Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn chính tả lớp năm

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Bác Hồ kính yêu của chúng ta lúc sinh thời có nói: “ Vì lợi ích mười năm trồng
cây, vì lợi ích trăm năm trồng người ”. Bác luôn quan tâm đến nền giáo dục của nước
nhà, đặc biệt là những mầm non tương lai của đất nước. Bác luôn kì vọng thế hệ thiếu
nhi sau này sẽ đưa nước nhà sánh vai với các cường quốc năm châu. Để thực hiện
nguyện vọng đó của Bác, Đảng và nhà nước ta hiện nay rất chú trọng đến sự nghiệp
trồng người.
Nhà trường chính là nơi kết tinh trình độ văn minh của một quốc gia, là nơi giáo
dục thế hệ trẻ trở thành những người có ích cho xã hội, giúp các em phát triển về mọi
mặt. Trong chương trình Tiếng Việt, việc dạy đúng chính tả phải được coi trọng ngay
từ buổi đầu đi học, từ khi các em bước vào lớp 1 và cả cấp học tiểu học. Phân môn
chính tả có nhiệm vụ chủ yếu rèn luyện cho học sinh nắm các quy tắc và thói quen
viết đúng - chuẩn chính tả tiếng Việt. Cùng với các phân môn khác, chính tả giúp cho
học sinh chiếm lĩnh văn hóa Việt - làm công cụ để giao tiếp, tư duy. Vì vậy, chính tả
được dạy liên tục từ lớp Một đến lớp Năm với các loại bài như: nhìn - viết, nghe viết, nhớ - viết, bài tập so sánh, … Và như thế giúp các em được học môn chính tả
một cách khoa học, cẩn thận và sử dụng công cụ này suốt những năm tháng trong thời
kì học tập ở nhà trường cũng như suốt cuộc đời.
Thế nhưng, hiện tượng viết sai chính tả không chỉ xảy ra đối với học sinh trong
nhà trường, tình trạng sai chính tả đã xuất hiện rất phổ biến ngoài xã hội, trên các
phương tiện truyền thông, pa-nô, áp phích, internet, … nhất là ở học sinh bậc tiểu

học. Cụ thể là trên địa bàn các xã EaNa nơi các em học sinh trường Tiểu học Lê Hồng
Phong đang sinh sống. Sống trên một địa bàn nhưng gia đình các em đến từ nhiều
vùng quê khác nhau, giọng nói khác nhau. Em thì nói giọng miền Nam, em giọng
miền Bắc, em giọng miền Trung. Thường những em giọng miền Nam hay đọc và viết
sai các tiếng có âm cuối là c/t; (ví dụ: cát/các; bác/bát, …); âm cuối n/ng (ví dụ:
lan/lang; đan/đang; bàn/bàng, lượn/lượng…); vần im/iêm (ví dụ: tim/tiêm;
1


chim/chiêm; lim/liêm …); vần ip/iêp (ví dụ: kíp/kiếp; ..). Những em giọng miền Bắc
hay sai lỗi âm đầu s/x (ví dụ: xương/sương; xấu/sấu; xa/sa;….). Còn những em giọng
miền Trung sai lỗi dấu hỏi/ngã (ví dụ: đổ/đỗ; ngả/ngã;…); …
Trong thực tế, vùng nào thì hiểu theo vùng ấy nên thật ra trong từng địa phương
kiểu phát âm như vậy đã thành quen tai, ai cũng hiểu, dễ cho qua, có điều sự sống
chung, pha trộn cư dân trong các vùng miền của cả nước hiện nay là phổ biến, nên
khó khăn trong việc nghe - viết sao cho đúng là một vấn đề lớn đối với chính tả Việt
Nam.
Trước tình hình học sinh viết sai chính tả làm ảnh hưởng đến kết quả học tập ở
môn Tiếng Việt nói chung cũng như các môn học khác. Trong quá trình giảng dạy,
bản thân tôi luôn dành nhiều thời gian suy nghĩ để đi tìm câu trả lời: “Làm thế nào để
hạn chế tỉ lệ học sinh viết sai chính tả?” Vì Tiếng Việt là linh hồn dân tộc Việt, văn
hóa Việt. Viết đúng, nói chuẩn tiếng Việt là việc cần phải làm ngay.
Với ý nghĩ trên, tôi mạnh dạn chọn phân môn chính tả để nghiên cứu và thể hiện
trong việc đổi mới phương pháp dạy học chính tả ở tiểu học. Đó cũng chính là lý do
tôi chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn chính tả - lớp
Năm”.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
Trong quá trình giảng dạy thì thực trạng trong từng lớp, từng đối tượng học
sinh cũng khác nhau, nên tôi nhận thấy vấn đề đặt ra cần giải quyết là giáo viên phải
tìm ra phương pháp dạy đúng, dạy hay, hiệu quả nhất để giúp học sinh khắc phục viết
sai lỗi chính tả theo đúng quy ước của ngành Giáo dục và của xã hội.
Giúp các em viết đúng chính tả để khi viết một văn bản hay một lá đơn… không
phải mắc lỗi chính tả và là hành trang quan trọng để sau này các em học tốt môn
Tiếng Việt ở THCS và THPT.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Thực trạng viết sai chính tả.
- Biện pháp khắc phục lỗi chính tả.
2



- Một số bài viết chính tả của học sinh khối lớp Năm các năm học trước, đặc biệt
là học sinh lớp 5B Trường Tiểu học Lê Hông Phong năm học 2017 - 2018.
4. Giới hạn của đề tài:
- Chương trình và nội dung của phân môn chính tả lớp Năm.
- Tài liệu hướng dẫn học môn Tiếng Việt lớp 5.
- Nghiên cứu các tài liệu về “Phương pháp dạy học môn chính tả ở tiểu học”
5. Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã dùng một số phương pháp
sau:
a. Nghiên cứu tài liệu:
Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến phân môn Chính tả lớp Năm
b. Phương pháp thực nghiệm:
Tiến hành thu thập các số liệu trong điều kiện cho phép để đảm bảo cho sự thể
hiện tích cực các nội dung nghiên cứu.
c. Phương pháp trò chuyện – phỏng vấn:
Bản thân trực tiếp trò chuyện, trao đổi với một số giáo viên trong trường, đặc
biệt giáo viên khối Năm trường Tiểu học Lê Hồng Phong.
d. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:
Phân tích, đánh giá bài làm của học sinh ở phân môn Chính tả lớp Năm, qua
từng đợt kiểm tra định kì của năm học 2017-2018.
e. Phương pháp phân tích- tổng hợp.
g. Phương pháp thống kê.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận của đề tài:
Các lĩnh vực ngôn ngữ như: ngôn ngữ học, ngữ pháp học, phong cách học đều
có những đóng góp về mặt lý luận để các nhà khoa học giáo dục biên soạn chương
trình học Tiếng Việt cho từng cấp học. Ở phân môn chính tả, các lĩnh vực của ngôn
ngữ học đều có sự đóng góp để hình thành cơ sở khoa học. Chẳng hạn như ngữ pháp
3


văn bản giúp cho việc xác định rõ nghĩa của từ trong văn bản, xác định rõ các âm tiết
của từ đó mà viết đúng chính tả. Riêng lĩnh vực ngữ âm học là cơ sở lý luận gắn bó
mật thiết với vấn đề chính tả.
Chữ viết của tiếng Việt là chữ viết ghi âm cho nên nguyên tắc chính tả tiếng Việt
chủ yếu là nguyên tắc ngữ âm học. Ngoài ra, chính tả tiếng Việt còn được xây dựng
trên một số nguyên tắc nữa như nguyên tắc truyền thống lịch sử, nguyên tắc khu biệt,
… Những nguyên tắc này có lúc không đồng nhất với nguyên tắc ngữ âm học, do vậy
chính tả tiếng Việt cũng còn có những trường hợp không thống nhất. Cụ thể trong
tiếng Việt cách phát âm ở những vùng miền có khác nhau (phương ngữ). Bên cạnh đó
lại có trường hợp từ mang hai biến thể phát âm, khó có thể nói biến âm nào là chuẩn.
Ví dụ:

tròng trành - chòng chành

;

sung sướng – xung xướng

;

tuyên truyền – tiên triền

lang thang – lan than; …
sum sê - xum xuê;
;



giường chiếu – dường chíu; …

Hoặc có khi một cách phát âm nhưng lại có hai cách viết.
Ví dụ:

/i/

i: trong lí luận, mĩ thuật, …
y: trong Lý Thái Tổ, thư ký, …

Bản thân hệ thống âm vị tiếng Việt còn có một số âm vị không ghi thống nhất, một
âm có thể ghi bằng nhiều con chữ.
Ví dụ:

c: con cuốc
/ cờ /
k: cái kim
q: tổ quốc
Trước những khó khăn trên, việc xác định trọng điểm chính tả cần cho dạy học

sinh vùng phương ngữ, một mặt phải coi trọng hệ thống âm chuẩn toàn dân, mặt khác
phải tham khảo biến thể phát âm địa phương, đồng thời phải dùng nghĩa để sử dụng
dựa vào các văn cảnh.
2. Thực trạng của vấn đề:
Dân tộc Việt Nam trải qua bốn nghìn năm văn hiến, đã tích lũy được một kho
tàng tập quán văn học và văn hóa rất đa dạng, phong phú. Chữ viết (theo mẫu tự La
tinh) của dân tộc ta tuy mới hình thành hơn một trăm năm nay, nhưng đã thành trụ cột
4


then chốt của nền văn hóa nước nhà. Việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cả
trong lời nói, lẫn chữ viết là việc làm hết sức cần thiết của tất cả mọi người dân Việt
Nam.
Thế nhưng hiện tượng viết sai chính tả đang là mối quan tâm của nhiều người,
của cộng đồng xã hội. Việc viết sai chính tả xuất hiện ngày càng nhiều, không chỉ là
học sinh Tiểu học, học sinh Trung học, sinh viên, đôi khi có cả một số giáo viên và
những người thành đạt, và trên một số pa- nô, bảng hiệu, quảng cáo nữa,...
Hiện nay đa số học sinh thường thích xem truyện tranh như: Đô-rê-mon, Co-nan,
Thủy thủ Mặt trăng, Bảy viên ngọc rồng, … hơn là đọc sách, tạp chí văn học, … Việc
không có thói quen, không có niềm đam mê đọc sách dẫn tới vốn từ ngữ nghèo nàn, ít
ỏi. Người đọc sách nhiều sẽ có vốn từ càng nhiều thì ít khi viết sai chính tả.
Thông thường môn chính tả mới có yêu cầu về viết đúng, viết đẹp. Còn lại một số
môn học khác, giáo viên thường bỏ qua việc soát lỗi, thậm chí chỉ yêu cầu học sinh
học thuộc, tính toán đúng. Hơn nữa bài vở thì nhiều, thời gian hạn hẹp, áp lực công
việc khá lớn và giáo viên chưa quan tâm đúng mức, nên việc sửa lỗi chính tả cũng
chưa toàn tâm, toàn ý, chưa có hiệu quả.
Mặc khác một bộ phận không nhỏ học sinh còn ham chơi lười học, không chịu
suy nghĩ, tư duy trong việc nói và viết một cách chuẩn mực tiếng Việt (vì có bài mẫu,
sách mẫu, học thêm …)
Từ những vấn đề nêu trên để hạn chế việc học sinh viết sai chính tả, tôi đã đi sâu
về bộ môn này, nghiên cứu, suy nghĩ để tìm ra giải pháp giúp các em viết đúng chính
tả. “Nét chữ là nết người” viết đúng chính tả thể hiện ý thức của người học sinh trong
học tập đối với chữ viết - một thứ chữ gắn liền với nền văn hóa dân tộc, đồng thời thể
hiện lòng tự tôn dân tộc đối với tiếng Việt.
Đầu năm học, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 5B. Sau khi khảo sát chất
lượng đầu năm, để nắm bắt tình hình học tập của các em, tôi đã lập bảng thống kê lấy
điểm riêng về phân môn Chính tả, trong bài làm môn Tiếng Việt. Tôi đã rút ra được
một số điều như sau:
5


Một số em đã nắm bắt được phương pháp học theo mô hình trường học mới
VNEN, theo mô hình học trong Tài liệu hướng dẫn học dưới sự hướng dẫn của thầy
cô, bài làm của các em ít sai lỗi chính tả, chữ viết đẹp, rõ ràng, trình bày đúng văn
bản. Nhưng số em này không nhiều (khoảng từ 35 đến 40%), chủ yếu là những em
học giỏi môn Tiếng Việt.
Còn hầu hết các em đều sai lỗi chính tả, có em thì viết sai ở âm đầu: s/x; d/gi;
ch/tr; … Có em thì viết sai ở âm cuối: c/t; n/ng. Có em thì viết sai ở âm chính: iê/i ;
yê/i…. Có em thì viết tiếng có âm đệm trở thành tiếng không có âm đệm; nhiều em
viết sai ở dấu thanh không phân biệt giữa dấu hỏi và dấu ngã; ….
Qua khảo sát, tôi thống kê được tỉ lệ học sinh lớp 5B chất lượng phân môn
chính tả như sau:
Tổng số

Kỹ năng nghe –

Kỹ năng nghe – viết

Nghe – viết còn hay

viết tốt. Viết đúng

tốt. Viết chưa đúng

sai lỗi chính tả. Viết

tốc độ
31

tốc độ

chưa đúng tốc độ

SL

TL

SL

TL

SL

TL

6

19,4%

15

48,4%

10

32,2%

Dựa vào những kết quả trên, tôi liền tiến hành vạch ra cho mình một kế hoạch
để làm thế nào tỉ lệ học sinh viết sai lỗi chính tả ở điểm trung bình và yếu giảm đến
mức tối thiểu. Một điều đáng mừng là học sinh tôi dạy 97,8% là học sinh dân tộc
Kinh, 3,2% là học sinh dân tộc thiểu số 2/5 học sinh có giọng nói là giọng miền
Trung, bản thân tôi cũng là người có giọng miền Trung, điều kiện cơ sở vật chất của
nhà trường cũng tạm ổn, trường có tổ chức dạy 2 buổi/ngày. Đó cũng là một yếu tố
giúp tôi có thể thực hiện được nghiên cứu này.
Song yếu tố quan trọng là làm thế nào để các em có thể nắm bắt được khi nào
các em viết sai chính tả.Tỉ lệ viết sai chính cũng tương đối nhiều mà tài liệu về môn
Chính tả ở thư viện cũng hạn chế. Việc tiếp thu của các em cũng có phần hạn chế, các
6


em cứ viết theo thói quen, đọc sao viết vậy, sửa rồi lại quên.
Qua trao đổi, dự giờ các đồng nghiệp cùng khối; thông qua việc nghiên cứu sách
giáo khoa Tiếng Việt và kết quả khảo sát của học sinh, tôi nhận thấy tình trạng dạy và
học chính tả hiện nay hiệu quả đạt chưa được cao, cụ thể là:
- Kết quả khảo sát học tập của học sinh, các em còn mắc nhiều lỗi chính tả, tình
trạng này có cả nguyên nhân ở nội dung và phương pháp dạy học của phân môn này.
- Từ thực tiễn, tôi thấy giáo viên chuẩn bị bài giảng rất chu đáo, tận tâm giảng
dạy tỉ mỉ cho học sinh cách viết từng chữ, từng câu nhưng cuối cùng vẫn có không ít
học sinh viết sai, ngay cả những từ giáo viên mới vừa phân tích hướng dẫn xong.
- Nguyên nhân dẫn đến cái sai là do một số học sinh đọc chậm, đọc ngắc ngứ,
cách phát âm không chuẩn. Nói - đọc như thế nào thì viết như thế đó; học sinh phân
biệt chưa rõ cách đọc nhất là “ tr ” và “ ch ”, “ s ” và “ x ”, “ gi - d ”, … thường
hay lẫn lộn về sai thanh điệu do sự phát âm không phân biệt giữa thanh hỏi và thanh
ngã, ….
- Một số học sinh ráp âm, ráp vần để tạo thành tiếng chưa thành thạo, nhất là đối
với một số tiếng khó viết, ít gặp.
Ví dụ: lấp loáng, suy thoái, gọn ghẽ, khoét, ngọ nguậy, ngoằn ngoèo, ….
- Phần lớn bị ảnh hưởng bởi môi trường sống nên các em chưa thật chú tâm đến
học tập, tiếp thu kiến thức chậm, khó nhớ mau quên. Những kỹ năng cơ bản về nghe,
nói, đọc, viết còn nhiều hạn chế.
Trong quá trình giảng dạy và theo dõi chất lượng bộ môn, tôi thấy học sinh
thường mắc phải hai loại chính tả như sau:
1. Sai về nguyên tắc chính tả hiện hành:
Là loại lỗi do người viết không nắm được các đặc điểm và nguyên tắc kết hợp
các chữ cái, quy tắc viết hoa trong tiếng Việt
1.1. Đặc điểm chính tả Tiếng Việt:
- Tiếng Việt là ngôn ngữ phân tiết tính: các âm tiết được tách bạch rõ ràng trong
khi nói. Vì thế khi viết, các chữ biểu thị âm tiết được viết rời, cách biệt nhau.
7


Ví dụ:

Bầm ơi sớm sớm chiều chiều

(6 âm tiết)

Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nghe… ( 8 âm tiết)
- Mỗi âm tiết tiếng Việt đều mang một thanh điệu nhất định. Khi viết chữ phải
đánh dấu ghi thanh điệu lên âm chính (hoặc bộ phận chính, đối với âm chính là
nguyên âm đôi) của âm tiết.
+ Cấu tạo âm tiết của tiếng Việt rất chặt chẽ và ổn định. Ở dạng đầy đủ, âm tiết
tiếng Việt có cấu tạo như sau:
THANH ĐIỆU
VẦN

Phụ âm đầu

Âm đệm
Âm chính
Âm cuối
Trong đó, âm chính và thanh điệu là hai bộ phận không thể thiếu được
trong cấu tạo của bất kỳ âm tiết nào.
+ Cách xác định ký hiệu ghi âm chính trong chữ: Muốn xác định ký hiệu ghi
âm chính trong chữ, ta đặt chữ vào mô hình cấu tạo vần.
Ví dụ:
Tiếng

Phụ âm đầu

Âm
đệm

Vần
Âm

Em

chính
e

yêu

Âm cuối

Thanh điệu

m

ngang



u

ngang

màu

m

a

u

huyền

đen

đ

e

n

ngang

Hòn

H

o

n

huyền

than

th

a

n

ngang

óng

o

ng

sắc

ánh

a

nh

sắc

+ Khi viết một tiếng, dấu thanh luôn được đặt ở âm chính: dấu nặng đặt bên
dưới âm chính, các dấu khác được đặt ở phía trên âm chính.
Ví dụ: hình, phận, rộng, đúng, tìm, tạo, …
8


+ Khi viết các tiếng có nguyên âm đôi mà không có âm cuối thì dấu thanh
được đặt ở chữ cái đầu ghi nguyên âm.
Ví dụ:

mía, nghĩa, giữa, của, múa, lửa, …

+ Những tiếng có nguyên âm đôi mà có âm cuối thì dấu thanh được đặt ở chữ
cái thứ hai ghi nguyên âm đôi.
Ví dụ: biển, người, quốc, nước, luận, hoàng, …
1.2 Quy tắc viết hoa hiện hành:
- Tình trạng viết hoa trong chính tả hiện hành:
+ Đánh dấu sự bắt đầu một câu.
+ Ghi tên riêng của người, địa danh, tên cơ quan, tổ chức ...
+ Biểu thị sự tôn kính: Bác Hồ, Người ...
Hai chức năng a và c nhìn chung được thực hiện một cách nhất quán trong
chính tả tiếng Việt. Duy có chức năng b là còn nhiều điểm chưa thống nhất trong sử
dụng.
Ví dụ:
Cùng một tên tổ chức, cơ quan cũng tồn tại những cách viết khác nhau:
Trường tiểu học Lê Hồng Phong.
Trường Tiểu học Lê Hồng Phong.
- Quy định về cách viết hoa tên riêng: (của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & đào tạo
ban hành). đang áp dụng trong nhà trường.
+ Đối với tên người và tên địa lý: viết hoa chữ cái đầu tất cả các tiếng tạo nên
tên đó, không dùng gạch nối.
Ví dụ: Võ Thị Sáu, Hà Nội, Bình Trị Thiên, Bình Dương
+ Đối với tên người và tên địa lý nước ngoài: viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ
phận tạo thành tên riêng đó. Các tiếng trong một bộ phận của tên riêng được ngăn
cách bằng dấu gạch nối.
Ví dụ: Tên người:
Tên địa lí:

Ê-đi-xơn, Giu-li-ét-ta, Ét-man Hin-la-ro, …
I-ta-li-a, Hi-ma-lay-a, Niu-di-lân, Ê-vơ-rét, …
9


+ Đối với tên tổ chức, cơ quan, đơn vị được viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ
phận tạo thành tên đó.
Ví dụ: Trường Tiểu học Lê Hồng Phong. Nhà xuất bản Giáo dục.
2. Sai cách phát âm chuẩn:
2.1. Lỗi viết sai thanh điệu:
Tiếng Việt có 6 thanh ( ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng ) thì nhiều học sinh
không phân biệt được 2 thanh hỏi, ngã. Số lượng tiếng mang 2 thanh này rất nhiều và
rất khó nhớ - kể cả những người có trình độ văn hoá cao.
Ví dụ: Sữa xe đạp, hướng dẩn, giử gìn, dổ dành, lẩn lộn,…
2.2 Lỗi viết sai phụ âm đầu:
Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ c/k:

Céo co…

+ g/gh: Con ghà , gê gớm…
+ ng/ngh: Ngỉ ngơi, nge nhạc, nghành nghề…
+ ch/tr:

Cây che, chiến chanh…

+ s/x:

Cây xả , xa mạc…

2.3 Lỗi viết sai âm cuối, vần:
Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ at/ac; ăt/ât/âc:

mác mẻ, lường gạc, gặc lúa, nổi bậc, lấc phấc…

+ an/ang; ân/âng: cây bàn, bàng bạc, khoai lan, hụt hẫn, tần lầu...
+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển…
Nguyên nhân chủ yếu viết sai:
* Lỗi khi viết về thanh điệu:
Thực tế qua ngôn ngữ nói, trong phương ngữ từ khu vực miền Trung và miền
Nam không có thanh ngã. Trong khi số lượng từ mang hai thanh này khá
lớn. Do đó đây là lỗi rất phổ biến trong học sinh.
* Lỗi khi viết phụ âm đầu:
Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch/tr,
10


d/gi, s/x. Ngoài ra, trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng
(ví dụ: âm “cờ ” ghi bằng 3 chữ cái c / k /qu, âm “ngờ” ghi bằng ng/ngh, âm “gờ”
ghi bằng g/gh…) dù có những quy định riêng cho mỗi dạng khi ghép chữ, nhưng đối
với học sinh tiểu học thì rất dễ lẫn lộn do không nhớ các quy định.
* Lỗi khi viết âm cuối, vần:
Đối với người Miền Nam, có thể nói việc phát âm hoàn toàn không phân biệt
các vần có âm cuối n/ng và t/c. Mà số từ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác
hai bán âm cuối i,u/ lại được ghi bằng 4 con chữ i/y (trong: lai/lây), u/o (trong:
sau/sao), do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh các tỉnh phía
Nam.
Tóm lại: Qua tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến việc viết sai lỗi chính tả của học
sinh, vấn đề mà cả xã hội đang quan tâm, việc tìm ra các giải pháp phù hợp là hết sức
cấp bách đối với những ai làm công tác giáo dục,
3. Nội dung và hình thức của giải pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp:
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy chính tả, tôi
nhận thấy rằng nếu chỉ dùng tài liệu hướng dẫn học, thì chưa đáp ứng đầy đủ với các
yêu cầu dạy cho học sinh học yếu chính tả ở tiểu học. Vì vậy, để khắc phục lỗi chính
tả mà học sinh mắc phải, tôi đã nghiên cứu và vận dụng một vài biện pháp để giúp các
em nắm được các quy tắc chính tả, các mẹo luật chính tả phù hợp với trình độ tiếp thu
của các em, hình thành kĩ năng, kĩ xảo chính tả, bỏ thói quen phát âm sai dẫn đến việc
viết sai.
b. Nội dung và cách thực hiện giải pháp:
Sau đây là một vài biện pháp mà tôi đã áp dụng trong những năm trực tiếp
giảng dạy như sau:
* Biện pháp 1: Củng cố quy tắc chính tả cho học sinh:
- Là giúp cho học sinh nắm vững các quy tắc chính tả.
- Để khắc phục được tình trạng học sinh hay mắc lỗi chính tả thì giáo viên cần
11


tập trung vào các loại bài chính tả phân biệt. Qua loại bài chính tả phân biệt này học
sinh được ôn luyện nhiều lần, nắm chắc được các quy tắc chính tả, mẹo chính tả.
Cũng qua bài chính tả so sánh này, học sinh nắm vững nghĩa của từng cách viết, từ đó
hạn chế được các lỗi sai.
Ví dụ: Khi dạy bài chính tả phân biệt dấu hỏi, dấu ngã.
- Chúng ta cung cấp cho học sinh quy luật bổng trầm, hệ bổng gồm các thanh:
ngang, hỏi, sắc; hệ trầm gồm các thanh: huyền, nặng, ngã.
Do vậy khi gặp một tiếng mà ta không biết là thanh hỏi hay thanh ngã, ta tạo ra
một từ láy. Nếu tiếng đó láy với tiếng bổng ta có thanh hỏi, nếu tiếng đó láy với tiếng
trầm ta có thanh ngã.
Ví dụ: Mở (trong mở mang) -Thanh hỏi;

Nghỉ (nghỉ ngơi) - Thanh hỏi

Mỡ (trong mỡ màng) -Thanh ngã; Nghĩ (nghĩ ngợi) - Thanh ngã
Ngoài ra ta cho học sinh hiểu nếu tạo ra một từ ngữ có ý nghĩa sẽ nắm được
nghĩa và hình thức chữ viết của từ.
Ví dụ: Deo dai, em thử điền dấu hỏi sẽ thành Dẻo dai. Dẻo dai là từ có nghĩa
chỉ sự bền bỉ không giảm của sức lực, vậy ta điền dấu hỏi. Nếu điền dấu ngã sẽ thành
Dẽo dai, dẽo dai không có nghĩa vậy không thể điền dấu ngã.
- Đối với những từ Hán -Việt phát âm không phân biệt dấu hỏi, dấu ngã. Gặp
những từ bắt đầu bằng một trong các phụ âm: m, n, nh, v, l, d, ng và ngh hãy nhớ câu:
“ Mình Nên Nhớ Viết Là Dấu Ngã ” thì đánh dấu ngã.
Ví dụ: Vĩ nhân, cần mẫn, nhã nhặn, lãnh đạm, vãng lai, phụ lão, dã man, ngôn
ngữ, tín ngưỡng ... Trừ "ngải" trong "ngải cứu". Còn những từ bắt đầu bằng các phụ
âm khác, hoặc không có phụ âm đầu thì đánh dấu hỏi.
Ví dụ:

đảo điên, tưởng tượng, kiểu cách , ….

Nhưng vẫn có một số trường hợp ngoại lệ vẫn viết bằng dấu ngã
Ví dụ: kỹ (kỹ thuật, kỹ xão), bãi (bãi bỏ, bãi khóa),
hữu (bằng hữu, hữu nghị), phẫu (phẫu thuật, giải phẫu ),
tiễn (tiễn đưa, tiễn biệt), …
12


Khi dạy bài chính tả phân biệt k/q/c. Học sinh tự tìm ra những từ có âm đầu là
k/q/c, từ các ví dụ cụ thể mà học sinh nắm lại quy tắc chính tả.
* Chữ cái c: Luôn đứng trước các vần bắt đầu các nguyên âm : a, ă, à, o, ô, u, ư ...
Ví dụ: Cần cù, còn, cặm cụi, cũng ...
* Chữ cái k: Luôn đứng trước các vần bắt đầu bằng các nguyên âm : e, ê, i ...
Ví dụ: Kính, kể, kèo ...
* Chữ cái q: Luôn kết hợp với u thành qu (đọc là quờ). Qu luôn đứng trước hầu
hết các nguyên âm (trừ các nguyên âm o, u, ư ).
Ví dụ: Quan trọng, quanh quẩn.
Ngoài ra cần cung cấp cho học sinh một số mẹo luật chính tả.
Ví dụ: Khi nào viết là da , khi nào viết là gia?
+ Da: Chỉ lớp bao bên ngoài các loại động vật
+ Gia: Chỉ mối quan hệ dòng họ.
* Biện pháp 2: Yêu cầu học sinh tự phát hiện ra lỗi chính tả và tự sửa lỗi
chính tả:
- Giáo viên hướng dẫn cho học sinh tự phát hiện ra những lỗi viết sai và tự bản
thân các em sửa lỗi qua các hình thức khác nhau.
- Giáo viên đọc lại bài văn hay khổ thơ mà trong đoạn bài yêu cầu học sinh viết
cho học sinh soát lỗi.
- Giáo viên chỉ ra cho học sinh thấy được các lỗi sai, từ đó học sinh có ý thức
được các lỗi mà mình mắc phải, bằng cách viết lại các lỗi sai đó vào một quyển vở
sửa lỗi, các lần sau mà gặp phải các lỗi này học sinh sẽ thận trọng hơn trong khi viết.
Qua đó hình thành cho học sinh bản năng tự kiểm tra soát lỗi và có ý thức tự sửa.
- Giáo viên cho học sinh phát hiện ra lỗi chính tả qua các dạng bài tập khác
nhau. Ví dụ: Chép một đoạn bài có viết sai chính tả, yêu cầu học sinh viết lại cho
đúng.
Ví dụ: Trong bài: “Kì diệu rừng xanh” nắng trưa đả rọi xuống đỉnh đầu mà
rừng sâu vẫn ẫm lạnh, ánh nắng lọt qua lá trong xanh. Chúng tôi đi đến đâu, rừng rào
13


rào chuyễn động đến đấy. Những con vượn bạt má ôm con gọn ghẻ chiền nhanh như
tia chớp. …
Qua bài viết trên giáo viên cho học sinh tự sửa lỗi chính tả, cụ thể là âm cuối t
thành c, chiền thành chuyền, dấu hỏi viết dấu ngã, dấu ngã viết dấu hỏi.
Từ những cách nêu trên giúp học sinh quen dần với cách phát hiện ra lỗi và tự
sửa lỗi, dần dần học sinh sẽ nhớ cách viết đúng, thấy được các từ viết sai để tránh.
* Biện pháp 3: Giáo viên cần phải phát âm chuẩn và rèn cho học sinh kỹ
năng đọc:
Muốn cho học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải là người phát âm rõ tiếng,
đúng chuẩn, đồng thời luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm
đầu, âm cuối. Việc rèn phát âm bắt đầu phải được thực hiện trong tiết Tập đọc và
được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả,
Luyện từ và câu, Tập làm văn…
* Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh sửa lỗi thông qua môn học khác:
- Thông qua phân môn luyện từ và câu, giúp cho học sinh hiểu được nghĩa của
từ một cách chính xác.
Ví dụ: đổ hay đỗ
- Xe đổ: Xe bị lật nghiêng
- Xe đỗ: Xe dừng lại không chạy nữa
Ví dụ: vỏ hay võ .
- Vỏ: bóc vỏ, vỏ chai
- Võ: võ nghệ, võ vàng, vò võ
- Qua phân môn luyện từ và câu giúp cho các em hiểu về câu, từ đó biết chấm
câu, sau dấu chấm câu biết viết hoa chữ cái đầu câu, biết viết hoa các danh từ riêng.
* Biện pháp 5: Tổ chức cho học sinh học theo tổ - nhóm:
- Giáo viên cần tổ chức cho học sinh học theo tổ nhóm hoặc phân thành “đôi
bạn cùng tiến” học tập để các em hướng dẫn lẫn nhau (giáo viên luôn nhắc nhở và
kiểm tra các em đều phải có một quyển vở rèn chính tả).
14


Ví dụ: Mỗi tuần sau tiết chính tả đến tiết học của những ngày tiếp theo các
nhóm học tập hoặc đôi bạn học tập sẽ đọc trước phần viết đúng rồi đọc toàn bài viết.
Qua đó học sinh đọc để hiểu được nội dung bài và nghĩa của từ cần ghi nhớ.
Vậy trong một tiết các em đã được mắt nhìn, tay viết các chữ khó rất nhiều lần,
từ đó hạn chế được các lỗi sai ở học sinh.
c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp:
Những biện pháp trên thực hiện được là nhờ kinh nghiệm qua nhiều năm giảng
dạy và công tác, qua sự trăn trở của bản thân, qua những kinh nghiệm đúc kết được
trong những năm học Cao Đẳng Tiểu học và bằng sự nhiệt huyết và lương tâm nghề
nghiệp.
d. Mối quan hệ giữa các biện pháp, giải pháp:
Giữa 5 biện pháp trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau. Các biện
pháp được thực hiện từ việc giao việc ở nhà đến việc kiểm tra bài, thực hành trên lớp
… Sự quan hệ mật thiết giữa cô giáo và học sinh trong việc rèn cách viết cách đọc.
4. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi
và hiệu quả ứng dụng:
Trong quá trình giảng dạy, với việc áp dụng các biện pháp trên tôi nhận thấy
học sinh có những tiến bộ rõ rệt trong việc nắm bắt các quy luật chính tả, đặc biệt là
các tiếng có phụ âm gi/d, tr/ch, s/x và thanh hỏi, thanh ngã so với đầu năm tỉ lệ viết
đúng đạt trên 85%. Ngoài ra, các em còn thể hiện sự viết đúng, viết đẹp trong bài
chính tả nói riêng và các bài tập của môn học khác nói chung.
Trong tiết học chính tả, không khí lớp học trở nên hào hứng, sôi nổi, các em
học sinh không còn rụt rè e ngại mà đã có sự tự tin, hăng hái phát biểu ý kiến xây
dựng bài.
Kết quả này được thể hiện rõ trong các đợt kiểm tra định kì của môn chính tả
trong lớp tôi giảng dạy như sau:
THỐNG KÊ CHẤT LƯỢNG CHÍNH TẢ HỌC KÌ I NĂM HỌC: 2017 - 2018

15


Tổng số

31
Giữa HKI
Cuối HKI

Kỹ năng nghe – viết

Kỹ năng nghe – viết

Nghe – viết còn hay

tốt. Viết đúng tốc độ

tốt. Viết chưa đúng

sai lỗi chính tả. Viết

tốc độ

chưa đúng tốc độ
SL
TL

SL

TL

SL

TL

6

19,4%

15

48,4%

10

32,2%

15

48,4%

14

45,2%

2

6,4%

Tuy việc giúp học sinh học tốt môn chính tả cần một quá trình lâu dài, xuyên
suốt, song với kết quả đạt được như trên tôi vẫn cảm thấy rất vui vì công việc mình
làm bước đầu đã có hiệu quả.
III. PHẦN KẾT LUẬN
1. Kết luận:
Việc phát hiện lỗi chính tả, thống kê, để đưa ra các biện pháp khắc phục rất là
cần thiết, không thể thiếu trong quá trình dạy - học Tiếng Việt. Nhưng không phải chỉ
đưa ra các biện pháp khắc phục là có thể thực hiện một cách có hiệu quả. Sửa chữa,
khắc phục lỗi chính tả là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi người giáo viên phải kiên
trì, bền bỉ. Giáo viên nên hướng dẫn các em thật tỉ mỉ về các quy tắc chính tả, quy tắc
kết hợp từ, quy tắc ghi âm chữ quốc ngữ … tránh trường hợp học sinh vì thiếu hiểu
biết dẫn đến sai sót.
Đặc biệt giáo viên phải chú ý đến các lỗi mà học sinh thường mắc phải, để đưa
ra các dạng bài tập rèn cho các em viết đúng chính tả và củng cố các quy tắc chính tả
cho các em qua các kiểu bài khác nhau.
Thực hiện tốt công tác chủ nhiệm bằng cách quan tâm đến tất cả các em học
sinh, với tất cả các môn học.Tục ngữ có câu: “Ở đâu có thầy giỏi. ở đó có trò giỏi”
nêu bật vai trò hướng dẫn của thầy, cô giáo trong việc học tập của học sinh. Vì vậy
người giáo viên cần phải không ngừng học hỏi, tự tìm hiểu, nghiên cứu để nâng cao
trình độ, tay nghề.
Có nắm chắc kiến thức, giáo viên mới có thể giúp học sinh chữa lỗi và khắc
phục lỗi một cách có hiệu quả. Ngoài ra giáo viên phải luôn học hỏi kinh nghiệm các
16


bạn đồng nghiệp, bồi dưỡng chuyên môn để bổ sung cho vốn kinh nghiệm của bản
thân.
Muốn học sinh viết đúng chính tả thì giáo viên phải phát âm chuẩn, viết đúng
chính tả trong giao tiếp cũng như trong giảng dạy, giáo viên phải là người có lòng tâm
huyết với nghề nghiệp, tận tụy với học sinh.
Giáo viên cần phải đầu tư thời gian, có kế hoạch hướng dẫn rèn chữ cho học
sinh, thường xuyên theo dõi và phát hiện kịp thời các hiện tượng mắc lỗi chính tả ở
học sinh để đưa ra biện pháp sửa chữa đúng lúc. Giáo viên cần lập cho học sinh mỗi
em một quyển vở rèn chính tả, kiểm tra , đánh giá học sinh qua từng thời gian cụ thể,
động viên các em học sinh có tiến bộ trong quá trình học tập.
Trong sự nghiệp giáo dục, dù ai đã công tác lâu năm có nhiều cống hiến cho sự
nghiệp giáo dục cũng như những người hiện đang công tác cũng đều có chung một
lòng mong mõi là làm sao, làm thế nào cho tất cả học sinh của mình viết đẹp và viết
đúng chính tả, góp phần làm rạng danh tiếng Việt. Việc sử dụng đúng chính tả có tầm
quan trọng không những cho cá nhân các em trong khi viết văn bản, trình bày một lá
đơn, một chương trình mà còn cho cả quốc gia. Tôi còn nhớ trong tiết Luyện từ và câu
ở lớp 5,ở tiết “Ôn tập về câu” có bài tập 2, bài tập này yêu cầu học sinh xá định thành
phần của câu, điều đó không có gì để đưa vào đây, song ở nội dung đoạn văn bản. Văn
bản có tiêu đề: “quyết định độc đáo”, trong đó có đoạn viết: “Cách đây không lâu,
lãnh đạo hội đồng thành phố Nót-tinh-ghêm ở nước Anh đã quyết định phạt tiền các
công chức nói và viết tiếng Anh không đúng chuẩn. Theo quyết định này, mỗi lần mắc
lỗi, công chức bị phạt 1 bảng. Ông Chủ tịch Hội đồng thành phố tuyên bố sẽ không kí
bất cứ văn bản nào có lỗi ngữ pháp và chính tả. Đây là biện pháp mạnh nhằm giữ gìn
sự trong sáng của tiếng Anh”. Đó là ở nước Anh còn đối với chúng ta, là công dân
nước Việt nên việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt có tầm quan trọng vô cùng to
lớn hơn nhiều. Vì vậy, việc rèn cho học sinh viết đúng chính tả là một việc làm vô
cùng cần thiết không những đối giáo viên đang giảng dạy ở lớp Năm mà đối với tất cả
giáo viên tiểu học.
17


Qua đi sâu nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân
môn luyện viết - Lớp 5” tôi đã tìm hiểu được các cơ sở lý luận, xác định được chất
lượng chính tả của học sinh của các năm học của một số lớp năm mà tôi trực tiếp
giảng dạy ở Trường Tiểu học Lê Hồng Phong. Từ đó đề ra những biện pháp cần
thiết. Đây là nhiệm vụ của mỗi người giáo viên nói chung và của tất cả giáo viên
Trường Tiểu học Lê Hồng Phong nói riêng. Nhiệm vụ này không chỉ tiến hành trong
ngày một ngày hai, trong một thời gian ngắn mà cho ta kết quả tốt ngay được, nó đòi
hỏi chúng ta phải cố gắng trong một thời gian dài với sự đồng bộ của các khối lớp.
2. Kiến nghị:
Tuy nhiên nhiệm vụ này có hoàn thành triệt để hay không chúng tôi cũng cần có
sự giúp đỡ của các cấp, các ngành có liên quan.
Nhà trường cần có kế hoạch lên chuyên đề để đồng nghiệp học tập lẫn nhau.
Trên đây là một số biện pháp mà trong quá trình giảng dạy tôi đã áp dụng vào
việc giảng dạy trên lớp. Với kết quả nghiên cứu của mình, tôi chỉ xin nêu một vài
kinh nghiệm ít ỏi của cá nhân tôi đã tích lũy được, một số bài học thực tiễn, mong
muốn chia sẻ cùng với các bạn đồng nghiệp.
Rất mong được sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp và các cấp lãnh đạo để
việc giảng dạy bộ môn chính tả trong nhà trường ngày càng nâng cao chất lượng, giúp
học sinh học tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Eana , ngày 25 tháng 3 năm 2018
Người viết

Thái Thị Luận
MỤC LỤC

I. PHẦN MỞ ĐẦU
18


1. Lí do chọn đề tài………………………

Trang 1

2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài …………

Trang 2

3.Đối tượng nghiên cứu ...............................

Trang 2

4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu .............................

Trang 3

5. Phương pháp nghiên cứu ....................................

Trang 3

II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận của vấn đề …………….. ….

Trang 3

2. Thực trạng vấn đề ………………………

Trang 4

3. Nội dung và hình thức giải pháp………

Trang 11

4. Kết quả khảo nghiệm…

Trang 15

……………………..

III. PHẦN KẾT LUẬN
1. Kết luận

…………………………….

2. Kiến nghị ………………………………

Trang 16
Trang 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu hướng dẫn học Tiếng Việt 5 - tập 1A, tập 1B, tập 2A, tập 2B của Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam
19


2. Sách giáo viên Tiếng Việt 5 - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
3. Hỏi- đáp về dạy học Tiếng Việt 5 - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
4. Từ điển Tiếng Việt Tiểu học – Nhà xuất bản giáo dục
5. Sổ tay chính tả Tiểu học – Nhà xuất bản giáo dục

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN CẤP TRƯỜNG

20


……………………………………………………………………
……………………………………………………………………
……………………………………………………………………
……………………………………………………………………
Chủ tịch hội đồng
(Kí tên và đóng dấu)

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN CẤP HUYỆN

……………………………………………………………………
……………………………………………………………………
……………………………………………………………………
……………………………………………………………………
………………………………………...........................................
Chủ tịch hội đồng
(Kí tên và đóng dấu)

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×