Tải bản đầy đủ

Giải quyết tranh trong hoạt động kinh doanh theo phương thức tòa án

Giải quyết tranh trong hoạt động kinh doanh theo phương thức tòa án
I.



Khái niệm
1. Khái niệm tranh chấp thương mại
-

Tại Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: “ Hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng
hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi khác.”

-

Theo quy định trên, có thể hiểu: Tranh chấp thương mại là những
mâu thuẫn ( bất đồng hoặc xung đột ) về quyền và nghĩa vụ giữa
các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại.

Về các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại:

-

Tranh chấp thương mại đòi hỏi được giải quyết thỏa đáng nhằm
bảo vệ quyền lợi của các bên, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật
của công dân, góp phần ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật trong hoạt
động thương mại, bảo đảm trật tự pháp luật, kỷ cương xã hội. Hiện
nay tranh chấp thương mại được giải quyết bằng các phương thực :
thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và tòa án. Mỗi
phương thức có sự khác nhau về tính chất pháp lý, nội dung của
thủ tục, trình tự tiến hành. Các bên có quyền tự do lựa chọn
phương thức phù hợp, phụ thuộc vào lợi thế mà mỗi phương thức
có thể mang lại, mức độ phù hợp của phương thức so với nội dung
tính chất của tranh chấp và thiện chí của các bên.

2. Giải quyết tranh chấp bằng toàn án
Khái Niệm:
Giải quyết tranh chấp bằng toà án là phương thức giải quyết tranh chấp
tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước được tiến hành theo
trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Toà
án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm
bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước.


II.

TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN

1 . Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án

Điều 30 BLTTDS 2015 : Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ
chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
3. Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch
về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
4. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa
công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội


đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên
của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập,
hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của
công ty.
5. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm
quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
Điều 46-TTDS2015
2.1. Các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự gồm có:
a) Tòa án;
b) Viện kiểm sát.
2.2. Những người tiến hành tố tụng dân sự gồm có:
a) Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa
án;
b) Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.


2. 3. Quyền và nghĩa vụ của các cơ quan
 Điều 47: Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa án
1. Chánh án Tòa án có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức công tác giải quyết vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án; bảo
đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật;
b) Quyết định phân công Thẩm phán thụ lý vụ việc dân sự, Thẩm phán giải quyết
vụ việc dân sự, Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử vụ án dân sự; quyết
định phân công Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với vụ việc dân
sự bảo đảm đúng nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này;
c) Quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa
án trước khi mở phiên tòa;
d) Quyết định thay đổi người giám định, người phiên dịch trước khi mở phiên tòa;
đ) Ra quyết định và tiến hành hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật
này;
e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Bộ luật này;
g) Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của Tòa án theo quy định của Bộ luật này hoặc kiến nghị Chánh án
Tòa án có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án;
h) Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi
bỏ văn bản quy phạm pháp luật nếu phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội,
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Bộ
luật này;
i) Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật;
k) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
2. Khi Chánh án vắng mặt, một Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, trừ quyền kháng nghị quy định tại điểm g
khoản 1 Điều này. Phó Chánh án chịu trách nhiệm trước Chánh án về việc thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn được ủy nhiệm.
Điều 48. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán
Khi được Chánh án Tòa án phân công, Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
1. Xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, thụ lý vụ việc dân sự theo quy định của Bộ
luật này.
2. Lập hồ sơ vụ việc dân sự.
3. Tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ, tổ chức phiên tòa, phiên họp để giải
quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.
4. Quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.


5. Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự, quyết định tiếp
tục đưa vụ việc dân sự ra giải quyết.
6. Giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu trợ
giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý.
7. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải, ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định của Bộ
luật này.
8. Quyết định đưa vụ án dân sự ra xét xử, đưa việc dân sự ra giải quyết.
9. Triệu tập người tham gia phiên tòa, phiên họp.
10. Chủ tọa hoặc tham gia xét xử vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự.
11. Đề nghị Chánh án Tòa án phân công Thẩm tra viên hỗ trợ thực hiện hoạt
động tố tụng theo quy định của Bộ luật này.
12. Phát hiện và đề nghị Chánh án Tòa án kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu
hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của
Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước
cấp trên theo quy định của Bộ luật này.
13. Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật.
14. Tiến hành hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ việc dân sự theo quy định
của Bộ luật này.
Điều 49. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân
Khi được Chánh án Tòa án phân công, Hội thẩm nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây:
1. Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa.
2. Đề nghị Chánh án Tòa án, Thẩm phán ra các quyết định cần thiết thuộc thẩm
quyền.
3. Tham gia Hội đồng xét xử vụ án dân sự.
4. Tiến hành các hoạt động tố tụng và ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết
những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.
Điều 50. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm tra viên
Khi được Chánh án Tòa án phân công, Thẩm tra viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
1. Thẩm tra hồ sơ vụ việc dân sự mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
2. Kết luận về việc thẩm tra và báo cáo kết quả thẩm tra, đề xuất phương án giải
quyết vụ việc dân sự với Chánh án Tòa án.
3. Thu thập tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc dân sự theo quy định của
Bộ luật này.
4. Hỗ trợ Thẩm phán thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này.
5. Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của Bộ luật này.


Điều 51. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký Tòa án
Khi được Chánh án Tòa án phân công, Thư ký Tòa án có nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
1. Chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết trước khi khai mạc phiên tòa.
2. Phổ biến nội quy phiên tòa.
3. Kiểm tra và báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập
đến phiên tòa.
4. Ghi biên bản phiên tòa, phiên họp, biên bản lấy lời khai của người tham gia tố
tụng.
5. Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của Bộ luật này.
Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng tòa án
3.1. Thủ tuc xét xử sơ thẩm
3.1.1 Khởi kiện các vụ án kinh tế
Khởi kiện vụ án kinh tế là yêu cầu Tòa án giải quyết những tranh chấp trong kinh
doanh, thương mại.
Quyền khởi kiện vụ án kinh tế thuộc về các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật
kinh tế. Các chủ thể này hoàn toàn bình đẳng về địa vị pháp lý, có quyền tự định
đoạt. Khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa họ thì họ có quyền khởi kiện
vụ án kinh tế. BLTTDS quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình
hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là
người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình.” (Điều 161). Đối với cá nhân, họ chỉ có quyền khởi kiện khi họ có
đủ năng lực chủ thể, trong trường hợp họ bị mất năng lực hành vi, hoặc bị hạn chế
năng lực hành vi thì quyền khởi kiện của họ được thực hiện thông qua người đại
diện hợp pháp. Cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị các chủ thể khác xâm phạm, thời hiệu
để khởi kiện là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm
phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đối với các yêu cầu giải quyết
kinh doanh thương mại, thị thời hiệu là một năm kể từ ngày phát sinh quyền yêu
cầu. Việc khởi kiểm được thể hiện bằng đơn khởi kiện (nộp trực tiếp hoặc gởi qua
đường bưu điện) kèm theo các tài liệu, chứng từ để chứng minh và bảo vệ quyền
lợi của mình
Đơn khởi kiện là hình thức biểu đạt yêu cầu của người khởi kiện đến Tòa án
nhằm giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại. Đơn khởi kiện phải thể
hiện rõ nội dung vụ việc và những yêu cầu của người khởi kiện đối với Tòa án, và
là cơ sở quan trọng để Tòa án xem xét, quyết định thụ lý vụ án kinh tế. Cá nhân, cơ
quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện. Về hình thức, đơn khởi kiện phải
được người khởi kiện ký tên hoặc điểm chỉ nếu người khởi kiện là cá nhân; nếu là
3.


cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức ký tên và
đóng dấu vào phần cuối đơn. Về nội dung, đơn khởi kiện phải có các nội dung sau:
• Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện; Tố tụng Tòa Án Nhóm 13 GVHD: LS TS
Trần Anh Tuấn Trang 18
• Tên Toà án nhận đơn khởi kiện;
• Tên, địa chỉ của người khởi kiện;
• Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;
• Tên, địa chỉ của người bị kiện;
• Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;
• Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan;
• Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có;
• Tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp
pháp;
• Các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ
án.
Hồ sơ cần thiết để tiến hành khởi kiện:
• Đơn khởi kiện (theo mẫu)
• Hợp đồng kinh tế hoặc văn bản, tài liệu giao dịch có giá trị như hợp đồng kinh
tế.
• Biên bản bổ sung, phụ lục, phụ kiện hợp đồng (nếu có).
• Tài liệu về bảo đảm thực hiện hợp đồng như: cầm cố, thế chấp tài sản (nếu có).
• Tài liệu về việc thực hiện hợp đồng như giao nhận hàng, các biên bản nghiệm
thu, các chứng từ thanh toán, biên bản thanh lý hợp đồng, các biên bản làm việc về
công nợ tồn đọng;
• Tài liệu về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có
liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc cử người
đại diện doanh nghiệp.
• Các tài liệu giao dịch khác (nếu thấy cần thiết);
• Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao)
Nếu các tài liệu nêu trên là văn bản, tài liệu tiếng nước ngoài đều phải được dịch
sang tiếng Việt Nam do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản
gốc.
3.1.2: Thụ lí vụ án
Thụ lý vụ án kinh tế là thủ tục pháp lý khẳng định sự chấp nhận của Tòa án đối
với việc giải quyết vụ án. Khi nhận đơn, Tòa án phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong


thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải xem xét đơn khởi kiện của người
khởi kiện, Tòa án sẽ tiến hành thụ lý vụ án nếu vụ án đó thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án và không thuộc các trường hợp phải trả lại đơn. Tòa án trả lại đơn
khởi kiện trong các trường hợp sau đây:
• Thời hiệu khởi kiện đã hết;
• Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi
tố tụng dân sự;
• Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Các
bên có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc giải quyết vụ việc. Trong trường hợp
này Tòa án sẽ không nhận đơn khởi kiện và không thụ lý vụ án vì như vậy sẽ làm
mất đi hiệu lực của quyết định giải quyết của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, và
lãng phí thời gian, công sức của cơ quan Nhà nước. Trong trường hợp vụ án mà
Toà án bác đơn xin thay đổi mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho
thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn mà Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do
chưa đủ điều kiện khởi kiện thì Tòa án tiếp tục nhận đơn xém xét thụ lý vụ án;
• Chưa có đủ điều kiện khởi kiện. Trường hợp này có thể xảy ra do nhiều nguyên
nhân như yêu cầu của người khởi kiện không rõ ràng, không có căn cứ pháp lý;
người khởi kiện không có đủ chứng cứ, tài liệu để chứng minh cho việc quyền và
lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại… Tòa án sẽ tiếp tục nhận đơn khởi kiện khi
có đủ điều kiên khởi kiện;
• Hết thời hạn Tòa án yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện mà người khởi kiện
không thực hiện yêu cầu đó. Đây là những trường hợp mà đơn khởi kiện không
tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức. Khi Tòa án đã
yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn mà họ không thực hiện yêu cầu đó
đúng thời hạn thì coi như họ đã từ bỏ việc khởi kiện;
• Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Trong trường hợp này,
Tòa án sẽ hướng dẫn cá nhân, cơ quan, tổ chức đến nộp đơn tại cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền giải quyết vụ việc đó;
• Hết thời hạn nộp tạm ứng án phí mà người khởi kiện không đến Tòa án làm thủ
tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng. Thời hạn nộp tạm ứng án phí
cũng là thời gian để người khởi kiện tự xem xét lại việc khởi kiện xem có thật cần
thiết hay không. Nếu việc khởi kiện không còn cần thiết nữa, người khởi kiện có
thể thể hiện sự từ bỏ việc khởi kiện của mình bằng hành vi không nộp tiền tạm ứng
án phí.
Án phí là một khoản tiền mà các đương sự phải trả cho Tòa án khi Tòa án giải
quyết vụ tranh chấp trong kinh doanh, thương mại giữa các bên. Số tiền án phí các


đương sự phải chịu do Tòa án xác định tùy theo từng vụ án, căn cứ trên mức độ lỗi,
lợi ích của các bên từ vụ tranh chấp và theo khung án phí do Chính phủ quy định.



Lệ phí
• Án phí kinh tế bao gồm án phí kinh tế sơ thẩm và án phí kinh tế phúc thẩm.
• Mức án phí kinh tế sơ thẩm đối với các vụ án kinh tế không có giá ngạch là
2.000.000 đồng.
• Mức án phí kinh tế sơ thẩm đối với các vụ án kinh tế có giá ngạch được quy
định như sau:

• Mức án phí kinh tế phúc thẩm đối với tất cả các vụ án kinh tế là 200.000 đồng
Khi khởi kiện, nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí, và là một điều kiện để
Tòa án thụ lý vụ án để giải quyết. Còn vấn đề nguyên đơn có phải chịu án phí hay
không, tỷ lệ là bao nhiêu do Tòa án quy định vào cuối quá trình tố tụng. Người


kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm để yêu cầu giải quyết theo trình tự phúc
thẩm phải nộp tạm ứng án phí phúc thẩm.

3.1.3: Chuẩn bị xét xử:
Thời hạn chuẩn bị xét xử được tính từ ngày Tòa án thụ lý vụ án đến ngày Tòa án
ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thời hạn chuẩn bị xét xử là khoảng thời gian cần
thiết để Tòa án tiến hành lập hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập chứng cứ, hòa giải vụ
án, và xem xét để đưa vụ án ra xét xử. Đây là công việc bắt buộc trước khi đưa vụ
án ra xét xử và cần phải có thời gian nhất định. Đối với những tranh chấp về kinh
doanh, thương mại thì thời hạn chuẩn bị xét xử là 02 tháng. Trong trường hợp vụ
án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án có thể gia hạn
thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 01 tháng. Việc quy định thời hạn như
vậy nhằm đảm bảo yêu cầu giải quyết vụ án một cách nhanh chóng và kịp thời.
Trong thời gian chuẩn bị cho công tác xét xử, Tòa án tiến hành các công việc chủ
yếu sau:
Một là, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải
thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án
đã thụ lý vụ án.
Hai là, Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ. Theo đó, Tòa án có quyền yêu cầu
đương sự cung cấp, bổ sung chứng cứ, hoặc cung cấp những vấn đề cần thiết. Yêu
cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức hữu quan, cá nhân cung cấp bằng chứng có ý nghĩa
cho việc giải quyết vụ án; yêu cầu người làm chứng trình bày về những vấn đề cần
thiết; xác minh tại chỗ tình hình vụ án; trưng cầu giám định, yêu cầu cơ quan
chuyên môn định giá hoặc lập hội đồng định giá tài sản có tranh chấp.
Ba là, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự có thể thỏa thuận với nhau về
việc giải quyết vụ án. Tòa án tiến hành hòa giải tất cả các vụ án dân sự - đây là một
thủ tục bắt buộc phải tiến hành, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không
tiến hành hòa giải được. Trong trường hợp bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; hoặc đương sự không thể tham gia hòa
giải được gì có lý do chính đàng thì Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử mà
không cần hòa giải.
Khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán phải triệu tập tất cả các đương sự, phổ biến
cho tất cả các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải
quyết vụ án để các bên có liên hệ đến quyền và nghĩa vụ của mình, phân tích hậu
quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện với nhau về việc giải quyết vụ
án.


Khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề giải quyết tranh chấp thì
Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản
hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về thỏa thuận đó thì thẩm
phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công
ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Việc hòa giải thành một
vụ án kinh doanh, thương mại không chỉ là giải quyết mâu thuẫn giữa các đương
sự mà còn đơn giản hóa thủ tục, tiết kiệm thời gian và công sức cho các đương sự.
Trong trường hợp các đương sự không thể thỏa thuận với nhau được, thì Tòa án
lập biên bản hòa giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Kết thúc
giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công chủ tọa được quyền ra một
trong các quyết định sau:
• Đưa vụ án ra xét xử;
• Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án;
• Đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Việc tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án được quy định cụ thể tại Điều
189 và Điều 192/K1 BLTTDS 2004.
3.1.4: Mở phiên tòa sơ thẩm
Thời hạn mở phiên tòa là không quá một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ
án ra xét xử. (Nếu có lý do chính đáng thì thời hạn xét xử là hai tháng)
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trong
trường hợp đặc biệt thì Hội xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội
thẩm nhân dân. (Quy đinh tại điều 52, BLTTDS 2005). Thành phần xét xử vụ án
kinh doanh thương mại do 3 thẩm phán giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm: đương sự phải có mặt tại phiên tòa khi Tòa án xét xử vụ án
kinh tế. Tuy nhiên trong thực tế có nhiều nguyên nhân khách quan khiến họ không
thể có mặt tại phiên tòa. Trong trường hợp họ vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính
đáng thì Tòa án phải hoãn phiên tòa để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Đương sự được vắng mặt tại phiên tòa khi họ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng
mặt hoặc trong trường hợp có người đại diện hợp pháp của họ tại phiên tòa. Song
có những trường hợp đương sự cố tình vắng mặt để trốn tránh nghĩa vụ của mình,
nên sự vắng mặt của đương sự lần thứ hai cần được xem xét cụ thể:
• Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ
bỏ việc khởi kiện, và Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án mà không
cần sự đồng ý của bị đơn và của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
• Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến
hành xét xử vắng mặt họ. Trường hợp này bị đơn được coi là cố tình trốn tránh
nghĩa vụ đối với nguyên đơn.
• Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà
vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.


Trình tự tiến hành phiên tòa sơ thẩm:
• Thủ tục chuẩn bị khai mạc phiên tòa,
• Khai mạc phiên tòa,
• Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa,
• Tranh luận tại phiên tòa,
• Hội đồng xét xử nghị án trong phòng nghị án riêng
• Chủ tọa phiên tòa tuyên án.
3.1.5. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời :
Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ bằng chứng, bảo đảm việc thi hành
án và chịu trách nhiệm về yêu cầu này
Trường hợp do tình thế khẩn cấp thì đương sự có thể yêu cầu Tòa án thực hiện khi
nộp đơn khởi kiện
• Các biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể áp dụng là :
- Kê biên tài sản đang tranh chấp,
- Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.
- Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp
- Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác
- Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc Nhà nước, ở
nơi gởi giữ.
- Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ
- Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện một số hành vi nhất định.



Hình 3: Quy trình tố tụng tòa án
3.2: Thủ tục xét xử phúc thẩm
3.2.1: Tính chất của xét xử phúc thẩm
Tính chất của xét xử phúc thẩm: để đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử khi có đơn
kháng cáo của người có quyền kháng cáo, quyết định kháng nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát cùng cấp, hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp đối với
bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật thì vụ án
phải được đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của BLTTDS 2005.
Vì vậy, việc xét xử theo thủ tục phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử
lại vụ án mà bản án, quyết định cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng
cáo, kháng nghị. Theo đó, người có quyền kháng cáo có đơn kháng cáo hợp lệ,
Viện kiểm sát cùng cấp, hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị phúc
thẩm theo quyết định của BLTTDS 2005, không kể trường hợp kháng cáo, kháng
nghị có đủ căn cứ hay không thì vụ án vẫn phải được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý
giải quyết theo quyết định của pháp luật.
Những người có quyền kháng cáo, kháng nghị: đương sự, người đại diện của
đương sự, cơ quan, tổ chức đã khởi kiện vụ án để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích
công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách có quyền làm đơn
kháng cáo, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải
quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết
lại theo thủ tục phúc thẩm. Người kháng cáo, kháng nghị phải làm đơn bằng văn
bản gửi tới Tòa án đã giải quyết sơ thẩm vụ án kinh tế với các nội dung chủ yếu là
nội dung bị kháng cáo, kháng nghị; lý do kháng cáo, kháng nghị và yêu cầu của
người kháng cáo, kháng nghị. Kèm theo đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị là
tài liệu, chứng cứ bổ sung, nếu có để chứng minh cho kháng cáo, kháng nghị của
mình là có căn cứ và hợp pháp.
Thời hạn kháng cáo:
• Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Toà án cấp sơ thẩm là mười lăm ngày, kể
từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng
cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
• Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án
của Toà án cấp sơ thẩm là bảy ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận
được quyết định
• Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính
căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì.
Thời hạn kháng nghị:
• Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát
cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày,


kể từ ngày tuyên án. Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời
hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án.
• Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình
chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là bảy ngày, của Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp là mười ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được
quyết định
Phạm vi xét xử phúc thẩm: Tòa án cấp phúc thẩm chỉ có quyền xem xét lại phần
của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc liên quan đến việc
xem xét lại nội dung kháng cáo, kháng nghị. Còn những phần không có kháng cáo,
kháng nghị, hoặc không có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị thì Hội đồng xét
xử phúc thẩm không được quyền xem xét và quyết định. Nếu Hội đồng xét xử
phúc thẩm xét xử lại và quyết định cả những phần của bản án, quyết định không có
kháng cáo, kháng nghị, hoặc không có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị là có
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đây là một trong những căn cứ để kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Những người tham gia phiên tòa phúc thẩm: người kháng cáo, đương sự, cá nhân,
cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải được triệu tập tham gia phiên
tòa. Tòa án có thể triệu tập những người tham gia tố tụng khác nếu thấy cần thiết
cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp
phải tham gia phiên toà phúc thẩm trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị
hoặc đã tham gia phiên toà sơ thẩm.
3.2.2: Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm:
Hội đồng xét xử phúc thẩm bắt đầu xét xử vụ án bằng việc nghe lời trình bày của
các đương sự; việc hỏi những người tham gia tố tụng và công bố tài liệu, tranh luận
được thực hiện như tại phiên tòa sơ thẩm, và chỉ được tranh luận về những vấn đề
thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm.
Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm:
• Giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm;
• Sửa bản án, quyết định sơ thẩm;
• Huỷ bản án, quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm
giải quyết lại vụ án hoặc tiếp tục việc giải quyết vụ án.
• Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án
Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án hoặc ra
quyết định. Cũng cần chú ý là khi xét các Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị
kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không phải mở phiên tòa và cũng
không phải triệu tập các đương sự trừ trường hợp cần thiết.
3.3: Thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm
Thành phần Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án dân sự


• Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm Toà án nhân dân cấp tỉnh là Uỷ ban thẩm
phán Toà án nhân dân cấp tỉnh.
• Khi Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh tiến hành giám đốc thẩm, tái
thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải có ít nhất hai phần ba
tổng số thành viên tham gia.
• Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm Toà chuyên trách Toà án nhân dân tối cao
gồm có ba Thẩm phán.
• Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm Toà án nhân dân tối cao là Hội đồng thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao
Khi Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tiến hành giám đốc thẩm, tái
thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải có ít nhất hai phần ba
tổng số thành viên tham gia.
3.3.1:Thủ tục giám đốc thẩm
Tính chất giám đốc thẩm: giám đốc thẩm là việc xem xét lại bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm
pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ
án dân sự gồm ba Thẩm phán. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
gồm một trong các căn cứ sau:
• Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan
của vụ án;
• Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;
• Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
• Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Toà án các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao.
• Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện.
Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm: là 3 năm kể từ ngày bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Thẩm quyền giám đốc thẩm
• Uỷ ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện bị kháng nghị.


• Toà kinh tế của TAND tối cao giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp tỉnh bị kháng nghị.
• Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của các Toà phúc thẩm, Toà kinh tế, của TAND tối cao bị
kháng nghị.
• Những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án thuộc
thẩm quyền của các cấp Toà án khác nhau được quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều này thì Toà án có thẩm quyền cấp trên giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.
Phạm vi giám đốc thẩm
• Hội đồng giám đốc thẩm chỉ xem xét lại phần quyết định của bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung
kháng nghị.
• Hội đồng giám đốc thẩm có quyền xem xét phần quyết định của bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến
việc xem xét nội dung kháng nghị, nếu phần quyết định đó xâm phạm đến lợi ích
của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án.
Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm:
• Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật;
• Giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới đã bị huỷ
hoặc bị sửa;
• Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét
xử phúc thẩm lại;
• Huỷ bản án, quyết định của Toà án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án.
Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc
thẩm ra quyết định
3.3.2: Thủ tục tái thẩm trong Tố tụng tòa án
Tái thẩm là việc xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi
cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không thể biết
được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó.
Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm:
• Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể
biết được trong quá trình giải quyết vụ án;
• Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên
dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ;


• Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án
hoặc cố ý kết luận trái pháp luật;
• Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động của Toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà
Toà án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị huỷ bỏ.
Người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm giống như thủ tục giám đốc
thẩm.
Thời hạn kháng nghị tái thẩm: là 1 năm kể từ ngày người có thẩm quyền tái thẩm
biết được các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.
Thẩm quyền Hội đồng tái thẩm:
• Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật;
• Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại theo thủ
tục do Bộ luật này quy định;
• Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án
3.4: Thi hành bản án và quyết định có hiệu lực của Tòa án
Thi hành án là giai đoạn cuối cùng của các quá trình tố tụng, kết thúc quá trình
bảo vệ quyền lợi của các đương sự. Thi án các bản án, quyết định có hiệu lực của
vụ án kinh tế được thực hiện theo thủ tục thi hành án dân sự được quy định tại
Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004. Trong giai đoạn này, quyết định của Tòa
án được đưa ra thi hành và bảo đảm thực hiện trên thực tế. Đây là giai đoạn có ý
nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết các vụ án tại Tòa án, nó không những bảo đảm
hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật
mà còn góp phần tằng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Những bản án, quyết định kinh tế của Toà án được thi hành là những bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo Điều 375/BLTTDS 2005 bao gồm:
• Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không
bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
• Bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm;
• Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án;
• Bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài
nước ngoài đã có quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án Việt Nam công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×