Tải bản đầy đủ

Tìm hiểu thực tế áp dụng pháp luật trong xét xử TCKDTM của tòa án

UEH – School of Law

Học phần Luật kinh tế
Bài nghiên cứu nhóm
KHOA LUẬT – ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
Học phần

: LUẬT KINH TẾ

Lớp:Tài chính công 3,4 – K40 – GĐ B409- Năm học
2016

Nhóm số 04

BÀI NGHIÊN CỨU NHÓM
Tìm hiểu thực tế áp dụng pháp luật trong
xét xử TCKDTM của Tòa án

PHÂN CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG
Họ và tên


Nhiệm vụ được phân công

-

Page 0

Đánh giá của TN

-


UEH – School of Law

Học phần Luật kinh tế

Bài nghiên cứu nhóm

A. Phần thông tin chung :
1. Cơ quan nơi nhóm đến nghiên cứu thực tế
- Tên Tòa án:Tòa án kinh tế TPHCM
- Địa chỉ: 26, Lê Thánh Tôn,phường Bến Nghé, Quận 1, TPHCM
2. Về vụ kiện – vụ án mà nhóm tham dự: Phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án kinh
doanh thương mại về việc “ Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, thi
công xây dựng”
+ Nguyên đơn: Công ty TNHH Công Nghiệp (CNI)
+ Bị đơn: Tổng công ty Tư vấn Thiết kế Dầu Khí – Công ty cổ phần (PVE)
Bị đơn kháng cáo bản án sơ thẩm 1411/BA/2015/KDTM-ST ngày
09/11/2015
3. Tài liệu tham khảo nhóm dùng cho bài nghiên cứu
- Phiên tòa sơ thẩm (dựa theo bản án sơ thẩm):
+ Căn cứ vào Khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 33, khoản 1 Điều 35,
khoản 3 Điều 159, điều 412 của Bộ luật tố tụng dân sự 2004-sửa đổi bổ sung
năm 2015: tranh chấp giữa CNI và PVE là còn thời hiệu và thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.
+ Căn cứ vào Điều 290, 305 Bộ luật dân sự 2005 và Điều 55, 306 Luật
thương mại 2005 và các điều khoản trong hợp đồng, CNI yêu cầu PVE thanh
toán số tiền còn lại của hợp đồng và lãi phát sinh do chậm thanh toán.
+ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009
của Ủy ban thường vụ Quốc hội (mức cụ thể được quy định trong danh mục
mức án phí, lệ phí Tòa án).


- Phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn-PVE kháng cáo.
 Ngày 8/3/2016:
+ Bị đơn - PVE căn cứ Điều 66,72 của Luật Đấu thầu 2013, khoản 5 Điều 16
Nghị định 37 ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng
xây dựng để tước thu số tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng của CNI.
 Ngày 10/3/2016:
+ Hầu như các điều luật, tài liệu tham khảo giống như bản án sơ thẩm.
+ Trong đó, bên bị đơn có bỏ và bổ sung thêm 1 số chứng cứ trên cơ sở
Khoản 5 Điều 16, Điều 27 Nghị định số 48/2010/NĐ-CP ngày 27/05/2010 về
tiền bảo lãnh và nghĩa vụ của bên nhận thi công để cho thấy nguyên đơn
không bảo đảm thực hiện hợp đồng.
+ Ngoài ra bổ sung thêm các điều luật về việc chấp nhận nội dung đơn kháng
cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm ( Khoản 1 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự
Page 1


Học phần Luật kinh tế
Bài nghiên cứu nhóm
UEH – School of Law
2004) và án phí phúc thẩm ( Điều 131, điểm b khoản 1 điều 29, Bộ luật tố
tụng dân sự 2004, Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12
ngày 27/02/2009, có danh mục án phí, lệ phí Tòa án đính kèm).
4. Trình bày sơ lược hành trình thực hiên nhiệm vụ của nhóm
Trong quá trình đi thực tế tại tòa án, nhóm 11 đã phân chia mọi người thành
nhiều nhóm nhỏ hơn, chọn nhiều thời gian khác nhau để tìm kiếm được vụ án có
liên quan đến đề tài môn học. Trước đó khi thành viên nhóm đến Tòa án Nhân
dân quận Bình Thạnh thì đã không được phép xin lịch xét xử các vụ án kinh tế,
nên sau đó nhóm quyết định thực hiện tại Tòa án Kinh tế TPHCM . Nhóm đã
căn cứ theo lịch xét xử tại tòa và khả năng, thời gian linh động của các thành
viên để chọn đi một số vụ án. Cụ thể:
- Ngày 29/1 vụ án tranh chấp nội bộ trong công ty Viễn Đông Nghĩa Thành
- Ngày 15/3 vụ án giữa công ty Thanh Xuân và HDTD
- Ngày 18/3 vụ án giữa công ty Việt Phú và công ty Thái Sơn
Các vụ án này đều bị trùng với các nhóm khác trong giảng đường.
Các vụ án sơ thẩm khác đều bị hoãn như:
- Ngày 2/3 vụ án của công ty cho thuê tài chính II
- Ngày 1/3 vụ án của công ty BETA
- Ngày 8/3 vụ án giữa công ty Duy Khải và công ty Equipment
- Ngày 15/3 vụ án giữa công ty Kỹ Nghệ và công ty VIHANO
Tuy nhiên vào sáng ngày 8/3 nhóm đã theo được vụ án phúc thẩm giữa công
ty TNHH Công Nghiệp và Tổng công ty tư vấn thiết kế dầu khí - Công ty cổ
phần. Việc xét xử vụ án diễn ra trong vòng 2 phiên xử vào ngày 8/3 và ngày
10/3. Để có thể theo dõi được tình tiết của vụ án, các bạn trong nhóm đã phải xin
tài liệu bản án của phiên tòa sơ thẩm từ một trong các đương sự. Đồng thời trong
phiên tòa các bạn cũng cố gắng lắng nghe, ghi chép để thu thập được nhiều
thông tin nhất có thể. Sau khi có được kết quả tuyên xử, các thành viên bắt đầu
tóm tắt nội dung và phân chia viết báo cáo, sau đó tổng hợp, họp bàn chỉnh sửa
để có được hoàn thành bản báo cáo này.

Page 2


UEH – School of Law

Học phần Luật kinh tế

Bài nghiên cứu nhóm

B. Phần ghi chép tại tòa án
Tên vụ việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, thi công xây dựng.
Những người tiến hành tố tụng:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trinh
- Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Dũng, Bà Nguyễn Thị Lan
- Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
- Kiểm sát viên đại diện VKS TPHCM: Bà Nguyễn Thị Én
Những người tham gia tố tụng:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH Công Nghiệp
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đại Nghĩa
- Bị đơn: Tổng công ty Tư vấn Thiết kế Dầu khí – Công ty cổ phần
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình Cao Phi
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn Mót
– Luật sư, Trưởng văn phòng luật sư Vĩnh Hội thuộc đoàn luật sư
TPHCM
Những nội dung ghi chép về phiên xử:
Buổi xét xử thứ nhất
Phiên tòa bắt đầu lúc 8h ngày 8/3/2016
- Thủ tục bắt đầu phiên tòa: Hội đồng xét xử (HĐXX) vào phòng xử án.
Thư kí yêu cầu mọi người đứng dậy. Chủ tọa mời mọi người trong phòng
xử án ngồi xuống. Chủ tọa đọc quyết định xét xử phúc thẩm vụ án; thông
qua danh sách những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng; thư kí báo
cáo danh sách những người tham gia tố tụng, các đương sự có mặt đầy đủ.
Chủ tọa mời người đại diện nguyên đơn, bị đơn đọc họ tên đầy đủ, xác
nhận giấy ủy quyền. Chủ tọa thay mặt HĐXX đọc những quyền hạn và
nghĩa vụ của các đương sự. Chủ tọa hỏi luật sư phía bị đơn có ý kiến gì
không. Luật sư bổ sung: phía bị đơn có cử 2 vị cán bộ để bổ sung các ý
kiến vì 2 người này là người phụ trách kĩ thuật và giám sát công trình và
được chủ tọa thông qua.
- Xét hỏi: Chủ tọa đọc nội dung bản án sơ thẩm
Chủ tọa mời các đương sự đứng lên xác nhận nội dung bản án sơ thẩm.
Nguyên đơn có rút yêu cầu khởi kiện, bổ sung thay đổi gì hay không? Bị
đơn có rút yêu cầu kháng cáo không? Cả nguyên đơn và bị đơn vẫn giữ
nguyên yêu cầu của mình.

Page 3


Học phần Luật kinh tế
Bài nghiên cứu nhóm
UEH – School of Law
Luật sư trình bày ý kiến yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Bị đơn kháng cáo
toàn bộ bản án sơ thẩm 1411/2015 của TAND quận Bình Thạnh vì cho
rằng tòa án cấp sơ thẩm không xem xét các chứng cứ của bị đơn để chứng
minh các lỗi của nguyên đơn và các thiệt hại do bị đơn phải khắc phục
nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có
căn cứ
Chủ tọa hỏi luật sư muốn kháng cáo phần cụ thể nào trong bản án sơ
thẩm. Luật sư đọc kháng cáo cụ thể là bị đơn không chấp nhận trả tiền thi
công, tiền bảo lãnh và lãi suất chậm thanh toán.
Phía nguyên đơn không đồng ý với ý kiến kháng cáo của bị đơn và đề
nghị y bản án sơ thẩm
- Căn cứ vào đâu nguyên đơn cho rằng bị đơn phải trả cho nguyên đơn số
tiền thi công? Căn cứ vào biên bản họp thanh lí 2/8/2011, 26/12/2011 thì 2
bên đã thống nhất xác định khối lượng thi công
- Bị đơn cho biết lí do vì sao đơn phương chấm dứt hợp đồng? Vì bên
nguyên đơn vi phạm về thời gian thi công
- Thời gian thực hiện hợp đồng là 120 ngày thì ngày nào là ngày kết thúc?
26/8/2011
- Vậy thời điểm nào bên bị đơn có công văn chấm dứt hợp đồng? 28/7/2011
- Nguyên đơn có ý kiến gì về việc bị đơn cho rằng bên nguyên đơn đã vi
phạm tiến độ? Trong hợp đồng có ghi “Nếu có hư hỏng sửa chữa thì bên
thi công phải sửa chữa và được bên chủ đầu tư nghiệm thu thì tiếp tục thi
công hạng mục khác” Vì vậy so với hợp đồng là chưa chậm trễ.
- Theo bị đơn như thế nào là vi phạm tiến độ? Căn cứ vào bản tiến độ thì
bên nguyên đơn thi công chậm trễ các hạng mục nên dù có gia hạn thì
nguyên đơn cũng không thể hoàn thành kịp
- Trong hợp đồng có thỏa thuận vi phạm tiến độ thì bị phạt không? Thưa có
- Bên nguyên đơn có ý kiến như thế nào? Trong điều 13.2 hợp đồng qui
định tiến độ chậm là so với toàn bộ hợp đồng chứ không phải là từng hạng
mục
- Bị đơn có gì chứng minh bên nguyên đơn vi phạm chất lượng? Bị đơn có
biên bản nghiệm thu vật tư và phía nguyên đơn đã liên tục sai sót rồi sửa
chữa, khắc phục.
- Bị đơn có yêu cầu bên thứ 3 giám định chất lượng không? Thưa không
- Nguyên đơn có chấp nhận đã vi phạm chất lượng không? Thưa không. Và
khi họp thanh lí xong bên bị đơn vẫn không hề đề cập đến chất lượng
nhưng khi bên nguyên đơn đề nghị thanh toán thì bên bị đơn mới nói vấn
đề chất lượng. Vì vậy bên nguyên đơn đề nghị phải có bên thứ 3 kiểm
định chất lượng nhưng phía bị đơn không thực hiện

Page 4


Học phần Luật kinh tế
Bài nghiên cứu nhóm
UEH – School of Law
- Lí do nào nguyên đơn muốn lấy lại tiền bảo lãnh? Trong hợp đồng không
có điều khoản tước thu bảo lãnh, đó chỉ giống như tiền đặt cọc bảo đảm
thực hiện mà thôi
- Ý kiến của bị đơn? Trong điều 16.27 khoản tiền bảo đảm của nhà thầu sẽ
được coi như khoản tiền bồi thường trả cho chủ đầu tư nếu có bất kì tổn
thất nào do sự sai sót của nhà thầu
- Bồi thường khác với tước thu vì bồi thường là bồi thường thiệt hại và phải
tính toán bồi thường, phải có con số cụ thể, bị đơn có tính toán thiệt hại
không? Thưa không
- Ngay từ đầu bị đơn không yêu cầu cấp sơ thẩm xét các khoản cấn trừ nên
cấp phúc thẩm cũng sẽ không xét
Không ai có ý kiến gì thêm, chủ tọa tuyên bố kết thúc phần xét hỏi và HĐXX
tạm dừng phiên tòa để thảo luận.
Sau khi trở lại phòng xử án, chủ tọa tuyên bố tạm hoãn phiên tòa đến 13h30
ngày 10/3/2016 để tiếp tục xét xử.
Buổi xét xử thứ hai
Phiên tòa bắt đầu lúc 14h ngày 10/3/2016
- Thủ tục bắt đầu phiên tòa: HĐXX vào phòng xử án. Thư kí yêu cầu mọi
người đứng dậy. Chủ tọa tuyên bố khai mạc phiên tòa. Thư ký báo cáo
thành phần tham gia tố tụng. Phiên tòa tiếp tục với phần Tranh luận giữa
các đương sự.
- Tranh luận:
+ Bị đơn trình bày về việc phía nguyên đơn đã vi phạm chất lượng, vi phạm
tiến độ công trình. Trong đó bị đơn có đưa ra một số điều ở nghị định
48/2010/NĐ-CP cho thấy phía nguyên đơn đã không bảo đảm thực hiện hợp
đồng, sai sót trong biện pháp tổ chức thi công.
+ Tiếp theo phía bị đơn cho rằng việc tính lãi của bên nguyên đơn là không
hợp lí. Trong quá trình thực nghiệm bên phía nguyên đơn đã không nghiêm
túc thực hiện và đã vi phạm hợp đồng nên phải chịu số tiền phạt vi phạm là
10% giá trị hợp đồng. Đồng thời phía nguyên đơn phải bồi thường mọi chi
phí chênh lệch giá trị hợp đồng do thay đổi nhà thầu thi công.
+ Luật sư phía bị đơn bổ sung ý kiến của bị đơn. Luật sư nhấn mạnh có 3
phần quan trọng nhất cần chú ý: Bên phía nguyên đơn đã vi phạm về chất
lượng, vi phạm về tiến độ, vi phạm thức thu bảo lãnh và đã cung cấp những
chứng cứ chứng minh trong hồ sơ gửi cho Hội đồng xét xử (HĐXX)
+ Đại diện bên nguyên đơn không có ý kiến tranh luận gì thêm.
+ Chủ tọa tuyên bố kết thúc phần tranh luận.
- Chủ tọa mời phía bị đơn phát biểu để bảo vệ quan điểm.

Page 5


Học phần Luật kinh tế
Bài nghiên cứu nhóm
UEH – School of Law
Luật sư phía bị đơn nêu quan điểm của phía bị đơn là đề nghị cấp phúc thẩm
xem xét lại bản án sơ thẩm 1411/BS/2015/KDTM-ST ngày 9/11 của tòa án
ND quận Bình Thạnh. Và đề nghị HĐXX sửa lại 1 phần bản án đó, tức là chỉ
chấp nhận trả cho nguyên đơn số tiền 504 triệu có lẻ như cách tính toán mà
phía bị đơn đã gửi cho HĐXX.
- Chủ tọa mời đại diện VKS trình bày quan điểm.
Đại diện VKS phát biểu ý kiến về việc tuân thep pháp luật tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án: Tại phiên tòa HĐXX đã tuân thủ theo quy định pháp
luật; các bên đương sự chấp hành và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ. Việc ủy
quyền của các bên đương sự là phù hợp qui định của pháp luật. Ngày
16/11/2015 bị đơn đã kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm là còn trong thời hạn
kháng cáo. Việc kháng cáo và nội dung đơn kháng cáo của bị đơn là phù hợp
với qui định của pháp luật. Qua các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ nhận thấy
bị đơn đã không kiểm toán trưng cầu giám định chất lượng công trình nên
cho rằng bên nguyên đơn vi phạm chất lượng, vi phạm tiến độ, không hoàn
thành nghĩa vụ là không có căn cứ. Về nghĩa vụ thanh toán: Do nguyên đơn
vi phạm nghĩa vụ, chậm thanh toán cho bị đơn nên nguyên đơn yêu cầu tính
lãi là hoàn toàn phù hợp. Đại diện VKS đề nghị HĐXX chấp nhận nội dung
đơn kháng cáo là hợp lệ, về nội dung giữ nguyên bán án sơ thẩm số 1411 của
TAND quận Bình Thạnh.
- Nghị án: HĐXX tạm dừng phiên tòa để nghị án
- Tuyên xử: HĐXX quay lại phòng xử án. Vì bản án còn dài, Chủ tọa mời
mọi người ngồi xuống, trừ nguyên đơn và bị đơn vẫn đứng nguyên tại chỗ
+ Sau khi xem xét đầy đủ các chứng cứ, HĐXX nhận thấy kháng cáo của bị
đơn là không có cơ sở, tuyên bố không chấp nhận yêu cầu kháng cáo. Vì vậy
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn phải thanh toán số tiền
6.111.781.991 đồng cho bên nguyên đơn ngay từ khi bên nguyên đơn có đơn
yêu cầu thi hành án theo qui định của pháp luật.
+ Về án phí: Người kháng cáo là bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm là
200.000 đồng và được trừ vào án phí phúc thẩm bị đơn đã nộp.
Bản án có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Chủ tọa tuyên bố kết thúc phiên tòa.
Những nội dung ghi chép về nội dung của vụ tranh chấp:
- CNI ký hợp đồng số F025-08/PVE-CN/T/0111 cung cấp vật tư, thi công
lắp đặt bồn chứa với PVE , giá trị hợp đồng 11.164.198.087 đã bao gồm
thuế VAT 10%. Ngày 28/2/2011 CNI phát hành bảo lãnh hợp đồng với số
tiền 1.116.429.809 tương ứng 10% giá trị hợp đồng.
- 28/7/2011 PVE thông báo chấm dứt hợp đồng thi công lắp đặt 2 bồn chứa
của nhà thầu CNI.

Page 6


Học phần Luật kinh tế
Bài nghiên cứu nhóm
UEH – School of Law
- 16/8/2011 PVE đơn phương phát hành công văn yêu cầu ngân hàng phát
hành bảo lãnh thực hiện hợp đồng, tước thu khoản bảo lãnh của CNI.
- 26/12/2011 CNI và PVE họp thanh lí hợp đồng và cùng xác định giá trị
phần khối lượng CNI đã thực hiện là 5.653.368.676 đồng chưa bao gồm
thuế 10% thuế VAT . Sau đó CNI đã nhiều lần có thông báo nhắc nhở
PVE thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản tiền còn lại nhưng không có kết
quả. Vì vậy CNI yêu cầu tòa án buộc PVE thanh toán cho CNI khoản tiền
còn lại là 4.544.075.830.60 đồng (giá trị còn lại của hợp đồng sau thuế,
tiền bảo lãnh hợp đồng) ngoài ra PVE còn phải trả lãi do chậm thanh toán
từ ngày 1/1/2012 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 9%/năm.
- PVE cho rằng trong quá trình thi công CNI đã vi phạm về tiến độ, chất
lượng công trình nên PVE phải mời công ty cổ phần Lilama 18 thi công
phần việc còn lại. Vì vậy số tiền PVE phải thanh toán cho CNI chỉ là
504.230.659 đồng và 1.116.419.809 đồng tiền bảo lãnh hợp đồng. PVE
không phạt CNI 10% hợp đồng vì vi phạm chất lượng thi công nên chấp
nhận cộng them 449.590.231 đồng. Tổng cộng là 2.070.240.699 đồng.
- PVE không chấp nhận việc trả lãi xuất cho CNI
- PVE kháng cáo bản án sơ thẩm vì vẫn giữ nguyên những ý kiến trên, đề
nghị cấp phúc thẩm xem xét lại bản án.
Những nội dung ghi chép về nhận định và phán quyết của tòa:
- Nhận định
Hợp đồng cung cấp vật tư, thi công lắp đặt bồn chứa số F025-08/PVECN/T/0111 ngày 26/02/2011 được ký giữa hai công ty PVE và CNI thể hiện
các nội dung cơ bản:
+ CNI nhận thực hiện công việc Cung cấp vật tư, thi công lắp đặt bồn chứa
công trình “ Nhà máy sản xuất Ethanol Bình Phước” tại Bình Phước
+ Gía trị hợp đồng (Điều 7): 11.164.198.087 đồng (đã bao gồm thuế VAT)
+ Thời gian thực hiện hợp đồng (Điều 4): 120 ngày kể từ ngày kí hợp đồng.
Có quy định rõ tiến độ thực hiện hợp đồng.
+ Phương thức thanh toán (Điều 8).
+ Tạm dừng, hủy bỏ hợp đồng (Điều 13)
+ Bồi thường khi vi phạm hợp đồng (Điều 14)
Và các điều khoản khác.
Ngoài ra còn có phụ lục bổ sung số 01 ngày 27/02/2011 của hợp đồng số
F025-08/PVE-CN/T/0111
Xét thấy:
+ Về thời gian thi công: Trong thời gian thực hiện hợp đồng công ty PVE đã
chấp nhận cho CNI khắc phục sửa chữa lỗi nên đã kí một tiến độ mới tăng
Page 7


Học phần Luật kinh tế
Bài nghiên cứu nhóm
UEH – School of Law
thời gian thi công thêm 15 ngày nên đây được xem là một thỏa thuận mới
giữa 2 bên gia hạn thời gian thi công đến ngày 30/9/2011. Trên thực tế thời
gian CNI đã thực hiện hợp đồng tính từ ngày 26/04/2011 đến chấm dứt hợp
đồng là ngày 2/8/2011. Tại biên bản thanh lý hợp đồng ngày 02/08/2011,
CNI và PVE thống nhất phương án thanh lý hợp đồng và CNI hoàn tất việc
trả mặt bằng vào ngày 08/08/2011 mà không có bất kì ghi nhận nào về việc
CNI đã vi phạm tiến độ thi công đồng thời nên không có cơ sở để xác định
CNI vi phạm thời gian thi công.
+ Về chất lượng: Tại thời điểm đôi bên chấm dứt hợp đồng và thực hiện
thanh lí hợp đồng, phía công ty PVE không có yêu cầu trưng cầu giám định
chất lượng và không xuất trình được tài liệu chứng minh được công trình
kém chất lượng nên việc công ty PVE cho rằng công ty CNI vi phạm chất
lượng là không có cơ sở
+ Xét kháng cáo yêu cầu phản tố của công ty PVE đòi công ty CNI bồi
thường tiền chênh lệch do thay đổi nhà thầu là không có cơ sở để cấp phúc
thẩm xem xét giải quyết
+ Về tiền lãi
- Tại công văn số 34/CN-12/CV ngày 19/01/2012, CNI đòi PVE trả khoản
lãi phát sinh do chậm thanh toán số tiền nói trên tính từ ngày hoàn thành
khối công việc là phù hợp với quy định tại điều 290 Bộ luật dân sự và
điều 306 của Luật thương mại 2005.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, CNI yêu cầu PVE trả 1.567.706.161 đồng là tiền
lãi phát sinh tính từ ngày 01/01/2012 đến ngày 03/11/2015 theo mức lãi
suất cơ bản của ngân hàng Nhà nước qui định là 9%/năm. Xét đây là sự tự
nguyện của CNI và có lợi cho phía bị đơn, không trái pháp luật nên được
ghi nhận.
Từ những phân tích trên, kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở
- Phán quyết
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của công ty PVE. Giữ nguyên bản án sơ
thẩm như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH Công Nghiệp.
- Buộc Tổng công ty tư vấn Thiết kế Dầu khí – Công ty cổ phần phải trả
làm một lần cho công ty TNHH Công Nghiệp số tiền 6.111.781.991 đồng bao
gồm giá trị thi công còn lại sau thuế VAT là 3.427.656.021 đồng, tiền bảo
lãnh hợp đồng là 1.116.419.809 đồng, tiền lãi chậm thanh toàn là
1.567.706.161 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại
cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Kể từ ngày Công ty TNHH Công Nghiệp có đơn yêu cầu thi hành án mà
Tổng công ty tư vấn Thiết kế Dầu khí – Công ty cổ phần chưa thi hành số
tiền nêu trên thì Tổng công ty tư vấn Thiết kế Dầu khí – Công ty cổ phần còn

Page 8


Học phần Luật kinh tế
Bài nghiên cứu nhóm
UEH – School of Law
phải trả tiền lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại
thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

Page 9


UEH – School of Law

Học phần Luật kinh tế

Bài nghiên cứu nhóm

C. Phần nhận xét – đánh giá của nhóm làm việc
Trình bày các nội dung:
1. Nhận xét đánh giá về hoạt động áp dụng pháp luật của tòa án qua phiên
xử mà nhóm đã tham dự
Tòa án là cơ quan nhân danh nhà nước để giải quyết các tranh chấp, do đó phán
quyết của toà án được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà
nước. Cơ quan thi hành án là một cơ quan chuyên trách và có đầy đủ bộ máy,
phương tiện để các bản án được thi hành và có hiệu lực.
Một trong những điểm đặc thù khi giải quyết tranh chấp thương mại tại toà án là
phải tuân thủ những nguyên tắc đã được quy định trong pháp luật. Tuy nhiên, từ
thực tiễn tham gia các phiên xét xử tại toà án có thể rút ra những vướng mắc chủ
yếu hiện nay mà các toà án thường gặp phải là việc áp dụng pháp luật. Đó là,
còn lúng túng trong việc áp dụng quy định của BLDS và các luật chuyên ngành
khi giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại. Việc giải quyết tranh chấp vừa
có thể áp dụng BLDS vừa có thể áp dụng các luật chuyên ngành khác. Cùng một
nội dung nhưng được qui định tại nhiều điều luật, văn bản pháp luật khác nhau.
Công tác áp dụng luật còn ngoằn nghoèo.
Mặc dù nguyên tắc xét xử nhiều cấp đảm bảo cho quyết định của toà án là chính
xác, công bằng, khách quan và đúng pháp luật. Nhưng nguyên tắc này cũng sẽ
khiến cho vụ việc có thể bị kéo dài, xử đi xử lại nhiều lần gây bất lợi cho các
đương sự. Việc dây dưa, kéo dài vụ việc sẽ gây căng thẳng tâm lý, làm mất thời
giờ, tiền bạc của doanh nghiệp và có khi doanh nghiệp phải bỏ lỡ một cách đáng
tiếc các cơ hội kinh doanh.
Bản chất của hoạt động xét xử là bảo vệ pháp chế và duy trì công lý đã được
pháp luật quy định, xã hội thừa nhận.Vì thế, hoạt động xét xử công khai của toà
án có tác dụng răn đe, cảnh cáo những hành vi vi phạm pháp luật. Mặt khác, các
doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đều không muốn mang dấu đen phải ra toà
để giải quyết tranh chấp. Việc doanh nghiệp phải nhờ đến cơ quan tư pháp của
tòa án để giải quyết tranh có thể gây ảnh hưởng không tốt đến uy tín và hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp thương mại tại toà án là một
hoạt động rất phức tạp. Để toà án áp dụng pháp luật có hiệu quả trong việc giải
quyết tranh chấp thương mại đảm bảo quyền lợi của các đương sự đòi hỏi thẩm
phán phải có chuyên môn, trình độ nghiệp vụ cao. Ngoài ra, việc áp dụng pháp
luật có tốt hay không phụ thuộc rất lớn ở bản thân các quy định pháp luật của
nhà nước. Do đó, pháp luật thương mại cần phải hoàn thiện tạo điều kiện cho toà
án có cơ sở pháp lý đầy đủ, rõ ràng để giải quyết các tranh chấp thương mại
ngày càng phổ biến trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.

Page
10


Học phần Luật kinh tế
Bài nghiên cứu nhóm
UEH – School of Law
2. Nêu những kinh nghiêm và cảm nhận của nhóm làm việc khi thực hiện
bài nghiên cứu thực tế
So với việc học chỉ học lí thuyết trên giảng đường, rõ ràng bạn không thể có
được sự tương tác trực tiếp để cảm nhận sức nặng của pháp luật đặt lên các
đương sự. Dù chúng em không phải sinh viên khoa Luật, song chúng em hiểu
rằng khi còn là một sinh viên ngồi trên giảng đường, mọi thứ thường xoay quanh
những bài giảng và giáo trình để tiếp cận từ góc độ lý thuyết. Vô hình chung,
môi trường học thuật khiến chúng em dễ quên đi rằng luật pháp và việc thực
hiện luật pháp không chỉ là có các lí thuyết, nguyên tắc trên sách vở hay các tập
văn bản luật trên trang giấy mà cần có những trải nghiệm thực tiễn, cụ thể là
đến dự khán những phiên tòa, để thấy được thực tế phát sinh các tình huống
trong hoạt động kinh doanh .
Khi đến Tòa án Kinh tế TPHCM lần đầu, chúng em nhận thấy có những việc
quan trọng cần lưu ý như phải đúng giờ , đôi khi tại cổng chúng em được yêu
cầu xuất trình giấy tờ tùy thân hoặc phải có giấy giới thiệu từ trường. Chúng em
cũng cũng cần lưu ý những quy định về âm thanh điện thoại, ghi âm, chụp hình
và quay phim trong phòng xét xử. Chúng em đã có cơ hội làm quen với không
gian, cách bố trí phòng xử án và công việc của những người có mặt trong phiên
tòa. Phiên tòa nào cũng luôn có sự hiện diện của hội đồng xét xử gồm chủ tọa,
hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên cùng thư ký. Có thể thấy các đương sự đều
chuẩn bị sẵn tài liệu, hồ sơ cần thiết cho phiên tòa, mọi người đều làm việc vô
cùng nghiêm túc.
Qua buổi tham dự tòa , chúng em hiểu được cách tiếp cận các lập luận của
đương sự, luật sư cũng như quá trình đưa ra phán quyết cuối cùng của tòa trong
một vụ việc thực tế. Từ đó giúp chúng em hiểu rõ hơn những nguyên tắc và quy
định pháp luật, củng cố kiến thức đã học trên lớp. Nắm bắt được nhiều góc độ áp
dụng luật vào thực tế . Là một sinh viên khoa tài chính, chúng em cảm thấy việc
đến tòa để dự khán nhằm tìm hiểu pháp luật là vô cùng cần thiết và bổ ích.
Đây là những cảm nhận riêng của nhóm sau nhiều buổi tham dự tại Tòa án
Kinh tế TPHCM. Có thể không còn nhiều cơ hội tham dự tòa ,nhưng chính nhờ
học phần Luật kinh tế và sự hướng dẫn tận tình của cô mà mỗi thành viên trong
nhóm đều đã có những trải nghiệm đáng quý.

Page
11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×