Tải bản đầy đủ

Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường mầm non8

Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường MN

MỘT VÀI KINH NGHIỆM CUNG CẤP VỐN TIẾNG VIỆT CHO
TRẺ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG MẦM NON
I. Phần mở đầu:
1. Lý do chọn đề tài
Ở tuổi mẫu giáo, trẻ phải nắm được vốn từ cần thiết đủ để cho chúng giao
tiếp với bạn bè, người lớn, tiếp thu các tri thức ban đầu trong trường mầm non,
chuẩn bị học tập ở trường phổ thông, tham gia sinh hoạt xã hội gần gũi với đời
sống trẻ... Cho nên việc tạo cho trẻ được nghe, hiểu và được nói là hết sức cần thiết
trong giáo dục ngôn ngữ. Ngôn ngữ nói, giao tiếp và đọc viết có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng đối với sự phát nhân cách của trẻ mầm non nói riêng, của con người và
xã hội nói chung. Ở giai đoạn này trẻ đạt được những thành tích vĩ đại mà ở các
giai đoạn sau không thể có được, trẻ học nghĩa và cấu trúc của từ, cách sử dụng từ
ngữ để chuyển tải suy nghĩ và cảm xúc của bản thân, hiểu mục đích và cách thức
con người sử dụng chữ viết. Cùng với quá trình lĩnh hội ngôn ngữ, trẻ lĩnh hội và
phát triển các năng lực tư duy như xây dựng và biểu đạt ý tưởng, chia sẻ thông tin
với người khác và tiếp nhận, đáp lại ý tưởng, thông tin của người khác.
Ngôn ngữ Tiếng Việt rất quan trọng đối với mọi người dân Việt Nam. Đặc
biệt đối với dân tộc thiểu số. Song trong thực tế hiện nay đa số trẻ vùng sâu, vùng
xa vùng dân tộc thiểu số, trước khi đến trường chỉ sống trong gia đình, ở các thôn

bản nhỏ, trong môi trường tiếng mẹ đẻ. Do vậy trẻ chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ ở
dạng khẩu ngữ, trẻ biết rất ít hoặc thậm chí không biết Tiếng Việt. Trong khi đó
Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong trường Mầm non và cơ sở giáo dục
khác. Vì vậy, cho đến nay nhìn chung việc dạy – học Tiếng Việt cũng như việc dạy
học bằng Tiếng Việt ở các vùng dân tộc thiểu số chỉ đạt kết quả thấp. Do đó, việc
cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số là việc làm không thể thiếu và
phải được tiến hành ngay từ bậc học Mầm non làm tiền đề cho các bậc học tiếp
theo.
Bản thân là một giáo viên, được phân công chủ nhiệm lớp Lá 5 phân hiệu
Buôn Sah đa phần học sinh là người đồng bào dân tộc, tôi thấy rằng kỹ năng giao
tiếp bằng tiếng Việt của trẻ còn rất hạn chế, trẻ thường phát âm không chuẩn và
vốn từ, câu văn khi trẻ nói còn chưa đúng ngữ pháp… Tôi đã rất băn khoăn, lo lắng
đến chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ của lớp, tôi luôn cố gắng tìm những biện
pháp để phát triển vốn Tiếng Việt cho trẻ, khuyến khích trẻ sử dụng Tiếng Việt để
học và giao tiếp với cô, bạn bè giúp trẻ hoàn thiện Tiếng Việt trước khi bước vào
lớp 1. Chính vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài “Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn
Tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường Mầm non”
Người thực hiện: H’ Ngoăc Hmõk

Trang 1


Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường MN

2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài :
* Mục tiêu:
- Nhằm cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ, để trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao
tiếp với cô, ban bè và xã hội.
- Nhằm giúp trẻ đân tộc thiểu số đến trường mầm non tích cực hơn, hứng thú
hơn đồng thời giúp trẻ dân tộc thiểu số nghe, hiểu và nói tiếng việt tốt hơn.
* Nhiệm vụ:
- Giáo viên phải biết khuyến khích trẻ sử dụng Tiếng Việt để học và giao
tiếp với nhau trong mọi hoạt động, mọi lúc, mọi nơi.
- Thường xuyên tổ chức các hoạt động Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở
trường Mầm non.
4. Giới hạn của đề tài.
- Học sinh người đồng bào dân tộc thiểu số ở lớp Lá 5 Buôn Sah. Trường
Mầm non Hoa Sen – Xã Ea Bông – Huyện Krông Ana – Đăk Lăk.


5. Phương pháp nghiên cứu:
a) Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp đàm thoại, trò chuyện.
- Phương pháp quan sát dùng lời kết hợp với trò chơi, phương pháp thực
hành (trẻ và cô cùng thực hiện mọi lúc mọi nơi).
b) Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra thực tế.
- Nghiên cứu tài liệu.
- Các sản phẩm hoạt động
c) Phương pháp thống kê toán học
II. Phần nội dung.
1. Cơ sở lý luận.
Trong thực tế chúng ta đã biết, nhiệm vụ Giáo dục mầm non là khâu đầu
tiên của hệ thống Giáo dục Quốc dân. Giáo viên Mầm non là người thầy đầu tiên
đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã hội Chủ nghĩa ,
tùy theo mỗi độ tuổi mà giáo dục khác nhau. Tuổi Mầm non trẻ mới bắt đầu trong
Người thực hiện: H’ Ngoăc Hmõk

Trang 2


Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường MN

quá trình học nói, chính vì vậy mà cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ, đặc biệt là Dân
tộc thiểu số là vô cùng quan trọng. Bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay
dùng tiếng mẹ đẻ, vốn Tiếng Việt của trẻ hạn chế, trẻ ít mạnh dạn, tự tin trong giao
tiếp, nhất là với người lạ, vốn hiểu biết về thế giới xung quanh nghèo nàn nên ảnh
hưởng đến việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp. Đối với trẻ dân tộc việc học
Tiếng Việt giống như ngôn ngữ thứ hai của trẻ, trẻ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong
quá trình tiếp nhận ngôn ngữ Tiếng Việt. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải
khéo léo và linh hoạt trong quá trình truyền thụ ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻ.
2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu: Phân tích đánh giá các vấn đề về thực
trạng mà đề tài đặt ra.
Để thực hiện được vấn đề này một cách có hiệu quả nâng cao chất lượng
giao tiếp bằng tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thì cần phải phát triển ngôn ngữ,
bởi vì tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của trẻ, sự phát triển ngôn ngữ là giúp trẻ
tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác, vì ngôn ngữ là phương tiện để giao lưu
tình cảm, về mối quan hệ và cách ứng xử trong xã hội, là sự tìm tòi, khám phá thế
giới tự nhiên, cuộc sống xung quanh trẻ. Nhưng đối với trẻ người đồng bào dân tộc
quả là một vấn đề khó khăn, thêm vào đó sự bất đồng về ngôn ngữ giữa cô và trẻ
đã gây nhiều khó khăn trong việc giao tiếp.Vì vậy, để nâng cao mục tiêu phát triển
ngôn ngữ bằng tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi dân tộc thiểu số thì người giáo
viên trước hết phải tạo ra cho trẻ hứng thú ham thích đi học, và tạo cho trẻ hứng
thú học tiếng Việt làm tiền đề để thích ứng với việc tập đọc, tập tô cần tạo được
mọi cơ hội khuyến khích trẻ bộc lộ khả năng sáng tạo của cá nhân mình. Cần có
những bài thơ, câu chuyện, bài thơ tranh chữ to, tranh minh hoạ, có tác dụng thúc
đẩy sự phát triển bước đầu bằng ngôn ngữ đọc, ngôn ngữ viết ở trẻ. Song việc
chuẩn bị cho quá trình giao tiếp bằng tiếng Việt thông qua tất cả các môn học,
thông qua mọi hoạt động của trẻ, việc giao tiếp diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi cần phải
tạo được môi trường cho trẻ hoạt động, tổ chức tiết học. Như vậy việc trẻ được trải
nghiệm trong các hoạt động vui chơi tự nhiên đầy hứng thú, như một chủ thể tích
cực.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp:
Việc cho trẻ Dân tộc thiểu số làm quen với Tiếng việt là một việc làm hết
sức cần thiết, tưởng chừng như rất dễ nhưng thực tế lại rất khó, khi nghĩ đến điều
này, bản thân tôi luôn suy nghỉ nhiều về điều này và đặt ra nhiều câu hỏi “ Làm gì?
Dạy trẻ làm quen với Tiếng việt là dạy cái gì ? Dạy như thế nào? Trẻ làm quen với
tiếng việt với tư cách là bộ môn khoa học hay với tư cách là một công cụ, một
phương tiện giao tiếp? Cách trả lời những câu hỏi trên sẽ liên quan tới việc lựa
chọn nội dung, phương pháp cho trẻ dân tộc tiếp cận, làm quen dần với Tiếng việt.
Người thực hiện: H’ Ngoăc Hmõk

Trang 3


Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường MN

Từ đó tôi quyết định nghiên cứu những nội dung phù hợp để áp dụng vào dạy trẻ
như sau:
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp.
* Biện pháp 1: Cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ ở hoạt động: Làm quen Tiếng
Việt.
- Dựa theo kế hoạch chỉ đạo của chuyên môn, tổ khối, bản thân tôi cũng xây
dựng kế hoạch làm quen Tiếng Việt cho trẻ lớp tôi: Kế hoạch chủ đề, kế hoạch
tuần, kế hoạch hoạt động một ngày.
VD: Chủ đề: Gia đình, chủ đề nhánh: Những người thân trong gia đình,
Hoạt động: làm quen Tiếng việt. Với các từ Ông, bà, bố mẹ, anh chị...
- Tổ chức tiết dạy cho trẻ làm quen: tôi chuẩn bị đồ dùng cho cô và trẻ, cho
trẻ được luyên tập, quan sát và đàm thoại theo nội dung tranh, đồ dùng giáo viên
chuẩn bị nhằm cho trẻ phát âm chuẩn từ Tiếng Việt mà cô yêu cầu, biết đặt câu với
những từ tiếng Việt đó. Tôi luôn chú trọng đến phát âm của trẻ, thường xuyên mời
cá nhân trẻ lên phát âm để biết được những lỗi sai của trẻ và sửa sai kịp thời cho
trẻ.
- Bên cạnh đó, tôi cũng luôn chú trọng đến việc chuẩn bị đồ dùng dạy học,
tôi luôn tìm tòi, sưu tầm những bức tranh gần với từ ngữ Tiếng việt cho trẻ làm
quen, lại đẹp, màu sắc hấp dẫn để lôi cuốn trẻ hoạt động, ngoài ra tôi cũng thường
xuyên xây dựng những bài giảng điện tử để thay đổi hình thức tạo cho trẻ cảm giác
thích thú khi tham gia hoạt động.
* Biện pháp 2. Cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi :
Để làm tăng hiệu quả trong việc cung cấp vốn từ tiếng Việt cho trẻ tôi nghĩ
việc cung cấp vốn từ cho trẻ mọi lúc, mọi nơi là điều hết sức cần thiết.
Trong thực tế như chúng ta thấy, bất đồng ngôn ngữ là rất khó khăn trong
giao tiếp, khả năng tiếp thu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm, mau quên nhưng khi
đã nhớ được thì lại nhớ rất lâu nên tôi tiến hành cho trẻ tiếp xúc với vốn tiếng việt
bằng phương châm "Mưa dầm thấm lâu" cho nên việc cung cấp ngôn ngữ Tiếng
việc ở mọi lúc, mọi nơi vô cùng hiệu quả.
- Giờ đón trẻ tôi luôn vui vẻ, thương yêu trẻ, sửa sang quần áo, chãi tóc cho
trẻ và không quên kèm theo một số câu hỏi giao lưu như: Sáng nay ai đưa con đến
trường ? Con ăn sáng chưa? sáng nay mẹ cho con ăn gì? Nhà con có mấy anh chị
em? Ai mua áo cho con mà đẹp vậy?
- Qua trò chuyện với trẻ như vậy tôi nắm được khả năng phát âm của mỗi trẻ
để có biện pháp và giành nhiều thời giờ hơn giúp trẻ phát âm đúng, phát âm chuẩn.
Người thực hiện: H’ Ngoăc Hmõk

Trang 4


Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường MN

- Giờ chơi tự do tôi hay dẫn trẻ đến các góc trò chuyện và phát âm các từ có
trong tranh, từ ở mỗi góc, tôi dạy trẻ phát âm nhiều lần và cho trẻ chỉ, phát âm chữ
cái đã học qua nhiều lần như vậy trẻ lớp tôi phát âm chuẩn hơn và mạnh dạn hơn
trong giao tiếp với cô, để từ đó tôi có những biện pháp phù hợp cũng như dành
nhiều thời gian cho những trẻ đó hơn.

- Trong giờ hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ ôn kiến thức đã học qua trò
chuyện, đọc thơ, kể chuyện, chơi các trò chơi dân gian, cho trẻ đọc đồng dao, ca
dao trong hoạt động này giúp trẻ phát âm thành thạo hơn, lưu loát hơn.
- Giờ vui chơi (Hoạt động góc) tôi cho trẻ đóng các vai khác nhau, trẻ được
giao lưu trao đổi mua bán và thể hiện hết vai chơi của mình, bên cạnh đó tôi luôn
theo sát trẻ để kịp thời sửa sai uốn nén mỗi khi trẻ hỏi hoặc trả lời không trọng tâm
hay trẻ dùng tiếng mẹ đẻ. Chính nhờ vậy mà lớp tôi đa số trẻ biết dùng từ để diễn
đạt thành câu có nghĩa trong giao tiếp với bạn và với cô.
- Giờ trả trẻ cũng như giờ chơi tự do tôi tạo mọi tình huống cho trẻ tiếp xúc
với tiếng Việt, như tổ chức một số trò chơi và cô cùng tham gia với trẻ. Cho trẻ hát
hoặc đọc các bài thơ có trong chương trình…không những vậy tôi luôn tìm mọi
cách để thay đổi hình thức giúp trẻ không thấy nhàm chán khi tham gia các hoạt
động. Cứ như vậy trẻ ở lớp tôi đã có sự chuyển biến tốt, trẻ đã mạnh dạn hơn trong
giao tiếp, không rụt rè mỗi khi cô gọi, không nhút nhát khi chơi với bạn…
* Biện pháp 3. Cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ thông qua các môn học
khác:
* Môn làm quen văn học:
Người thực hiện: H’ Ngoăc Hmõk

Trang 5


Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường MN

Để giúp trẻ học ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng
việt trong học tập cũng như trong cuộc sống. Tôi nghĩ trước hết cần dạy trẻ những
kỹ năng chú ý nghe và phát âm thông qua môn văn học là vô cùng cần thiết: Dạy
trẻ kỹ năng đọc thơ, kể chuyện. Tuy nhiên tùy theo tình hình của lớp mà tôi lựa
chọn các bài thơ cho phù hợp, điều đầu tiên tôi chú ý là lựa chọn bài thơ, câu
chuyện không quá dài, có nội dung hấp dẫn trẻ để cung cấp, vì trẻ dân tộc thiểu số
rất hiếu động thời gian tập trung chú ý nghe cô giảng rất ngắn, nắm được điểm yếu
này của lớp tôi luôn tạo ra tình huống vui nhộn để lôi cuốn trẻ vào giờ học bằng
một giọng nói lúc trầm lúc bổng để gây sự chú ý, khơi gợi tính tò mò của trẻ, đã
tạo được tâm thế cho trẻ, trước khi vào học tôi tiến hành đi vào giờ học chính bằng
ngôn ngữ giới thiệu hấp dẫn từ ngữ thật gần, thật dễ hiểu đối với trẻ, tôi đọc thơ
hay kể chuyện với giọng thật truyền cảm, phối hợp các động tác minh học phù hợp,
để lôi cuốn trẻ chăm chú lắng nghe, sau đó mới mời trẻ lên đọc thơ, kể chuyện. Tôi
chú ý đến những trẻ đọc chưa chuẩn để rèn và sửa sai cho trẻ. , tôi không quên
khuyến khích trẻ bằng một món quà hay thưởng bằng một phiếu bé ngoan, Chính
nhờ như vậy lớp tôi ngày càng ham thích học thơ, kể chuyện, nhiều cháu thuộc thơ,
kể lại câu chuyện một cách hoàn chỉnh, như vậy việc cung cấp vốn Tiếng việt cho
trẻ dân tộc thiểu số của tôi gặt hái được nhiều thành công hơn so với trước, tôi vô
cùng phấn khởi và tiếp tục áp dụng một số biện pháp khác để ngày nâng cao hiệu
quả hơn.
VD: Chủ đề "Thế giới động vật" Câu chuyện "Chú dê đen"
* Hoạt động âm nhạc:
Tôi dạy cho các cháu hát những bài hát theo chủ điểm cũng như những bài
hát trong chương trình mầm non …Tổ chức cho các cháu cuộc thi “ Đồ Rê Mí”,
tập cho các cháu đóng vai làm ca sĩ lên giới thiệu tên mình và biểu diễn cho các
bạn xem cứ lần lượt như vậy và tất cả các cháu đều được lên hát, bước đầu các
cháu chỉ thuộc lời của bài hát và càng sôi động hơn khi được nghe nhạc không lời
và các cháu là những ca sĩ thể hiện bài hát, thông qua đó các cháu đã dần dần cảm
nhận được giai điệu của bài hát và hiểu được nội dung của bài hát điều này cho tôi
thấy các cháu có khả năng nghe và hiểu tiếng việt và tôi đã khuyến khích đồng thời
tích hợp môn âm nhạc vào mọi hoạt động nhằm giúp các cháu phát triển vốn tiếng
việt tốt hơn nữa
* Dạy trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái Tiếng việt:
- Nội dung của hoạt động này là giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ
cái, bên cạnh đó còn giúp trẻ đọc đúng các từ, hiểu được nội dung các từ, từ đó
giúp trẻ sử dụng từ đã biết để diễn đạt ý mình muốn nói…

Người thực hiện: H’ Ngoăc Hmõk

Trang 6


Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường MN

- Trong lớp tôi cũng có một số cháu nói được tiếng phổ thông nhưng không
nhớ mặt chữ cái hay từ ngữ của tiếng Việt, các cháu thể hiện theo bản năng bắt
chước…chính vì vậy mà việc dạy trẻ làm quen với chữ cái sẽ giúp trẻ nhận biết
được chính sát cấu tạo của các chữ cái cũng như cách phát âm, để từ đó trẻ có thẻ
nghe, cảm nhận, phát âm và tìm được chữ cái tương ứng trong từ…
Ví dụ : Chủ đề “ Gia đình”
Đề tài : Làm quen chữ cái e, ê. Cô tạo tình huống cho trẻ đến thăm nhà một
bạn, bạn đó ở nhà rất ngoan và lớp mình có muốn ngoan giống bạn đó không, vậy
bây giờ chúng mình hãy ngồi thật ngoan để xem mẹ bạn ấy tặng cho chúng mình
món quà gì nhé ( và tất nhiên trẻ nào cũng muốn mình ngoan giống như bạn…)
- Cô có tranh “ Mẹ bế bé” dưới tranh cô có từ “Mẹ bế bé” cô cho trẻ đọc từ
dưới tranh ( Cả lớp cùng đọc).
- Cô đặt những câu hỏi cho trẻ trả lời : Trong từ “ Mẹ bế bé có bao nhiêu
tiếng ?”
- Để chỉ từ “ Mẹ bế bé” cô cũng có thẻ chữ cái rời ghép lại, bạn nào giỏi lên
rút chữ đã học ( trẻ lên rút chữ đã học và phát âm)
- Cô dẫn dắt tạo tình huống và giới thiệu hôm nay cô sẽ cùng với lớp mình
làm quen với “những chữ cái dễ thương” hay “những chữ cái đáng yêu”…nhằm lôi
cuốn trẻ hứng thú hơn vào hoạt động. Cô phân tích cấu tạo của chữ cái e, ê, cô giới
thiệu cách viết và cho trẻ phát âm chữ cái e, ê. Cô cho trẻ quan sát và so sánh đặt
điểm của hai chữ cái, cô gợi ý cho trẻ nêu được điểm giống và khác nhau để từ đó
giúp trẻ nhớ lâu hơn…và để khắc sâu hơn về đặc điểm, cấu tạo, và nhận biết chính
xác các chữ cái, ta phải luôn tìm tòi, học hỏi và sưu tầm các trò chơi phù hợp với
nội dung để tổ chức cho trẻ nhằm giúp trẻ nắm được các chữ cái không những thế
mà còn giúp cho trẻ phát âm các chữ cái một cách chính xác hơn.
- Ví dụ : Như trò chơi “ chiếc nón kỳ diệu” hay trò chơi “ Ô cửa bí mật”…
trẻ quay vào trúng chữ cái nào cho trẻ phát âm chữ cái đó…
- Cô cho trẻ chơi các trò chơi chữ cái:
Ví dụ: Trò chơi tìm chữ cái I, t, c trong bài thơ " Làm nghề như bố" Tôi viết
bài thơ lên giấy rô ki ( mỗi tờ một bài), tôi chia lớp làm 3 đội lên dùng bút tìm và
gạch chân chữ I, t, c có trong từ có trong mỗi câu thơ, đội nào tìm gạch chân được
nhiều chữ I, t, c thì chiến thắng và được tuyên dương.
Ví dụ: Tôi cho trẻ nhận biết và phát âm chữ cái qua nhiều trò chơi khác như
" Nối chữ cái với từ có chứa chữ cái đó". " Đưa chữ cái theo yêu cầu của cô" gắn
trên đồ dùng, đồ chơi,...
- Bên cạnh đó tôi luôn tranh thủ thời gian tự làm thêm một số đồ dùng
Người thực hiện: H’ Ngoăc Hmõk

Trang 7


Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường MN

đồ chơi tự tạo để cho trẻ được thực hành trãi nghiệm.
- Qua một thời gian thực hiện lớp tôi tiến bộ rõ rệt, các cháu hứng thứ trong
học tập, nhiều cháu thuộc chữ cái và phát âm đúng chữ cái do tôi cung cấp.
* Hoạt động khám phá khoa học:
- Môn KPKH là một trong những môn học giúp trẻ phát triển nhận thức và
ngôn ngữ tích cực nhất, vì vậy tôi nghĩ cần phát huy hết tác dụng của môn học này
để dạy trẻ.
Ví dụ : Trong chủ đề “ Thế giới động vật”
Đề tài : Những con vật đáng yêu quanh bé.

- Khi cho trẻ quan sát tranh Con chó và tôi đố cả lớp đây là con gì? Thì trẻ
trả lời “Asâo” (có nghĩa tiếng việt là con chó ), trước tình huống đó tôi nói với các
cháu: “ Cô và các con cùng thi xem ai nói giỏi nhé cô sẽ nói tiếng của các con và
các con nói tiếng của cô các con có đồng ý không ?” và tiết học của chúng tôi đã
trở thành một “cuộc thi tài” trẻ nào cũng muốn mình là người chiến thắng, và tình
huống trên đã được thay đổi các cháu đã cố gắng nói bằng tiếng việt mỗi khi cô
đưa tranh ra.
Ví dụ:

Trẻ



Con Mèo

-

Miêu

Con Vịt

-

Bip

Con Heo

-

Ũn

Con chó
Người thực hiện: H’ Ngoăc Hmõk

Asâo
Trang 8


Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường MN

- Một hạn chế mà trẻ người đồng bào thường mắc phải, đó là nói thiếu dấu
hoặc thêm dấu.
Ví dụ : “ Con vịt” thì trẻ đọc là “con vit”
“Con heo” thì trẻ đọc là “con hèo”
- Tôi hướng dẫn các cháu cách phát âm đồng thời sửa sai kịp thời cho các
cháu, khuyến khích, tuyên dương những trẻ phát âm đúng, sữa sai và hướng dẫn
cho các cháu phát âm chưa đúng, giúp các cháu khắc phục cũng như hạn chế được
lỗi mất dấu khi phát âm.
- Với hình thức “ thi tài “ hay “ đố vui có thưởng”…giữa cô và trẻ thì trẻ đã
có thể nghe và hiểu được câu hỏi của cô.
- Ví dụ : Chương trình “ Đố vui có thưởng” cô bốc thăm và đọc câu hỏi:
Con chó là động vật sống ở đâu? Trẻ nào biết thì lắc xắc xô và được quyền trả lời :
Thưa cô con Chó là động vật sống trong nhà…
* Hoạt động làm quen với toán :
- Tôi luôn chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học phù hợp với chủ điểm với đề tài
điều này theo tôi nghĩ là rất cần thiết vì nó tạo cho trẻ sự hứng thú hơn khi được
nhìn ngắm những đồ dùng đẹp, mới lạ đối với các cháu
Ví dụ: Chủ đề “ Nghề nghiệp”
- Đề tài : Đếm đến 7- nhận biêt nhóm đồ dùng có 7 đối tượng - chữ số 7 Với
đề tài này tôi chuẩn bị rất nhiều đồ dùng các nghề như quốc, bay,…tôi cho các
cháu gọi tên và nói công dụng của từng đồ dùng, trẻ rất thích thú và rất vui khi
mình nói đúng tên và công dụng của những đồ dùng đó. Mặc dù bên cạnh đó vẫn
còn một số cháu dùng tiếng mẹ đẻ để gọi tên đồ dùng đó và với tình huống ấy tôi
đã khuyến khích các cháu bằng cách: Ai gọi đúng tên đồ dùng thì được tham gia
trò chơi cùng với cô. Và trẻ nào cũng muốn mình được tham gia cuộc chơi, trẻ đã
cố gắng gọi tên đồ dùng bằng tiếng việt, và khi các cháu phát âm được các cháu rất
vui.
* Biện pháp 4. Kết hợp với phụ huynh giúp làm tăng vốn tiếng việt cho trẻ:
Có thể nói thời gian của trẻ ở trường với cô giáo rất nhiều, nhưng nếu chúng
ta biết phối hợp với gia đình của các cháu trong việc cung cấp vốn tiếng việt cho
trẻ thì tôi nghĩ chắc chắn sẽ đạt kết quả tốt hơn. Chúng ta có thể gặp phụ huynh,
trao đổi và phân tích cho phụ huynh của các cháu hiểu được những thuận lợi khi
con của họ học nói, nghe và hiểu được tiếng Việt.

Người thực hiện: H’ Ngoăc Hmõk

Trang 9


Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường MN

- Ví dụ : Trao đổi với phụ huynh nếu "Cháu nghe và hiểu được Tiếng Việt
thì khi vào lớp 1 cháu sẽ tiếp thu bài một cách tốt hơn mà tiếp thu bài tốt thì cháu
sẽ học giỏi hơn…
- Từ những lời nói ấy đã thúc đẩy phụ huynh quan tâm đến con em hơn,
thường xuyên giao tiếp với trẻ bằng Tiếng việt thay vì giao tiếp với trẻ bằng tiếng
mẹ đẻ khi trẻ ở nhà, trò chuyện với trẻ nhiều hơn, hỏi trẻ tên cô, yêu cầu trẻ đọc
các bài thơ, hát các bài hát mà trẻ được giáo viên dạy trên lớp. Cho nên trẻ lớp tôi
hiện nay nói thạo, nói lưu loát ngôn ngữ Tiếng việt, biết dùng từ, câu để diễn đạt
điều trẻ muốn nói, không còn trẻ nói câu không rõ nghĩa.
c. Mối quan hệ giữa các biện pháp, giải pháp:
- Các biện pháp và giải pháp được thực hiện xuyên suốt trong quá trình hoạt
động của trẻ. Và các biện pháp, giải pháp có mối quan hệ qua lại với nhau, hỗ trợ
và bổ sung cho nhau để nhằm cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ.
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi và
hiệu quả ứng dụng:
+ Kết quả khảo nghiệm:
Qua một vài kinh nghiệm tôi tự nghiên cứu và áp dụng cho các cháu ở lớp
tôi tuy chỉ trong một thời gian ngắn nhưng tôi thấy có sự chuyển biến một cách rõ
rệt và đạt kết quả như sau :
Huy động trẻ
Khả năng nghe, hiểu
và duy trì sĩ số
và nói tiếng Việt của trẻ tại lớp
Tổng Tổng số trẻ
số
đi
học Tốt
Khá
Trung bình
học
chuyên cần
sinh

17

Tổng
số

Tỷ lệ
%

Tổng
số

Tỷ lệ Tổng
%
số

Tỷ
lệ %

Tổng
số

Tỷ lệ
%

16

94

10

59

35

01

6

6

Kém
Tổng
số

Tỷ lệ
%

+ Giá trị khoa học: Đề tài trên tuy chỉ là vài biện pháp nhỏ và đơn giản
nhưng nó đã mang lại cho lớp chúng tôi tác dụng rất lớn trong công tác chăm sóc
giáo dục trẻ ở lớp Lá Buôn Sah.
- Qua quá trình nghiên cứu về một vài kinh nghiệm mà tôi tự tìm tòi, nghiên
cứu và áp dụng cho các cháu ở lớp tôi tuy chỉ trong một thời gian ngắn nhưng bản
Người thực hiện: H’ Ngoăc Hmõk

Trang 10


Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường MN

thân tôi thấy trẻ lớp tôi có sự chuyển biến một cách rõ rệt, có hiệu quả, và đạt được
kết quả cao.
- Các cháu hứng thứ trong học tập, nhiều cháu thuộc 29 chữ cái và phát âm
chuẩn hơn và mạnh dạn hơn trong mọi hoạt động.
- Trẻ thích học thơ, kể chuyện, nhiều cháu thuộc thơ, kể lại câu chuyện một
cách hoàn chỉnh. Nhờ áp dụng các biện pháp ở trên trong việc cung cấp vốn Tiếng
việt cho trẻ dân tộc thiểu số của lớp tôi mà tôi đã gặt hái được nhiều thành công
hơn so với trước và tạo cho việc dạy của mình được dễ dàng và thuận lợi hơn. Và
tôi hi vọng tất cả đồng nghiệp dạy lớp Lá 5 tuổi vùng đồng bào dân tộc thiểu số có
thể sử dụng và các biện pháp trên trong các hoạt động ở lớp của mình.
III. Phần kết luận, kiến nghị.
1. Kết luận :
Kinh nghiệm cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số là một việc
làm lâu dài và liên tục không phải ngày một ngày hai mà có được. Vì vậy đòi hỏi
cô giáo phải thật sự kiên trì và nhẫn nại cô giáo luôn tạo cho trẻ sự gần gũi và dành
nhiều tình yêu thương gần gũi trẻ. Luôn tạo tình cảm cho trẻ giao lưu trò chuyện
với cô, nghe hiểu lời nói của cô, cuốn hút trẻ tham gia vào các hoạt động phát triển
ngôn ngữ thứ 2 của trẻ thực sự hứng thú. Cô giáo nên tìm tòi và nghiên cứu “Nghệ
thuật lên lớp” để cuốn hút trẻ tham gia vào tất cả các hoạt động và lấy trẻ làm trung
tâm trong các hoạt động học cũng như vui chơi, nhằm giúp trẻ phát triển ngôn ngữ
một cách tốt hơn, trẻ mạnh dạn hơn, tự tin hơn…bên cạnh đó cô giáo nên tạo cho
phụ huynh của trẻ thấy được rằng con em của họ đến trường không chỉ có hát với
chơi mà còn được tham gia tất cả các hoạt động trong chương trình giáo dục mầm
non mới…
2. Kiến nghị:
Qua năm học kết quả về chất lượng vốn tiếng Việt ở trẻ mẫu giáo người dân
tộc thiểu số qua hoạt động giao tiếp ngôn ngữ bằng tiếng Việt còn chưa cao, sẽ ảnh
hưởng đến việc học tập ở lớp 1 phổ thông của các em sau này nên tôi mong muốn
cùng với đồng nghiệp nghiên cứu tìm những biện pháp thiết thực, khả quan đưa
vào thực tế giảng dạy để nâng cao chất lượng làm tăng cường vốn tiếng Việt cho
trẻ dân tộc thiểu số.
- Để tất cả các cháu người đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và trẻ 5 tuổi
nói riêng đến trường và duy trì sĩ số, tôi rất mong các quý cấp lãnh đạo quan tâm
nhiều hơn về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học, đồ dùng đồ chơi phù hợp với
từng độ tuổi của các cháu.

Người thực hiện: H’ Ngoăc Hmõk

Trang 11


Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường MN

- Chuyên môn tạo điều kiện cho giáo viên chúng tôi được tham dự các lớp
tập huấn cũng như tổ chức các buổi chuyên đề về chương trình mầm non mới, giúp
cho giáo viên chúng tôi trao dồi thêm kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ để
chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn.
Trên đây là một vài kinh nghiệm “Cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ dân tộc
thiểu số ở trường mầm non” mà tôi đã rút ra được trong quá trình giảng dạy của
mình. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp, các cấp
lãnh đạo nhà trường để việc giảng dạy bộ môn Tiếng Việt của tôi được tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn .
EaBông, ngày 17 tháng 01 năm 2018
Người viết

H’ Ngoăc Hmõk
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
CTHĐ CHẤM SÁNG KIẾN

Người thực hiện: H’ Ngoăc Hmõk

Trang 12


Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường MN

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên.
2. Tài liệu về phương pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ đồng bào dân tộc
thiểu số.
3. Tài liệu tập huấn chuyên đề giáo dục mầm non mới.
4. Chuyên đề đặc san giáo dục mầm non.

Người thực hiện: H’ Ngoăc Hmõk

Trang 13


Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường MN

MỤC LỤC
I. Phần mở đầu:

Trang

1. Lý do chọn đề tài…………………………………………

1

2. Mục tiêu nhiệm vụ của đề tài……………………………… 1
3. Đối tượng nghiên cứu……………………………………….1
4. Giới hạn của đề tài…………………………………………..1
5. Phương pháp nghiên cứu……………………………………1
II. Phần nội dung:
1.Cơ sở lý luận………………………………………………..3
2.Thực trạng vấn đề nghiên cứu………………………………
3. Nội dung và hình thức của giải pháp………………………4
a. Mục tiêu của giải pháp……………………………………..4
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp……………….4
c. Mối quan hệ giữa các biện pháp, giải pháp:………………..11
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu: 11
III. Phần kết luận, kiến nghị.
1.Kết luận……………………………………………………….12
2. Kiến nghị……………………………………………………..12
Tài liệu tham khảo……………………………………………...15
Mục lục………………………………………………………….16

Người thực hiện: H’ Ngoăc Hmõk

Trang 14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×