dân và yêu cầu các cơ quan đơn vị tiếp nhận giải
quyết theo chế độ chính sách.
Công tác tiếp dân của các phòng tiếp dân trên địa
bàn toàn huyện, cách thức và phơng pháp cần có sự đổi mới
hơn nữa theo tinh thần: kịp thời, khách quan, dân chủ,
đúng luật và cởi mở. Thực hiện triệt để trách nhiệm tiếp
dân và giải quyết KNTC của thủ trởng các đơn vị qua đó
làm đổi mới toàn diện và nâng cao hiệu quả giải quyết


đơn th, qua đó giảm những bức xúc và tăng niềm tin của
nhân dân vào những chính sách của Đảng và Nhà nớc.
2. Nâng cao năng lực của cơ quan giải quyết KNTC
2.1. Mỗi công dân khi đến nơi tiếp dân hoặc gửi th
KNTC đều có những bức xúc vì cho rằng quyền lợi của
mình đã bị cá nhân, công chức, tổ chức xâm hại. Vì vậy
các công chức, tổ chức đơn vị nhà nớc có thẩm quyền khi
tiếp công dân đến KNTC cần có thái độ cởi mở, lắng nghe
và có ứng xử đúng mực. Trong quá trình giải quyết tôn trọng
chứng cứ thực tế để có những quyết định giải quyết đúng
đắn. Nghiêm khắc với thái độ hách dịch, coi thờng với dân,
xử lý triệt đê các trờng hợp né tránh, đùn đẩy trách nhiệm ,
làm sai lệch kết quả, chủ quan kết luận duy ý chí.
2.2. Đơn th đến với các cấp có thẩm quyền theo nhiều
nguồn khác nhau nhng cần có bộ phận xử lý, bóc tách nội
dung, nội dung khiếu nại, kiến nghị, đề nghị tố cáo để giao
cho cá nhân cơ quan có trách nhiệm thẩm quyền giải quyết
và trả lời trực tiếp cho công dân, tổ chức. Bộ phận xử lý
đơn th đợc hiểu ở cấp huyện đó chính là phòng tiếp dân
UBND Huyện, các cơ quan đơn vị, xã, thị trấn là cán bộ đợc
giao tiếp dân, kiêm nhiệm công tác này. qua đó có điều
kiện thực hiện nâng cao nghiệp vụ, xử lý tốt đơn th trùng
lặp, không đủ điều kiện giải quyết và thuận lợi cho công tác
thống kê báo cáo để có những đánh giá phân loại khoa học
hơn.
2.3. Tiếp tục rà soát, phân loại vụ việc, phân cấp triệt
để việc giải quyết đơn th KNTC theo thẩm quyền. Nắm


chắc và hiểu rõ nguồn gốc phát sinh vụ việc, định hớng cách
giải quyết ngay từ cơ sở, chú trọng và cải tiến khâu đối
thoại trong giải quyết lần đầu đảm bảo thực hiện dân chủ,
khách quan, thông qua kết quả để ngời dân hiểu công việc
của chính quyền, chính sách của Nhà nớc.
2.4. Thanh tra huyện đóng vai trò chủ đạo trong công
tác giải quyết KNTC theo thẩm quyền và tăng cờng công tác
kiểm tra, hớng dẫn về nghiệp vụ, đôn đốc trách nhiệm giải
quyết KNTC của cơ sở. Có sự khảo sát và hớng dẫn cho cơ sở
giải quyết các vụ việc phức tạp, nhằm hạn chế thấp nhất
đơn th tái khiếu, vợt cấp.
2.5. Thanh tra huyện cần phối hợp với các cơ quan chức
năng trong khối nội chính để mở hoặc lồng ghép các chơng
trình tuyên truyền, hình thức và loại hình tuyên truyền về
luật KNTC nói riêng và các bộ luật khác nói chung.
Kiến nghị với các cấp có thẩm quyền ban hành, hỗ trợ
chính sách, chế độ phụ cấp cho cán bộ tiếp dân, cán bộ
tham gia giải quyết KNTC để cán bộ gắn bó với công việc và
có điều kiện tập trung vào công tác.
2.6. Các cấp, các ngành, chính quyền cơ sở cần có sự
công khai, minh bạch, cơ chế chính sách trên các lĩnh vực
ảnh hởng trực tiếp đến ngời dân, cán bộ công chức nh: Đất
đai, tài chính, xây dựng cơ bản, các khoản thu chi đóng
góp của nhân dân.Cơ chế phải rõ ràng, chính sách cụ thể
và đến đợc với ngời dân, đúng đối tợng đợc hởng.


2.7. Thực hiện chuyên môn hóa từ công tác tiếp dân,
giải quyết KNTC thông qua đào tạo, bồi dỡng ngắn hạn, dài
hạn cho đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp dân và giải quyết
KNTC.
3. Tăng cờng trách nhiệm của chính quyền cơ sở:
Phần lớn đơn th phát sinh từ cơ sở xã, ngành vì vậy
muốn chuyển biến kết quả giải quyết KNTC thì trớc hết
những ngời lãnh đạo chính quyền cần có nhận thức đúng
đắn, đầy đủ về KNTC.
Khi xảy ra khiếu nại, tố cáo chính quyền cơ sở phải kịp
thời giải quyết không đợc ỷ lại, trông chờ cấp trên. Có nh vậy
mới thấy đợc những bất cập, yếu kém trong khâu chỉ đạo,
điều hành công việc và phải dũng cảm nhìn thấy trách
nhiệm dám nhận sai và sửa sai, không nên tìm mọi cách che
đậy, phủ nhận sai phạm của mình. Vì việc đó sẽ dẫn đến
tình trạng công dân bức xúc, tập hợp để khiếu nại.
Kiện toàn và nâng cao năng lực, đảm bảo chế độ cho
ban thanh tra nhân dân. Đây là hình thức giám sát của
nhân dân thông qua đại diện do mình bầu ra để tham gia
và xem xét trực tiếp việc thực hiện chính sách, pháp luật về
giải quyết KNTC và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Hoạt
động thanh tra nhân dân có hiệu quả giúp cho lãnh đạo cơ
sở tập trung đợc ý kiến phản ánh của dân nhanh nhất. Từ đó
thấy đợc yếu kém và bất cập công việc của chính quyền
đang thực hiện, hạn chế đợc đơn th khiếu nại, tố cáo từ cơ
sở.


4. Tăng cờng sự phối kết hợp với các đoàn thể.
Đề cao vai trò các tổ chức đoàn thể nh: Hội nông dân;
Hội cựu chiến binh; Hội phụ nữ; Hội ngời cao tuổi; Đoàn
thanh niên. Trong công tác giải quyết đơn th, tham gia vào
quá trình này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên
khi tham gia KNTC và đồng thời đóng vai trò vận động,
thuyết phục, tuyên truyền chính sách, pháp luật cho hội viên
hiểu và thực hiện theo.
Các tổ chức đoàn thể bố trí cán bộ có sự hiểu biết và
khả năng tuyên truyền tham gia và công tác tiếp dân, giải
quyết KNTC. Từ đó nắm bắt kịp thời tâm t nguyện vọng
cũng nh những kiến nghị, phản ánh của đoàn viên hội viên.
Nhằm phục vụ tốt cho công tác giải quyết KNTC.


Kết luận
Tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo là hoạt động quan
trọng trong quá trình quản lý Nhà nớc. Khiếu nại, tố cáo xảy
ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và liên quan đến
nhiều cấp, nhiều ngành. Muốn giải quyết tốt công tác này
cần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Giải
quyết khiếu nại, tố cáo đúng quy định của Pháp luật thể
hiện bản chất tốt đẹp của Nhà nớc ta. Những quyết định,
hành vi trái pháp luật của cơ quan, cán bộ, công chức nhà nớc
hoặc công dân bị xử lý nghiêm minh thì quan hệ giữa
nhân dân với Đảng và Nhà nớc đợc củng cố ngày một vững
chắc, dân chủ đợc phát huy, tính tích cực, sáng tạo của
nhân dân đợc nâng cao.
Thời gian qua các cấp, các ngành của huyện Than Uyên
tỉnh Lai Châu đã không ngừng cố gắng, nâng cao chất lợng
giải quyết khiếu nại, tố cao trên địa bàn. Qua đó góp phần
ổn định an ninh chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho phát
triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt
đợc công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện
Than Uyên vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Qua quá
trình học tập lý luận và nghiên cứu thực tiễn công tác KNTC
ở địa phơng em đã rút ra một số bài học kinh nghiệm và
đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết
KNTC trong thời gian tới. Với quyết tâm của một cán bộ thanh
tra, em mong muốn đợc đóng góp công sức mình cho công
tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở địa phơng ngày một tốt


hơn. Góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp kinh tế xã hội

của

huyện nhà.
Tóm lại, việc đổi mới, nâng cao chất lợng công tác giải
quyết KNTC không chỉ đòi hỏi ở tầm vĩ mô (nh cơ chế,
chính sách, pháp luật của Nhà nớc) mà bản thân mỗi cán bộ
công chức cũng cần tự đổi mới, không ngừng nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo hớng chuyên sâu,
chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×