Tải bản đầy đủ

Phân tích gói tác động của gói kích cầu mà chính phủ việt nam đã sử dụng đối với nền kinh tế

Đề tài: Phân tích gói tác động của gói kích cầu mà
chính phủ Việt Nam đã sử dụng đối với nền kinh tế

Nhóm
10


Nội dung chính:
Đề tài nghiên cứu được chia
làm 2 chương chính:
Chương 1: Lý thuyết kinh tế về
vai trò điều tiết của chính phủ.
Chương 2: Thực trạng áp dụng
các gói kích cầu ở Việt Nam.
Chương 3: Các tác động tiêu
cực của gói kích cầu và giải
pháp


Lời mở đầu
Trong giai đoạn 2008 – 2009, một vấn đề bức thiết gây chấn

động địa cầu đã xảy ra đó chính là cuộc khủng hoảng tài chính
thế giới. . Nó bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ từ
cuối năm 2007, kéo theo phản ứng dây chuyền lên toàn bộ nền
kinh tế của các nước công nghiệp phát triển. Kết quả là các
nước đang phát triển trong đó có Việt Nam bị ảnh hưởng tiêu
cực trên nhiều khía cạnh. Một trong những giải pháp mà chính
phủ các nước đưa ra để cứu vãn tình thế này và khắc phục hậu
quả của nó là tung ra các gói kích cầu nhằm kích thích nền kinh
tế phát triển, thoát khỏi tình trạng suy thoái. Chính phủ Việt
Nam cũng hành động như vậy
Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một đánh giá
cụ thể nào về tác động của gói kích cầu này đến
nền kinh tế Việt Nam.


I: Lý thuyết kinh tế về vai trò điều tiết của chính phủ:
- Thế kỷ XX có hai giải pháp vĩ mô đối lập nhau: nền kinh tế chỉ
huy dựa trên sự kiểm soát tập trung của Nhà nước và nền kinh tế
thị trưng dựa vào thành phần kinh tế tư nhân. Và đến cuối thế kỷ
XX : mô hình của nền kinh tế chỉ huy đã thất bại trong việc duy
trì tăng trưởng, trong việc tạo ra sự phồn vinh và thậm chí cả
trong việc nâng cao đời sống nhân dân.
- Nền kinh tế thị trường thì có những qui luật của nó quy luật
cung - cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị... có khả năng tự
cân bằng cung-cầu; và thị trường lao động, vốn hay đất đai chỉ
vận hành đúng theo quy luật giá trị khi nó loại bỏ sự can thiệp
của Nhà nước
- Tuy nhiên Nhà nước trong các nền kinh tế thị trường đóng một
vai trò rất lớn trong việc tạo ra các điều kiện kinh tế để thị
trường tư nhân có thể phát huy hết hiệu quả hoạt động của mình.


‫ﻉﻊﻄﻖﻕﻖﻬﻫﻍﻱ‬
 Chính sách tài chính bao gồm các chính sách‫ﻤ‬thuế và chi
tiêu ngân sách của Nhà nước nhằm điều tiết chu kỳ kinh
tế, đảm bảo công ăn việc làm, ổn định giá cả và tăng
trưởng liên tục của nền kinh tế.
• Trong những thời kỳ kinh tế suy giảm, chính sách tài
chính có tác dụng kích cầu và sản xuất bằng cách Chính
phủ tăng mua, giảm thuế, do đó tạo ra được một thu nhập


quốc dân khả dụng lớn hơn để đưa vào luồng tiêu đùng.
• Còn trong những thời kỳ kinh tế "quá nóng", chính phủ
làm ngược lại.
• Để cân bằng lại những biện pháp tài chính cố ý này, Nhà
nước tạo ra nhưng cái gọi là cơ chế ổn định, như thuế thu
nhập luỹ tiến và phụ cấp thất nghiệp.
‫ﻉﻊﻄﻖﻕﻖﻬﻫﻍﻱ‬
‫ﻤ‬


1. Các công cụ của chính sách tiền tệ:
Công cụ tái cấp vốn
Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Gồm có 6 công cụ sau:

Công cụ nghiệp vụ thị trường
mở
Công cụ lãi suất tín dụng
Công cụ hạn mức tín dụng
Tỷ giá hối đoái


2. Mục đích sử dụng chính sách tiền tệ:
Cơ quan hữu trách về tiền tệ sử dụng chính sách tiền tệ nhằm hai
mục đích: ổn định kinh tế và can thiệp tỷ giá hối đoái.
•Về ổn định kinh tế vĩ mô, nguyên lý hoạt động chung của chính sách
tiền tệ là cơ quan hữu trách về tiền tệ (ngân hàng trung ương hay cục
tiền tệ) sẽ thay đổi lượng cung tiền tệ. Các công cụ để đạt được mục
tiêu này gồm: thay đổi lãi suất chiết khẩu, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt
buộc, và các nghiệp vụ thị trường mở.
•Khi tăng chi tiêu vào thời điểm thất nghiệp cao và lạm phát thấp,
Nhà nước đã tăng cung ứng tiền, dẫn tới giảm lãi suất (tức giám giá
đồng tiền).
=> Kích cầu vì tiêu dùng là bộ phận cấu thành lớn nhất và ổn định
nhất của tổng cầu. Lãi suất thấp, đồng thời khuyến khích đầu tư, các
chủ doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất, thuê thêm công nhân.
Trong thời kỳ lạm phát cao và thất nghiệp thấp thì ngược lại, Nhà
nước "làm nguội" nền kinh tế bằng cách tăng lãi suất, giảm cung ứng
tiền.


 Trước năm 1960, chính sách tài chính và tiền tệ không được áp
dụng rộng rãi để ổn định các chu kỳ kinh doanh
 Ngày nay, trừ các trường hợp liên quan tới thiên tai và thảm hoạ
chiến tranh, các chính sách này đã trở thành giải pháp hữu hiệu
để khắc phục lạm phát và giải quyết việc làm
 Chính phủ muốn thực hiện chính sách tài chính nới lỏng bằng
cách tăng chi tiêu chính phủ
 Khi cả thất nghiệp và lạm phát xảy ra đồng thời, chính phủ có thể
rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan
 Nhà nước không thể cung cấp phương thuốc bách bệnh trong
cuộc đấu tranh muôn thuở với lạm phát và thất nghiệp trong các
nền kinh tế thị trường thì nó vẫn được coi là nhân tố tích cực
trong việc điều hoà các ảnh hưởng của chúng.
 Hầu hết các nhà kinh tế hiện nay đều thừa nhận tầm quan trọng
của Nhà nước trong cuộc đấu tranh chống lạm phát và thất
nghiệp thông qua các chính sách ổn định dài hạn.


II. Thực trạng các gói kích cầu:
2.1 Tác động của chính sách tài khóa đối với nền kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dựa vào các luồng chi tiêu
kích cầu. Chủ yếu thông qua ba nguồn: Chi tiêu chính phủ; Đầu tư
trực tiếp nước ngoài; Tăng trưởng tín dụng (cung tiền).
CÔNG THỨC:
Gọi B là hiệu số giữa thu và chi ngân sách, ta có : B = T – G
( Với T là thuế, G là chi tiêu của chính phủ ). Khi B > 0 ta có
thặng dư ngân sách; Khi B = 0 ta có cân bằng ngân sách Khi B <
0 ta có thâm hụt ngân sách.
Thâm hụt ngân sách có ý nghĩa quan trọng và quyết định đối với
tình hình hoạt động của nền kinh tế của một quốc gia.


Tình hình ngân sách Việt Nam thời gian này được phản ánh
dưới những con số được thu thập dưới đây: Mức chi tiêu chính
phủ tối ưu đối với tăng trưởng kinh tế dao động trong khoảng từ
15-25% GDP. Thâm hụt ngân sách (kể cả chi nợ gốc) đã vào
khoảng 5% GDP mỗi năm và được tài trợ thông qua vay nợ
trong nước (khoảng 3/4) và vay nợ nước ngoài (khoảng 1/4).
Theo số liệu tính toán bởi IMF, tính đến cuối năm 2007 tích lũy
của các khoản thâm hụt hàng năm này đã tạo thành nợ chính
phủ vào khoảng 50% GDP


2.2 Thực trạng khủng hoảng tình hình kinh tế thế giới năm
2008-2009:
Năm 2008, tăng trưởng kinh tế toàn cầu chỉ đạt 3% thấp hơn nhiều
so với
mức 5,2% của năm 2007 và thấp hơn mức dự đoán là 3,9%.
GDP của các nước trên đều bị âm.
Suy giảm kinh tế khiến thu nhập của người dân giảm dẫn đến tổng
cầu giảm, khi đó tổng cung trong nền kinh tế lại khá cao. Do cung >
cầu nên dẫn đến GDP thấp.
Mức suy giảm thương mại toàn cầu năm 2008 là 9% và là mức suy
giảm lớn nhất trong 7 thập kỷ qua
=> Trong gần 30 năm qua trong tất cả các hoạt động kinh tế thì
thương mại luôn là lĩnh vực tăng mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng
vượt GDP, thế nhưng ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng khiến cho
phát triển thương mại của các nước lao đao, đây thực sự là bài toán
kinh tế lớn đối với các nước.


Bảng so sánh tăng trưởng kinh tế thế giới trong 3 quý đầu
năm 2009:
Các nước

GDP

Các nước

GDP

Mỹ

-3,23%

Thái Lan

-4,93%

Khu vực Euro

-4,6%

Malaysia

-3,77%

Anh

-5,37%

Trung Quốc

+7,63%

Nhật Bản

-6,6%

Ấn Độ

+6,6%

Nga

-9,87%

Indonesia

+4,23%


2.2.1 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính:
Trong thực tế có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng khiến cho cuộc
khủng hoảng tài chính bùng nổ. Khủng hoảng tài chính là mối lo
ngại của toàn cầu.
Cuộc khủng hoảng tài chính gần đây nhất xuất phát từ Mỹ với
việc xoá nhoà ranh giới giữa các ngân hàng thương mại, ngân
hàng đầu tư và công ty bảo hiểm.
Bên cạnh đó chính phủ Mỹ còn phát triển nhanh nhiều trái phiếu
cổ phiếu có nguồn gốc bất động sản tạo ra những rủi ro lớn cho
thị trường cho Ngân hàng và dân chúng
Tiếp theo đó bong bóng thị trường nhà ở vỡ khiến các cá nhân
gặp khó khăn trong việc trả nợ.
=> Xét đến tận cùng gốc rễ thì cuộc khủng hoảng tài chính
nguồn từ vấn đề về mô hình và hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa


2.2.2 Các gói kích cầu của các nước:
Ở Mỹ, 17/2/2009 Barack Obama đã ký đạo luật
American Recovery and Reinvestment Act cho phép
chính phủ Mỹ thực hiện gói kích thích trị giá 787 tỷ
đôla
Ở Trung Quốc đã thực hiện gói kích cầu có quy mô là
586 tỷ USD hướng tới xây dựng cơ sở hạ tầng (45%),
giải quyết hậu quả của quá trình phát triển quá nóng,
khắc phục hậu quả của thiên tai
Malaysia là một nước đang phát triển cũng đã tung ra
gói kích thích kinh tế thứ 2 trị giá 60 tỷ ringgit (tương
đương 16,26 tỷ USD) trong nỗ lực nhằm ngăn chặn tác
động của suy thoái kinh tế toàn cầu.
Chính phủ Thái Lan cũng vừa thông qua gói kích cầu trị
giá 8,6 tỷ USD


2.3 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đến nền kinh tế
Việt Nam:
Cuộc khủng hoảng trên thế giới đã tác động đến Việt Nam, tuy có chậm
hơn một số nước nhưng cũng rất lớn và khá rộng.
 Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng
gặp khó khăn lớn và giảm về cả số lượng lẫn giá
cả do tổng cầu thế giới giảm và do cạnh tranh
trên thế giới.
 Giảm nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia do hai
nguyên nhân. Thứ nhất, do giảm lượng khách du
lịch quốc tế vào Việt Nam. Thứ hai, do kiều hối
giảm mạnh, đặc biệt là kiều hối đầu tư.
 Các tổ chức tài chính của Việt Nam gặp khó khăn trong giai đoạn này
thị trường chứng khoán Việt Nam diễn biến phức tạp. Chứng khoán tụt dốc
không phanh 10/2007 từ mức 1.090 điểm; đến cuối 12/2008 còn 290
điểm, tức giảm 70%.


III .Các tác động tiêu cực của gói kích cầu và giải
pháp
1: Tác động tiêu cực và các vấn đề của các gói kích
cầu
- Định hướng chính sách kích cầu không rõ ràng, không
có sự phân định giữa các khái niệm kích cầu hay kích
cung, kích cầu hay giải cứu,…
- Gói kích cầu của Việt Nam là gói giải cứu tình huống.
- Gói kích cầu không đáp ứng hoàn toàn 3 yêu cầu: Kịp
thời, đúng đối tượng và vừa đủ (ngắn hạn).
- Ảnh hưởng của gói kích cầu đến sự cạnh tranh giữa các
DN trong nền kinh tế.
=> Có thể thấy rằng trong thời gian qua chính sách kích
cầu của Chính phủ Việt Nam chưa thật sự tác động đến
hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp


2: Các mặt còn hạn chế của chính sách kích
cầu tại Việt Nam
- Chính sách kích cầu không trực tiếp giải quyết
khó khăn.
- Số tiền cung ứng vào lưu thông lớn tạo tiềm ẩn
rủi ro lạm phát cao.
- Nền kinh tế Việt Nam có đặc thù phải dựa vào
máy móc thiết bị và nguyên vật liệu từ bên
ngoài, do vậy sẽ hong chịu nổi sức ép từ việc gia
tăng đầu tư quá mức.


3: Giải pháp cho việc áp dụng các gói kích cầu hiệu quả hơn
Để ngăn chặn suy giảm kinh tế và khủng hoảng kinh tế, Chính
phủ có thể áp dụng những gói kích cầu nhằm cải thiện sản xuất
và tiêu dùng. Nó có thể giải quyết được đầu vào và đầu ra của
hàng hóa có liên quan đến lao động, việc làm và thu nhập của
dân cư trong thời kì suy giảm kỉnh tế toàn cầu.

Kích cầu sản xuất

Kích cầu tiêu dùng


Kết luận
 
Với gói kích cầu, nền kinh tế việt nam đã đạt được nhiều kết quả
tích cực, có tác dụng giúp nền kinh tế vượt qua suy thoái và tiếp
tục tăng trưởng. tuy còn nhiều hạn chế nhưng cơ bản các gói
kích cầu đã thể hiện bước tiến bộ mới trong công tác đánh giá
về tình hình và hoạch định chính sách của nhà nước , hứa hẹn 1
tương lai tăng trưởng và phát triển bền vững cho đất nước.
 


THANKS FOR LISTENING



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×