Tải bản đầy đủ

Một vài kinh nghiệm giúp học sinh khuyết tật chậm phát triển trí tuệ hòa nhập với trường THCS

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống, bất kì người cha người mẹ nào cũng luôn mong muốn
sinh ra những đứa con bình thường, khỏe mạnh về cả thể chất và trí tuệ. Tuy
nhiên, không phải tất cả mọi người làm cha mẹ đều đạt được nguyện vọng này.
Vẫn có những trẻ sinh ra có những khiếm khuyết về về trí tuệ và thể chất... tạo
gánh nặng về tâm lý và kinh tế trong công tác điều trị đối với cả gia đình và xã
hội. Nhưng không vì những khiếm khuyết này mà hầu hết những người làm cha,
làm mẹ cũng như toàn xã hội bỏ rơi các em. Với tấm lòng nhân ái, yêu thương
con người, tất cả chúng ta luôn quan tâm, động viên, sẵn sàng chia sẻ những khó
khăn để giúp gia đình các em, chính bản thân các em có sự tự tin để hòa nhập với
cộng đồng.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc trẻ bị khiếm khuyết về sức
khoẻ, về các chức năng cơ thể từ đó dẫn đến việc trẻ gặp khó khăn trong hoạt
động cá nhân, hoạt động học tập và trẻ hay có những hành vi bất thường.
Để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật trong các
nhà trường hiện nay là một vấn đề rất quan trọng. Không ai khác ngoài lực lượng
đội ngũ cán bộ, giáo viên nói chung, trong đó giáo viên chủ nhiệm nói riêng là
nòng cốt, đã góp phần làm nên sự thành công trong công tác giáo dục hòa nhập
cho trẻ khuyết tật.
Hiện nay công tác giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật vẫn còn xem nhẹ,

chưa thực sự được các thầy cô giáo nói chung và giáo viên chủ nhiệm nói riêng
đặc biệt quan tâm một cách đúng mức, bởi do nhiều nguyên nhân khách quan và
chủ quan, cụ thể: Về phía Đảng, Nhà nước, cơ quan chủ quản chưa có chính sách
ưu đãi đối với giáo viên chủ nhiệm có trẻ khuyết tật học hoà nhập, giáo viên chủ
nhiệm quá nhiều áp lực, nhiều việc phải hoàn thành, phải bắt nhịp với sự đổi mới,
đội ngũ giáo viên chủ nhiệm chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác giáo dục
hoà nhập trẻ khuyết tật, đại đa số chú trọng chất lượng đại trà, chất lượng mũi
nhọn, các phong trào, dường như họ ít chú trọng, còn xem nhẹ đến công tác giáo
dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật, thậm chí có giáo viên chủ nhiệm suy nghĩ chưa
đúng đắn: “Trong lớp có học sinh khuyết tật học hoà nhập như có thêm gánh
nặng”, khi phân công chuyên môn giáo viên chủ nhiệm không muốn nhận lớp có
trẻ khuyết tật học hoà nhập,… Song song với nhiều yếu tố nhận thức, tâm lý, tinh
thần trách nhiệm,… thì giáo viên chủ nhiệm họ chưa được trang bị đầy đủ kiến
thức và kĩ năng về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật một cách bền vững, nên công
tác giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao.
Bên cạnh đó năng lực của cán bộ quản lý còn hạn chế trong các khâu điều
hành, tổ chức thực hiện giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật, cơ sở vật chất phục
vụ cho việc giáo dục trẻ hòa nhập còn thiếu thốn, nhận thức của cha mẹ học sinh
về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật chưa cao, phó mặc cho nhà trường. Công tác
giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật gặp nhiều khó khăn cần được sớm tháo gỡ.
1


Theo Bộ GD-ĐT, so với 20 năm trước, số trẻ khuyết tật được học hòa
nhập tăng 10 lần. Nhưng theo kết quả nghiên cứu về sự sẵn sàng cho giáo dục
khuyết tật tại 8 tỉnh thành của Việt Nam (An Giang, Kon Tum, Ninh Thuận,
TP.HCM, Lào Cai, Gia Lai, Đồng Tháp, Điện Biên) do Bộ GD-ĐT, ĐH Toronto,
Đại sứ quán Úc và Unicef tổ chức công bố tại hội thảo, mới chỉ có 30% các
trường được khảo sát cho biết đã làm tròn trách nhiệm liên quan đến trẻ khuyết tật
theo văn bản pháp quy của Việt Nam. Rào cản lớn nhất trong việc giáo dục học
sinh khuyết tật là thiếu kinh phí. 86% trong số các trường tham gia khảo sát cho
biết: họ không có bất kỳ khoản ngân sách nào phân bổ cho việc giáo dục trẻ
khuyết tật.
(Theo báo Tuổi trẻ online ra ngày 16 tháng 12 năm 2015)
Xuất phát từ nhiều nguyên nhân trên, từ tình hình thực tế về công tác giáo
dục trẻ khuyết tật trong trường, trong lớp tôi trăn trở và chọn đề tài “Một vài kinh
nghiệm giúp học sinh khuyết tật chậm phát triển trí tuệ hòa nhập với trường
THCS”, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu
mục tiêu giáo dục mà Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ chính trị nhà trường đặt ra
trong thời kỳ đổi mới giáo dục hiện nay.


Tôi hy vọng sau khi thực hiện đề tài này sẽ có hiệu quả thiết thực, giáo
viên chủ nhiệm sẽ có thêm kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm và biết vận
dụng linh hoạt để góp phần làm tốt công tác giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật
hàng năm của nhà trường, chia sẻ phần nào gánh nặng đối với gia đình các em,
giúp cho các em trở thành người công dân có ích cho đất nước trong tương lai.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Nhằm tìm ra các giải pháp chủ yếu để phát huy hơn nữa vai trò trách nhiệm
của người giáo viên chủ nhiệm nhằm làm tốt hơn công tác giáo dục hoà nhập trẻ
khuyết tật, góp phần phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh,
đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay. Tăng hiệu quả và chất lượng giáo dục hoà
nhập cho trẻ khuyết tật, thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục trong năm học đề ra
.v.v…
Giáo viên chủ nhiệm thực hiện tốt các chủ trương về phát triển giáo dục
của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay trong đó có giáo dục hoà nhập
trẻ khuyết tật. Đây là một trong các nhiệm vụ trọng tâm, đồng thời thực hiện tốt
nhiệm vụ chính trị của nhà trường đặt ra trong năm học.
Giáo viên chủ nhiệm có thêm kinh nghiệm để làm tốt công tác phối hợp với
các tổ chức đoàn thể, giáo viên bộ môn, cha mẹ học sinh để hoàn thành tốt nhiệm
vụ giáo dục toàn diện trong nhà trường.
3. Đối tượng nghiên cứu
Một số kinh nghiệm, phương pháp trong công tác chủ nhiệm để giúp học
sinh khuyết tật chậm phát triển trí tuệ hòa nhập trong nhà trường. Cụ thể, tại
trường THCS Lê Đình Chinh, xã Quảng Điền, huyện Krông Ana.
4. Giới hạn của đề tài
2


- Giới hạn về thời gian: Nghiên cứu lĩnh vực giúp giáo viên chủ nhiệm làm
tốt công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật trong nhà trường trong năm học
2016 – 2017.
- Giới hạn về không gian: Tại trường THCS Lê Đình Chinh, xã Quảng
Điền, huyện Krông Ana.
Mặc dù bản thân đã có sự quan tâm đầu tư cho công tác giáo dục hòa nhập
cho trẻ khuyết tật trong nhà trường và cụ thể là đối với học sinh Nguyễn Thi
Phước - lớp 7A3, tuy nhiên do kinh nghiệm còn chưa nhiều và đặc thù tình hình
thực tế nên đề tài chỉ mới được tiến hành nghiên cứu từ năm học 2016 – 2017 nên
còn mang tính chủ quan cá nhân. Hy vọng trong thời gian tới, với sự nỗ lực học
hỏi của cá nhân, sự tạo điều kiện của các cấp các ngành trong công tác tập huấn,
hỗ trợ về chuyên môn đối với công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật trong
nhà trường, tôi sẽ có thêm thời gian và kinh nghiệm để kiểm chứng, hoàn thiện
hơn nữa những nội dung trong đề tài này.
5. Phương pháp nghiên cứu
a) Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu;
- Phương pháp khảo sát.
b) Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;
- Phương pháp nghiên cứu các nguồn tài liệu;
- Phương pháp quan sát;
- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm.
c) Phương pháp thống kê
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
Ngày nay, trẻ khuyết tật là một phần không thể tách rời của xã hội. Vì vậy
việc quan tâm, chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật đã trở thành việc làm cần thiết
và cấp bách của toàn xã hội nói chung cũng như ngành giáo dục nói riêng. Chính
phủ đã ban hành Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 Quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật, Đề án Hỗ trợ
người khuyết tật giai đoạn 2012 - 2020 theo Quyết định số 1019/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu giúp người khuyết tật được hưởng quyền học
tập bình đẳng như những người khác. Tạo điều kiện và cơ hội cho người khuyết
tật học tập văn hoá, học nghề, phục hồi chức năng và phát triển khả năng của bản
thân để hoà nhập cộng đồng”. Giáo dục trẻ khuyết tật chất lượng, thân thiện và
bình đẳng luôn được Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm. Trẻ khuyết tật cũng
như mọi trẻ em khác đều có quyền được giáo dục, học tập. Theo số liệu thống kê,
tại Việt Nam có khoảng 1,3 triệu trẻ khuyết tật và là nước đầu tiên của Châu Á,
3


thứ 2 trên thế giới ký cam kết thực hiện Công ước Quốc tế về quyền trẻ em vào
năm 1991. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều chương trình, đề án,
cơ chế chính sách để hỗ trợ giáo dục người khuyết tật. Bộ GD-ĐT cũng đã ban
hành theo thẩm quyền và phối hợp ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn,
cụ thể hóa các chính sách của Chính phủ về giáo dục đối với trẻ khuyết tật.
Từ những chính sách, đề án nêu chúng ta đều có thể nhận thấy rằng Đảng,
Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến đối tượng trẻ em khuyết tật, trẻ em
có hoàn cảnh khó khăn, luôn tạo mọi điều kiện thuân lợi nhất để các em có có hội
hòa nhập với cộng đồng. Trong đó, công tác giáo dục hòa nhập được Bộ Giáo dục
và Đào tạo xác định là hướng đi chủ yếu nhằm đảm bảo sự bình đẳng, công bằng
cho trẻ khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Theo đó, phát triển nguồn nhân
lực, đặc biệt đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ giáo viên và cán bộ
quản lý về kiến thức, kỹ năng, phương pháp trong giáo dục hòa nhập là một yêu
cầu cấp thiết của ngành Giáo dục và Đào tạo.
Việc giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập là một chủ trương đúng đắn của
Đảng, Nhà nước ta, thể hiện sự quan tâm đúng mức đến Quyền trẻ em, thể hiện
giàu tính nhân văn và thực sự có ý nghĩa đối với trẻ khuyết tật trong toàn xã hội.
Giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật ngày càng được Đảng, Nhà nước quan tâm sâu
sắc, coi đây như một nhiệm vụ chính trị phải hoàn thành trong thời kì đổi mới và
hội nhập được xác định là một trong những mục tiêu quan trọng của nền giáo dục
nước ta hiện nay.
Mỗi năm học đều có các văn bản chỉ đạo cụ thể của các cấp các ngành về
công tác giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập. Trong đó, sở GD&ĐT phối hợp với
Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật của tỉnh tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ,
giáo viên cốt cán của các trường , để góp phần giúp các nhà trường và giáo viên
làm tốt công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật, lựa chọn hình thức giáo dục
cơ bản đáp ứng với nhu cầu giáo dục của trẻ khuyết tật ở nước ta.
2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
- Việc quan tâm đối với con em mình của cha mẹ em Phạm Thi Phước còn
hạn chế, hoàn cảnh kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn, cha mẹ em kiếm sống
bằng việc canh tác hơn hai sào lúa nước những khi rảnh rỗi lại việc đi làm thuê
những công việc mang tính thời vụ ở ngoài thị trấn Buôn Trấp nên có tâm lý
chung phó mặc cho số phận, cho nhà trường và thậm chí có suy nghĩ con học đến
đâu thì hay đến đó, nếu không học được cho nghỉ ở nhà cùng đi làm thuê kiếm
tiền với cha mẹ. Thậm chí nếu thầy cô có gặp gỡ trao đổi còn tỏ thái độ buông
xuôi, không hợp tác, thiếu trách nhiệm.
- Em Phạm Thi Phước có hình thức bên ngoài bình thường nhưng do chậm
phát triển trí não nên đọc còn chậm và đánh vần từng chữ, tính toán còn chậm,
viết càng chậm. Đi học lại không chuyên cần, thích thì đi học, không thích thì
nghỉ nên giáo viên chủ nhiệm rất vất vả, chất lượng học tập của em rất thấp.
- Đa số giáo viên chủ nhiệm trong nhà trường chưa có nhiều kinh nghiệm
trong công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
4


- Hiệu quả công tác giáo hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở một số giáo viên bộ
môn chưa cao, công tác phối kết hợp với các tổ chức trong và ngoài nhà trường
chưa chặt chẽ, chưa năng động.
- Đảng và Nhà nước, các cấp ngành chưa có chính sách ưu đãi cụ thể cho
giáo viên chủ nhiệm có học sinh khuyết tật học hòa nhập.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp
3.1. Mục tiêu của giải pháp
Giúp giáo viên chủ nhiệm có thêm kinh nghiệm để làm tốt công tác giáo
dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật trong nhà trường. Góp phần nâng cao chất lượng
giáo giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật, đạt được mục tiêu giáo dục và hoàn
thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị nhà trường đặt ra trong năm học.
Giúp học sinh khuyết tật học hòa nhập có thêm niềm vui, sự hứng khởi khi
đến lớp, đến trường để cảm nhận được tình yêu thương chia sẻ của cả gia đình,
thầy cô, bạn bè và cả cộng đồng phần nào giảm bớt thiệt thòi mà các em đang
phải gánh chịu.
Góp phần tác động đến đến các tổ chức, cá nhân, cộng đồng và xã hội có sự
quan tâm hơn nữa trong công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật,...
Từ mục tiêu trên tôi nghiên cứu, đúc kết rút kinh nghiệm giúp học sinh
khuyết tật chậm phát triển trí tuệ hòa nhập trong trường THCS qua những giải
pháp, biện pháp cụ thể sau đây:
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
Nhà trường cần thực hiện tốt công tác bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho
đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý về giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật theo
phương thức bồi dưỡng tại chỗ; căn cứ vào khả năng, nhu cầu của học sinh
khuyết tật đã được xác định trong sổ kế hoạch giáo dục cá nhân và kế hoạch giáo
dục chung, điều chỉnh nội dung chương trình các môn học, phương pháp giáo dục
và đánh giá kết quả giáo dục phù hợp đối với từng học sinh khuyết tật học hòa
nhập trên tinh thần động viên, khích lệ và ghi nhận sự tiến bộ của các em; đầu tư
thiết bị dạy học, tạo môi trường và điều kiện cơ sở vật chất thuận lợi cho học sinh
khuyết tật học hòa nhập; là đầu mối để tập hợp các nguồn lực cộng đồng hỗ trợ
giáo viên, học sinh khuyết tật học tập có hiệu quả; tổ chức tiếp nhận học sinh
khuyết tật từ Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ra học
hòa nhập và tiếp nhận học sinh khuyết tật lên các cấp học trên (nếu có).
Giáo viên hòa nhập ở lớp là người trực tiếp làm việc hàng ngày với học
sinh khuyết tật nên có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hoạt động học tập,
tham gia các hoạt động phong trào của học sinh khuyết tật. Đặc biệt, nếu chúng
ta muốn có kết quả tốt hơn thì cần phải tìm hiểu cụ thể về đối tượng học sinh, chủ
động kiểm tra sự đáp ứng của học sinh đối với các quy trình và chương trình giáo
dục cho trẻ khuyết tật để xây dựng phương pháp giáo dục phù hợp nhất. Dưới đây
là một số nội dung mà bản thân tôi cho rằng thực sự cần thiết trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ giáo dục để giúp học sinh khuyết tật chậm phát triển trí tuệ hòa
nhập trong nhà trường.
5


Bước 1. Xác định đối tượng, thực hiện việc đánh giá cho mục đích
phân loại học sinh
Ngay từ đầu năm, giáo viên chủ nhiệm xác định đối tượng khuyết tật học
hòa nhập trong lớp mình phụ trách. Đó là dạng khuyết tật gì? Mức độ khuyết tật
ra sao? Hoàn cảnh của gia đình em đó như thế nào? Những mặt nào còn hạn chế
và những mặt nào cần giúp đỡ để phát triển hơn?
Bước 2. Lập kế hoạch cụ thể
Sau khi đã xác định được đối tượng trẻ khuyết tật học hòa nhập, tôi lập kế
hoạch cụ thể. Thiết kế chương trình cho học sinh dựa trên khả năng, mức độ thực
hiện nhiệm vụ học tập và những khó khăn đặc thù của mỗi học sinh, xây dựng kế
hoạch giáo dục cá nhân cho từng học sinh. Sau mỗi tháng đều có đánh giá, theo
dõi và có biện pháp điều chỉnh bổ sung. Cụ thể cần lưu ý các nội dung sau:
Thời gian thực hiện: Cần chỉ rõ ngày bắt đầu thực hiện và thời hạn hoàn
thành hoạt động. Thông thường, trẻ khuyết tật cần nhiều thời gian hơn để có thể
lĩnh hội được nhiều hoạt động khác nhau. Điều này liên quan đến việc phân bổ
lượng thời gian để thực hiện một nội dung hoạt động nhằm đạt đến mục đích giáo
dục đã xác định sao cho phù hợp, mang tính khả thi và kích thích hứng thú cả
giáo viên và trẻ. Cần tránh biểu hiện nôn nóng hay quá kì vọng vào sự tiến bộ của
trẻ.
Nội dung hoạt động: Là những hoạt động mà người giáo viên dự tính sẽ
tiến hành tổ chức để trẻ tham gia và nhằm giúp trẻ đạt mục tiêu. Các hoạt động
cần được thiết kế và thực hiện theo trình tự các bước và điều này liên quan đến kĩ
năng chia nhỏ nhiệm vụ, nội dung thành các bước càng nhỏ càng tốt đối với trẻ
khuyết tật. Tuy nhiên, một kĩ năng quan trọng khác là kĩ năng xây dựng các bước
chuyển tiếp bao gồm việc củng cố kiến thức, kĩ năng đã đạt được, hình thành kiến
thức, kĩ năng mới và chuẩn bị cho bước phát triển tiếp theo.
Biện pháp thực hiện và phương tiện liên quan: là những cách thức, điều
kiện để thực hiện hoạt động đó diễn ra và đạt kết quả. Những điều kiện, phương
tiện đảm bảo thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân bao gồm các dịch vụ đặc biệt
cho đối tượng trẻ khuyết tật khác nhau (máy trợ thính, chữ nổi Braille, đồ dùng
học tập phù hợp với trẻ khó khăn về vận động…), các hoạt động tập thể đảm bảo
cho trẻ khuyết tật được tham gia, các môi trường phù hợp với khả năng, hứng thú
của trẻ…
Người thực hiện: Là những người giúp trẻ thực hiện các hoạt động. Bản kế
hoạch cần chỉ rõ người chịu trách nhiệm chính, người hỗ trợ, thời gian và công
việc cụ thể của từng thành viên.
Kết quả mong đợi: Cần chỉ ra yêu cầu mức độ đạt được. Đối với mỗi mục
tiêu, cần chỉ rõ những tiêu chí và cách thức đánh giá. Cần lưu ý khi tiến hành
đánh giá phải xác định rõ mục đích đánh giá là nhằm xác định bước phát triển
tiếp theo cụ thể của trẻ để từ đó có những biện pháp can thiệp giáo dục kịp thời
đáp ứng nhu cầu của trẻ.

6


7


- Lập hồ sơ theo dõi sự tiến bộ của học sinh:

8


Bước 3. Xây dựng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học
Trong quá trình bản thân trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy bộ môn Mĩ
thuật, tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm về dạy học cho học sinh khuyết tật
học hòa nhập. Cụ thể như sau:
- Để giúp học sinh khuyết tật học hòa nhập với lớp mình, trước hết giáo
viên chủ nhiệm phải nắm vững đặc điểm tâm sinh lí, cá tính, khả năng, nhu cầu
của em khuyết tật ở lớp mình. Từ đó, bố trí cho những em học sinh khác trong lớp
cùng phối hợp, giúp đỡ bạn đặc biệt không vì các em là trẻ khuyết tật mà chúng ta
có tâm lý lơ là, thiếu quan tâm mà chúng ta có thể giao em những công việc thật
cụ thể, chi tiết trong khả năng của các em.
- Xây dựng mối quan hệ tốt với em. Không định kiến khi em có hành vi bất
thường. Yêu thương, quan tâm, chăm sóc em thường xuyên, để em không cảm
thấy bị bỏ rơi và em cảm thấy tự tin hơn.
- Tổ chức các hình thức dạy học đa dạng, phù hợp với đối tượng khuyết tật
của học sinh lớp mình.
Ví dụ:
Đối với em Phạm Thi Phước chậm phát triển trí tuệ thì trong giảng dạy bộ
môn giáo viên phải vận dụng hết sức linh hoạt, sáng tạo các phương pháp nhằm
giúp trẻ dễ hiểu, dễ tiếp thu, dễ nhớ. Sử dụng tốt tranh ảnh, mô hình, hình vẽ cũng
như các hoạt động vui chơi giúp trẻ nắm và nhớ kiến thức. Sau khi hướng dẫn
chung cho học sinh cả lớp, tôi thường dành một vài phút để kiểm tra, nhắc nhở để
giúp em củng cố kiến thức thường xuyên, liên tục, nhắc đi nhắc lại nhiều lần
9


những kiến thức đã học để em khắc sâu hơn. Thường thì tôi hay kiểm tra lại kiến
thức bằng những câu đố vui hoặc mô hình trực quan mang tính nhẹ nhàng vừa
học vừa chơi. Tránh những yêu cầu quá mức gây căng thẳng, ức chế thần kinh
cho em. Trường hợp thấy các em căng thẳng trong giờ học thì hỏi một câu hỏi mở
(hoặc câu hỏi vui) để em thoải mái hơn.
- Điều chỉnh nội dung chương trình, thời gian giữa học và nghỉ ngơi thư
giãn phù hợp với khả năng của em.
- Tạo môi trường thuận lợi để em có thể tham gia dễ dàng. Khuyến khích
em tham gia các hoạt động vui chơi bổ ích.
- Phần lớn học sinh không thích những hình phạt đặc biệt là hình phạt liên
quan đến xức phạm thân thể. Vậy nên, đối với học sinh khuyết tật chúng ta lại
càng cần hạn chế điều này.
Bước 4. Chú trọng rèn luyện kĩ năng sống
Trẻ khuyết tật từ lúc sinh ra đến lúc trưởng thành trải qua rất nhiều giai
đoạn phát triển khó khăn. Do trẻ có những đặc điểm tâm sinh lí không thuận lợi,
quá trình nhận thức bị suy giảm làm cho trẻ khó khăn trong việc lĩnh hội các kiến
thức cơ bản và vận dụng những kiến thức đó vào cuộc sống. Để giúp em hòa nhập
vào cuộc sống cộng đồng, chúng ta cần dạy và rèn luyện một số kĩ năng đơn giản
phù hợp với nhu cầu của bản thân các em:
- Rèn luyện kĩ năng tự chăm sóc bản thân: Học sinh khuyết tật khi học
những kĩ năng tự phục vụ bản thân gặp nhiều khó khăn. Cho nên dạy các em các
kĩ năng này cần:
+ Hướng dẫn từng thao tác nhỏ trong mỗi hoạt động.
+ Cho em nhìn, quan sát rồi mới thực hiện.
+ Thực hiện nhiều lần để em nhớ.
+ Trong quá trình em thực hiện phải chú ý theo dõi và trợ giúp khi cần
thiết. Nếu em chưa thực hiện được phải hướng dẫn lại rất cụ thể theo từng bước
từ đơn giản đến phức tạp.
- Giao tiếp là hoạt động trao đổi các thông tin giữa người này với người
khác hoặc giữa một người với nhiều người. Trẻ em khuyết tật gặp nhiều khó khăn
trong giao tiếp: các em không hẳn không hiểu hết lời nói, khi truyền đạt thì nói
không rõ hoặc nói không hết ý của mình, rụt rè trong giao tiếp.
Vì vậy, cần rèn luyện cho em những kĩ năng trong giao tiếp:
+ Kĩ năng lắng nghe
+ Kĩ năng nghe hiểu
+ Kĩ năng biểu đạt
Để giao tiếp đạt kết quả cao cần chú ý: Cần tôn trọng nhu cầu của em; động
viên khích lệ và khen ngợi em; chăm chú lắng nghe khi chuyện trò với em; lựa
chọn cách nói hợp với đặc điểm của em; kết hợp giữa lời nói và cử chỉ điệu bộ để
10


tạo ra sự hấp dẫn; luôn vui vẻ hòa nhã trong giao tiếp để tạo tâm thế thoải mái
cho em một cách tự nhiên.
Cụ thể đối với em Phước, em chỉ có thể nói, viết những từ đơn âm, từ ngắn
em gặp rất nhiều khó khăn đối với những từ đa âm, từ dài, câu dài. Thậm chí, em
còn gặp khó khăn trong việc ghi nhớ tên bạn bè cũng như thầy cô bộ môn trong
lớp, cho nên trong quá trình giáo dục, tôi thường dành thêm thời gian vào các tiết
sinh hoạt lớp… phối hợp với giáo viên bộ môn Ngữ văn để hướng dẫn thêm cho
em tập đọc, đi từ mức độ dễ và tăng dần độ khó, độ dài của văn bản.
- Rèn kĩ năng thích ứng: Học sinh có khuyết tật nhận thức chậm không đầy
đủ lại yếu trong nhận xét sự kiện, sự việc, quá trình định hướng điều khiển nên
khi chuyển sang môi trường hoàn cảnh mới lạ các em gặp nhiều khó khăn để
thích ứng. Trong quá trình giáo dục cần rèn luyện cho các em:
+ Làm quen thích nghi với môi trường hoàn cảnh mới.
+ Luyện cho các em có khả năng xác định những đức tính, đạo đức, thái độ
theo chuẩn mực của tập thể, của xã hội để phù hợp với lối sống.
+ Biết thông cảm với người khác, biết cách đặt mình vào vị trí của người
khác; hiểu và coi hoàn cảnh của người khác như của chình mình và tìm ra cách
giảm bớt gánh nặng bằng cách chia sẻ với nhau tránh định kiến mặc cảm.
+ Biết điều chỉnh hành vi, hoạt động phù hợp với qui tắc đạo đức lối sống
trong những trường hợp xung đột phải thương lượng là chính. Không nên dùng
bạo lực và luôn có lòng tự trọng.
Bước 5. Làm tốt công tác thông tin hai chiều trong nhà trường, với
giáo viên bộ môn, cha mẹ học sinh … để tìm ra biện pháp hỗ trợ giáo dục tốt
nhất
Ngay từ đầu năm học, sau khi có đầy đủ hồ sơ liên quan đến học sinh
khuyết tật, tôi chủ động hoàn thành báo cáo về lãnh đạo nhà trường để nhà trường
công khai trong cuộc họp Hội đồng sư phạm để toàn thể cán bộ, giáo viên nhân
viên được biết và cùng phối hợp thực hiện.
Giáo viên chủ nhiệm cần tạo điều kiện hình thành mối quan hệ tốt đẹp giữa
giáo viên bộ môn và học sinh khuyết tậ để tạo được sự thông cảm, thương yêu,
đối xử công bằng, tôn trọng các em. Thống nhất kế hoạch và chương trình giáo
dục đối với học sinh khuyết tật.
Sau đó trong cuộc họp cha mẹ học sinh đầu năm tôi tế nhị, chủ động nắm
bắt thêm thông tin từ gia đình để có cơ sở xây dựng kế hoạch mang tính khả thi
nhất. Thường xuyên thông tin về tình hình học tập và rèn luyện của học sinh
thông qua trao đổi trực tiếp, thông qua điện thoại hoặc gửi sổ liên lạc…
Chủ động nhắc nhở đội ngũ cán bộ lớp hiểu, cảm thông và chia sẻ công
việc, giúp giáo viên chủ nhiệm quan tâm theo dõi bạn, báo cáo thông tin kịp thời
về cho tôi để kịp thời nắm bắt và xử lý thông tin.

11


Bước 6. Xây dựng môi trường sinh hoạt, học tập thân thiện
Tổ chức cho học sinh học hòa nhập cùng lớp học bình thường và được học
tất cả các môn như các bạn học sinh khác (trừ một số trường hợp đặc biệt).
Xây dựng tập thể lớp có ý thức trách nhiệm, tinh thần đoàn kết thương yêu
giúp đỡ nhau. Động viên mọi thành viên trong lớp phải có tinh thần trách nhiệm,
giúp đỡ, tạo điều kiện cho các em cùng tham gia vui chơi.

Em Phạm Thi Phước (đứng đầu hàng) tham gia thi kéo co cùng các bạn trong
lớp 6A3 trong hội Khỏe Phù Đổng cấp trường
Giáo viên cũng như các bạn cùng lớp luôn phải chú ý động viên khuyến
khích kịp thời khi em hoàn thành được một nhiệm vụ, công việc đơn giản so với
trẻ bình thường khác. Xây dựng chương trình Vòng tay bè bạn ngay từ đầu năm
học để tạo ra bầu không khí thân mật, thương yêu giúp đỡ em như: nhóm bạn
cùng học ở nhà, nhóm cùng đi học, nhóm học trên lớp, nhóm cùng vui chơi. Cùng
tìm hiểu đặc điểm bệnh tật của em, để có hướng giúp đỡ khi em bị đau ốm. Yêu
thương, quan tâm chăm sóc em thường xuyên để cho em cảm thấy không bị bỏ
rơi và đem lại cảm giác an toàn cho em.

12


Giáo viên chủ nhiệm lớp tặng quà của tập thể lớp
cho em Phạm Thi Phước nhân dịp Tết Nguyên đán

Em Phạm Thi Phước cùng các bạn trong lớp 6A3 tham gia
Hội thi nghi thức đội cấp trường

13


Thầy Đặng Văn Sơn - Phó hiệu trưởng nhà trường đến dự giờ thăm lớp

Kết hợp với các bạn bè động nghiệp để theo dõi, giúp đỡ các em như Tổng
phụ trách, giáo viên dạy bộ môn. Kết hợp với phụ huynh học sinh để cùng nhau
đưa ra biện pháp tối ưu nhất tạo điều kiện cho em sống, học tập tại cộng đồng.

Em Phạm Thi Phước tham gia hoạt động nhóm cùng các bạn trong lớp 6A3

14


Quan trọng nhất là người giáo viên chủ nhiệm có học sinh khuyết tật học
hòa nhập phải có TÂM của người thầy, phải là người cha người mẹ thứ hai của
em.
Bước 7. Đánh giá học sinh khuyết tật học hòa nhập
Đối với học sinh khuyết tật học hòa nhập (theo chương trình giáo dục
chung với những học sinh bình thường), giáo viên tuyệt đối không được máy móc
dựa vào khung chuẩn của học sinh bình thường mà phải điều chỉnh chương trình,
kế hoạch dạy học và nội dung học vừa sức với các em. Việc đánh giá cũng phải
linh hoạt theo nguyên tắc động viên, khuyến khích sự nỗ lực và sự tiến bộ của học
sinh là chính; đảm bảo quyền được chăm sóc và giáo dục của tất cả học sinh.
Trong đó, chú trọng đến sự tiến bộ trong việc rèn luyện các kỹ năng như: kỹ năng
cá nhân (tự phục vụ, tự quản, tự học...); kỹ năng xã hội (giao tiếp, hợp tác...); kỹ
năng nhận thức, tư duy…; khả năng hòa nhập đối với từng đối tượng cụ thể.
Cụ thể, nếu học sinh khuyết tật đáp ứng được yêu cầu chương trình giáo
dục chung thì được đánh giá như đối với học sinh bình thường, tùy trường hợp cụ
thể có thể giảm nhẹ yêu cầu về nội dung đánh giá. Khi kiểm tra, đánh giá định kỳ
thì có thể giảm số lượng bài kiểm tra, tăng thời gian làm bài, hạ thấp mức độ yêu
cầu (nhưng phải đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng theo quy định), không cần
kiến thức nâng cao, có thể cho nợ kết quả đánh giá và thực hiện việc đánh giá bổ
sung vào thời điểm thích hợp. Bên cạnh đó, giáo viên cũng nên sử dụng nhiều
phương pháp, hình thức đánh giá chứ không nhất thiết phải làm bài kiểm tra.
Chẳng hạn như: làm bài tập, quan sát, theo dõi, vấn đáp, đánh giá qua sản phẩm
thay thế... Các hình thức đánh giá phải được ghi nhận trong học bạ của học sinh.
Đối với đối tượng học sinh này, chúng ta vẫn căn cứ vào hồ sơ học sinh và kết
quả đánh giá để xét hoàn thành chương trình lớp học, hoàn thành chương trình
THCS vào cuối năm học và ghi vào học bạ.
Đối với những học sinh khuyết tật học hòa nhập không đáp ứng được yêu
cầu chương trình giáo dục chung thì việc đánh giá dựa trên kế hoạch giáo dục cá
nhân đã được xây dựng từ đầu năm học và sự tiến bộ của học sinh. Kết quả đánh
giá không tính vào kết quả học tập chung của lớp nhưng được ghi nhận thành tích
cho giáo viên bằng sự tiến bộ của học sinh đó.
Một số lưu ý cần thiết trong quá trình thực hiện:
- Phát hiện những điểm tiến bộ hằng ngày của em để động viên kịp thời,
khích lệ và có biểu dương trước lớp, gây hứng thú cho em tham gia học tập tốt
hơn.
- Tuyệt đối không chê bai, mắng nhiếc trước tập thể khi em không theo kịp
bạn bè hay khi em phạm lỗi.
Bước 8. Công tác tổng hợp, lưu trữ hồ sơ của học sinh khuyết tật
Giáo viên làm công tác chủ nhiệm có học sinh khuyết tật hòa nhập cần chủ
động tham gia đầy đủ các đợt tập huấn, chuyên đề về công tác giáo dục học sinh
15


khuyết tật hòa nhập, nghiên cứu kĩ các văn bản liên quan; phối hợp với giáo viên
bộ môn để thực hiện tốt công tác báo cáo, lưu trữ hồ sơ theo quy định. Tối thiểu
phải có những loại hồ sơ sau đây:
Hồ sơ giáo dục dành cho học sinh khuyết tật bao gồm:
- Sổ theo dõi chăm sóc sức khỏe;
- Kế hoạch học tập cá nhân;
- Bài làm, bài tập kiểm tra;
- Học bạ;
- Giấy khai sinh;
- Giấy chứng nhận hoàn thành cấp học, bằng tốt nghiệp, chứng chỉ học
tập, học nghề;
- Các loại giấy tờ khác...
Giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm ghi chép, bổ sung
và lưu giữ đầy đủ, trung thực các thông tin về quá trình phát triển của người
khuyết tật trong thời gian học tập tại nhà trường.
Khi học sinh khuyết tật có sự thay đổi lớp, trường, cấp học hoặc hình thức
giáo dục, nhà trường hoặc cơ sở cũ có trách nhiệm bàn giao hồ sơ đến trường, lớp
hoặc cơ sở giáo dục mới.
Những thông tin cá nhân về người khuyết tật chỉ được cung cấp cho những
người có trách nhiệm.

16


4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các biện pháp, giải pháp nêu trên có một vai trò quan trọng, tác động qua
lại hữu ích góp phần giúp giáo viên chủ nhiệm làm tốt công tác giáo dục hòa nhập
cho trẻ khuyết tật. Giáo viên chủ nhiệm lớp cần chủ động nắm bắt thông tin kịp
thời, sát thực để xác định đối tượng học sinh khuyết tật, thực hiện chính xác việc
đánh giá phân loại dạng khuyết tật của học sinh để từ đó xây dựng kế hoạt động
giáo dục hoà nhập cho học sinh khuyết tật ngay từ đầu năm học. Phối hợp với
giáo viên bộ môn để thực hiện điều chỉnh nội dung, phương pháp, đồ dùng dạy
học... một cách linh hoạt, phù hợp với học sinh khuyết tật; tổ chức khảo sát khả
năng, nhu cầu của học sinh để ra quyết định giảm nhẹ yêu cầu học tập cho các
em; thực hiện một cách linh hoạt tránh tình trạng nguyên tắc, cứng nhắc thiếu tình
yêu thương, thường xuyên báo cáo kết quả với ban Giám hiệu để tranh thủ sự
giúp đỡ của lãnh đạo nhà trường tạo điều kiện quản lý lớp học tốt hơn... Nhà
trường phải thực sự là nơi giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo
các hướng khác nhau cho các chủ nhân tương lai của xã hội. Làm được điều đó,
chúng ta sẽ giúp mỗi học sinh tỏa sáng và thành công trong cuộc sống của chúng.
Muốn phát huy giáo viên chủ nhiệm làm tốt công tác giáo dục hòa nhập
cho trẻ khuyết tật, thì nhà trường, cha mẹ học sinh và các tổ chức xã hội trong và
ngoà nhà trường phải chủ động thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức
pháp lí và nhận thức xã hội cho đội ngũ giáo viên, cha mẹ học sinh bằng cách tạo
điều kiện về mọi mặt: quan tâm, giúp đỡ, động viên giáo viên kịp thời, bởi yếu tố
quan trọng sử dụng các biện pháp, giải pháp và quyết định hiệu quả công tác giáo
dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật là người giáo viên chủ nhiệm. Giáo viên chủ
nhiệm cần chú trọng phát huy công tác phối hợp, thông tin hai chiều trong nhà
trường, với giáo viên bộ môn, cha mẹ học sinh … để tìm ra biện pháp hỗ trợ giáo
17


dục tốt nhất. Cha mẹ học sinh cần được nâng cao nhận thức về vấn đề nhận diện
dạng khuyết tật, chăm sóc - giáo dục trẻ khuyết tật, tránh tình trạng chán nản, mặc
kệ, thiếu sự quan tâm, thiếu tình yêu thương cũng như sự phối hợp với nhà trường
và xã hội.
Tóm lại, để góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục hòa nhập trẻ
khuyết tật rất cần sự hỗ trợ quan trọng của lực lượng giáo viên các trường có học
sinh hòa nhập, của nhân viên hỗ trợ, sự phối hợp tích cực của quản lý các trường
cũng như cha mẹ học sinh, của các đoàn thể, xã hội, trong đó sự năng động sáng
tạo của các em học sinh khuyết tật trong qúa trình học tập thì công tác giáo dục
học sinh khuyết tật trong các nhà trường mới thực sự có hiệu quả.
5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm
vi và hiệu quả ứng dụng
Sau khi tôi cùng các đồng nghiệp đã thực hiện các biện pháp trên, tôi thấy
hầu hết các em khuyết tật học hòa nhập có tiến bộ nhiều về mọi mặt, không còn
mặc cảm trước bạn bè, sống cởi mở, hòa đồng hơn.
Các em đã tự thể hiện mình qua các hoạt động học tập, vui chơi và đặc biệt
về học tập các em tiến bộ rõ rệt.
Cụ thể cuối học kì II:

18


Giá trị khoa học:
Nhờ hiểu rõ thực trạng, nguyên nhân và những giải pháp, biện pháp nêu
trên mà chất lượng giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật được nâng cao hơn. Tóm
lại, giáo viên chủ nhiệm giữ vai trò rất quan trọng, làm tốt công tác giáo dục hòa
nhập cho trẻ khuyết tật sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho
học sinh, hoàn thành mục tiêu giáo dục mà Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ năm học
nhà trường đề ra. Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật là một vấn đề rất cần được
sự quan tâm nhiều tổ chức trong và ngoài nhà trường, nhưng thành tố quyết định
nhiều nhất giúp học sinh tiến bộ, phát triển dần nhân cách toàn diện cả về tinh
thần lẫn thể chất là giáo viên chủ nhiệm.
Chúng ta vẫn nhận thức sâu sắc rằng, công tác giáo dục hòa nhập học sinh
khuyết tật là một việc làm hết sức khó khăn, vất vả, ngoài việc điều chỉnh, lựa
chọn những kiến thức, phương pháp, hình thức dạy học, đánh giá phù hợp với
từng loại đối tượng trẻ khuyết tật, đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị phù hợp từng loại
tật, còn cần có một tấm lòng yêu thương, một sự kiên trì nhẫn nại, chăm chút từng
ngày, từng giờ, trân trọng từng sự tiến bộ, dù nhỏ, của các em. Nghĩa là, đòi hỏi
cần có một tấm lòng, cái tâm ở mỗi một cán bộ quản lý, giáo viên nhất là giáo
viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Từ sáng kiến kinh nghiệm này tôi mong rằng sẽ có nhiều giáo viên học hỏi
được thêm kinh nghiệm giáo dục trẻ khuyết tật và ngày càng học hỏi trau dồi tri
thức góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ nói chung và chăm sóc
giáo dục trẻ khuyết tật nói riêng.
Tuy nhiên với thời gian không nhiều và tài liệu tham khảo chưa được
phong phú chắc chắn rằng đề tài này còn có những thiếu sót, hạn chế mà bản thân
tôi không phát hiện ra. Để đề tài này thực sự hoàn thiện và có hiệu quả cao hơn
tôi mong rằng các bạn sẽ có những ý kiến đóng góp xây dựng và chỉnh sửa sau
khi đã đọc và nghiên cứu kĩ đề tài.
2. Kiến nghị
Để cho việc giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong trường THCS đạt kết
quả cao, tôi có một số đề nghị như sau:
* Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện:
- Có những văn bản hướng dẫn chỉ đạo, đảm bảo chế độ cho giáo viên dạy
ở những lớp có học sinh học hoà nhập, học sinh chuyên biệt theo quy định của
các văn bản cấp trên.
- Tăng cường công tác tổ chức tập huấn, chuyên đề cho đội ngũ cán bộ
quản lý, giáo viên về công tác giáo dục hoà nhập cho học sinh khuyết tật học hoà
nhập.
* Nhà trường:
19


- Cần quan tâm hơn nữa đến các lớp có học sinh khuyết tật để đưa ra những
biện pháp, phương pháp giáo dục hiệu quả.
- Trang bị thêm tài liệu, sách tham khảo về công tác giáo dục hòa nhập để
giáo viên chủ động tham khảo.
- Làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, công tác xã hội hóa giáo dục để góp
phần nâng cao chất lượng hào nhập giáo dục trong nhà trường.
* Giáo viên:
- Tích cực chủ động tham gia các buổi tập huấn, chuyên đề về công tác
giáo dục hoà nhập cho học sinh khuyết tật học hoà nhập.
- Linh hoạt trong quá trình giáo dục, đánh giá học sinh tham gia học hòa
nhập trong nhà trường. Hoàn thành đầy đủ các loại hồ sơ minh chứng theo quy
định.
Trên đây chỉ là một vài kinh nghiệm của bản thân trong việc giáo dục học
sinh khuyết tật hòa nhập trong trường THCS, cụ thể tại trường THCS Lê Đình
Chinh. Với những kết quả đạt được ban đầu còn khiêm tốn nhưng cũng đã góp
phần nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ đặc biệt là học sinh khuyết tật,
từng bước xây dựng nhà trường ngày càng phát triển, được chính quyền nhân dân
và cha mẹ học sinh tin tưởng. Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng do thời gian
nghiên cứu và thực nghiệm chưa nhiều nên không tránh khỏi thiếu sót rất mong
được sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo và đồng nghiệp để bản thân có thể
hoàn thiện thêm một số nội dung, giải pháp nhằm góp phần vào thực hiện tốt
nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục học sinh khuyết tật hòa nhập hiện nay.
Xin chân thành cảm ơn.
Người viết

Nguyễn Thị Kim Yến
NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ
CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

20


NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ
CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO HUYỆN
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO

TT

Tên tác giả

Tên tài liệu tham khảo

Nhà xuất bản

Giáo dục hòa nhập trẻ
khuyết tật lứa tuổi THCS

Đại học sư phạm

01

Lã Thị Bắc Lý

02

Trần Thị Minh Thành

Quản lí hành vi của trẻ
khuyết tật trí tuệ

Đại học sư phạm

03

Trần Thị Thiệp

Can thiệp sớm cho trẻ
khuyết tật

Đại học sư phạm

04

Nguyễn Xuân Hải

Giáo trình quản lí
giáo dục hòa nhập

Đại học sư phạm

Thông tin từ một số website trên mạng internet

22


MỤC LỤC

Mục

Tiêu đề các phần

Trang

PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU

1

1

Lí do chọn đề tài

1

2

Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

2

3

Đối tượng nghiên cứu

2

4

Giới hạn của đề tài

2

5

Phương pháp nghiên cứu

3

PHẦN II. PHẦN NỘI DUNG

3

1

Cơ sở lí luận

3

2

Thực trạng

4

3

Nội dung và hình thức của giải pháp.

4

4

Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp

17

5

Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu, phạm vi và hiệu quả ứng dụng

18

PHẦN III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

19

1

Kết luận

19

2

Kiến nghị

19

Nhận xét đánh giá của Hội đồng khoa học

20, 21

Tài liệu tham khảo

22

Mục lục

23

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×