Tải bản đầy đủ

Biện pháp nâng cao năng suất lao động

Theo báo cáo toàn cầu “Thế giới việc làm 2014” do Tổ Chức Lao
Động Quốc Tế (ILO) công bố và nhận định của Ông Guy Ryder,
Tổng Giám đốc ILO thì “suất lao động và năng lực cạnh tranh thấp
là một trong những thách thức lớn đối với Việt Nam”. Đặc biệt
theo các số liệu điều tra về việc làm thì “năng suất của lao động
Việt Nam thấp hơn Singapore gần 15 lần, Nhật Bản 11 lần, Hàn
Quốc 10 lần. Ngay cả so với các nước ở ASEAN có mức thu nhập
trung bình, năng suất lao động của Việt Nam cũng chỉ bằng 1/5
Malaysia và 2/5 Thái Lan”. Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là nguyên
nhân tại sao mà năng suất lao động của Việt Nam thấp đến thế ?
giải pháp nào để nâng cao?
-Thứ nhất, cần đảm bảo phân bổ nguồn lực phù hợp, trong đó chú
trọng đến nguồn lực đất đai và vốn. Để cải thiện năng suất lao
động, Chính phủ ưu tiên bố trí ngân sách đầu tư cho giáo dục và
đào tạo nhằm cải thiện trình độ và kỹ năng lao động, giúp người
lao động. Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân quan
trọng dẫn đến năng suất lao động Việt Nam thấp chính là chất
lượng giáo dục - đào tạo và nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu,
cơ cấu đào tạo chưa hợp lý, thiếu lao động
Viện trưởng Viện Năng suất Việt Nam, ông Nguyễn Anh Tuấn
cho biết: “Cần đầu tư 3 yếu tố là vốn-khoa học công nghệ-con

người”
Để tăng chất lượng, năng suất các doanh nghiệp cần thiết lập các
mục tiêu như: Tập trung đầu tư chất xám vào ngành kinh tế mũi
nhọn, nhiều lợi thế để tạo tác dụng lan toả sâu rộng đến các ngành
liên quan khác. Bộ khoa học và công nghệ tiếp tục hỗ trợ chuyển
giao công nghệ, đào tạo chuyên gia để giúp doanh nghiệp phát
triển văn hoá cải tiến năng suất, nâng cao ý thức lao động công
nghiệp. Ngoài ra nhà nước cũng nên tăng cường tuyên truyền,
khích lệ tinh thần sáng tạo, cải tiến thiết bị, loại bỏ thiết bị lạc hậu,
… Để giải quyết cho bằng được yếu tố năng suất, chất lượng sản
phẩm đủ sức cạnh tranh với các nền kinh tế khu vực và thế giới.


Doanh nghiệp nên xây dựng lộ trình nâng cao năng suất theo từng
năm cho công ty mình. Thêm vào đó doanh nghiệp phải có đầu ra
ổn định, hàng hoá làm ra mà không bán được thì giá trị tăng thêm
cũng không cao. Nên việc doanh nghiệp nước ta tham gia vào một
chuỗi cung ứng của các tập đoàn nổi tiếng thế giới là một cách để
nâng cao năng suất, tạo động lực cho doanh nghiệp tăng trưởng ổn
định.

-Thứ hai cải cách thể chế pháp luật, nâng cao năng lực quản trị
nhà nước, cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí giao dịch
cho nền kinh tế.
-Thứ

ba là nhóm giải pháp đổi mới vai trò, chức năng và nâng cao
hiệu quả hoạt động của Chính phủ trên tinh thần Chính phủ kiến
tạo, trong đó, nhấn mạnh vai trò kiến tạo để tăng năng suất, chuyển
đổi mô hình tăng trưởng, giúp nền kinh tế vượt qua bẫy thu nhập
trung bình.
Theo đó, cần cải cách bộ máy, cải cách thủ tục hành chính, xây
dựng chính phủ điện tử, nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính
phủ. Vai trò kiến tạo phải được thể hiện rõ hơn và hiệu quả hơn ở
các khía cạnh phát huy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo của
doanh nghiệp, phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân
lực, tạo điều kiện thuận lợi để khai thác cơ hội của cách mạnh công
nghiệp 4.0.
-Thứ tư, khuyến khích cộng đồng DN, đặc biệt là các DN nhỏ và
vừa đổi mới, sáng tạo, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu từ các hoạt động


có giá trị gia tăng thấp sang các hoạt động có giá trị gia tăng cao,
bằng cách tăng cường nguồn vốn con người và tăng chi tiêu cho
nghiên cứu và phát triển. Khuyến khích DN đầu tư cho khoa học
và công nghệ, là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, chất
lượng sản phẩm…


Đồng thời, nghiên cứu thành lập ủy ban tư vấn kỹ thuật bao gồm
các chuyên gia công nghiệp, nhà quản lý và đại diện DN của Việt
Nam để xác định các DN của Việt Nam so với các DN đang ở
tuyến đầu công nghệ và các biện pháp hỗ trợ về mặt thể chế. Ủy
ban này thường xuyên thẩm định các mục tiêu chính sách so với
mục tiêu đuổi kịp và nhảy vọt về công nghệ trong các thị trường
hiện có và thông qua liên kết các thị trường một cách sáng tạo.
-Thứ năm, chủ động hội nhập quốc tế, khai thác có hiệu quả các
cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do (FTA), nhất là các FTA
thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái
Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU
(EVFTA) và và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực
(RCEP).
-Thứ

sáu là nhóm giải pháp tăng năng suất nội ngành, nâng cấp
chuỗi giá trị trong phát triển ngành đối với cả ba ngành, nông
nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, từ đó thúc đẩy năng suất nội
ngành. Các chính sách công nghiệp cần phải được kết hợp, điều
phối một cách chặt chẽ và đồng bộ để có hiệu quả cao và đạt được
mục tiêu cụ thể trong nâng cấp chuỗi giá trị của các ngành. Trong
đó, chú trọng các biện pháp khuyến khích và hỗ trợ ứng dụng tiến
bộ khoa học công nghệ, thúc đẩy liên kết ngành và liên kết vùng.
Cuối cùng, tiền đề của các nhóm giải pháp trên là Chính phủ cần
có những biện pháp củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định và
thuận lợi cho tăng năng suất. Các giải pháp chính sách thuộc nhóm
này bao gồm cơ cấu lại ngân sách nhà nước trong đó tập trung
quản lý nợ công theo hướng bảo đảm an toàn, bền vững; siết chặt
kỷ luật, kỷ cương tài chính - ngân sách nhà nước; củng cố và phát
triển hệ thống tài chính tín dụng lành mạnh, tập trung xử lý có hiệu
quả các tổ chức tín dụng yếu kém, tiếp tục cơ cấu lại các tổ chức
tín dụng gắn với xử lý nợ xấu của nền kinh tế một cách căn bản và
triệt để, phát triển thị trường tài chính một cách cân bằng hơn; điều
hành chủ động, linh hoạt và phối hợp tốt chính sách tiền tệ, chính


sách tài khóa và các chính sách khác, nhất là chính sách điều chỉnh
các loại giá, phí do nhà nước quản lý.
 Liên hệ
*Nhật Bản
Chính phủ Nhật Bản rất chú trọng ứng dụng các thành tựu khoa
học, kỹ thuật mới nhất của Mỹ và châu Âu bằng cách nhập khẩu
công nghệ, mua các phát minh, sáng chế. Giai đoạn từ năm
1950 đến 1971, Nhật nhập khẩu tới 15.289 công nghệ mới và
bằng phát minh, sáng chế. Nhờ đó đã cải tạo căn bản tài sản cố
định và tăng năng suất lao động trung bình hằng năm của Nhật
Bản thời kỳ 1955-1965 là 9,4%.
-Dù vậy, Chính phủ Nhật Bản quản lý chặt nhập khẩu công
nghệ, quy định doanh nghiệp tư nhân phải tự túc vốn nhập khẩu
công nghệ, mua bằng phát minh, sáng chế. Họ thống kê toàn bộ
những nội dung liên quan đến nhập khẩu công nghệ, thậm chí
rất chi tiết về thời gian, lĩnh vực, loại công nghệ, giá thành. Từ
1950 - 1968, tổng giá trị những phát minh mà Nhật Bản mua
của nước ngoài là khoảng 6 tỷ USD.
Ở Nhật Bản có những ngân hàng dành riêng cho doanh nghiệp
tư nhân và ưu tiên lãi suất đối với nhập khẩu công nghệ. Chính phủ
Việt Nam cũng có thể làm được điều này khi lập ra các quỹ hỗ trợ
vốn cho doanh nghiệp tư nhân nhập khẩu công nghệ và phát minh,
sáng chế. Biện pháp này có thể tạo điều kiện tăng nhanh số vốn
chuyển vào sản xuất, kinh doanh.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×