Tải bản đầy đủ

CÔNG cụ THUẾ QUAN TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG của VIỆT NAM

CÔNG CỤ THUẾ QUAN TRONG CHÍNH SÁCH
NGOẠI THƯƠNG CỦA VIỆT NAM
Lớp: Kinh tế quốc tế 1 (217)_1
Nhóm C1

Chương I: Tổng quan về chính sách ngoại thương và công cụ
thuế quan
1.1. Chính sách ngoại thương
1.1.1. Khái niệm và vai trò
1.1.1.1. Khái niệm

Chính sách ngoại thương là một hệ thống các nguyên tắc, biện pháp kinh
tế, hành chính và pháp luật dùng để thực hiện các mục tiêu đã xác định trong
lĩnh vực ngoại thương của một nước trong thời kỳ nhất định.
Chính sách ngoại thương là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh
tế của một nước, nó góp phần thúc đẩy thực hiện các mục tiêu kinh tế của đất
nước trong từng thời kỳ. Mục tiêu phát triển kinh tế của một đất nước trong từng
thời kỳ có khác nhau, cho nên đường lối chính sách ngoại thương phải thay đổi
để đạt được những mục tiêu cụ thể của chính sách kinh tế. Không có chính sách
ngoại thương áp dụng cho mọi thời kỳ phát triển kinh tế. Tuy nhiên, các chính
sách ngoại thương đều có tác dụng bảo vệ sản xuất trong nước, chống lại sự

cạnh tranh từ bên ngoài, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển và
bành trướng ra bên ngoài.
1.1.1.2. Vai trò
Không có chính sách ngoại thương áp dụng cho mọi thời kỳ phát triển
kinh tế. Tuy nhiên, các chính sách ngoại thương đều có tác dụng bảo vệ sản xuất
trong nước, chống lại sự cạnh tranh từ bên ngoài, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất


trong nước phát triển và bành trướng ra bên ngoài. Bên cạnh đó nó cũng có các
vai

trò

sau

:

- Chính sách ngoại thương là cầu nối liên kết kinh tế trong nước với kinh
tế thế giới, tạo cơ hội cho một quốc gia hội nhập về kinh tế với các nước trong
khu vực và trên thế giơi theo những bước đi có hiệu quả .
- Chính sach ngoại thương có nhiệm vụ cân bằng cán cân thanh toác thu
chi. Các hoạt động ngoại thương không chỉ đơn thuần tác động đến sự phát
triern và cân đối nền kinh tế trong nước mà còn có nhiệm vu đặc thù là cân bằng
1.1.2.

cán cân thanh toán quốc tế.
Các kiểu chính sách ngoại thương điển hình
Mỗi nước đều có chính sách ngoại thương riêng phù hợp với điều kiện phát
triển kinh tế riêng của từng nước, ở từng thời kỳ phát triển. Tuy nhiên, chính
sách phát triển ngoại thương của các nước có thể phân loại theo hai tiêu thức cơ
bản

sau:

- Phân loại theo mức độ tham gia của Nhà nước trong điều tiết hoạt động ngoại
thương.
- Phân loại theo mức độ tiếp cận của nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế
giới.
1.1.2.1. Phân loại trên mức độ tham gia của Nhà nước trong điều tiết
hoạt



động

ngoại

Chính

sách

mậu

thương.
dịch

tự

do:

- Quá trình sản xuất, xuất khẩu và nhập khẩu được tiến hành một cách tự do,
chính phủ không sử dụng các công cụ thuế quan, hạn ngạch để hạn chế xuất
khẩu



nhập

khẩu.

- Quy luật cạnh tranh điều tiết sự hoạt động của sản xuất, tài chính và thương
mại

trong
Chính

sách

nước.
bảo

hộ

mậu

dịch.


- Chính phủ áp dụng những biện pháp thuế và phi thuế như thuế nội địa, giấy
phép, hạn ngạch, các biện pháp kỹ thuật để hạn chế hàng hóa nhập khẩu.
-Chính phủ nâng đỡ các nhà xuất khẩu nội địa bằng cách cắt, giảm hoặc miễn thuế
xuất khẩu, doanh thu, lợi tức. Trợ cấp xuất khẩu đối với các mặt hàng khuyến
khích

để

công

ty



lợi

thế

cạnh

tranh.

Hiện nay, không nước nào thi hành chính sách này hay chính sách khác một
cách tuyệt đối mà tùy từng trường hợp, trong một số ngành hàng, sản phẩm nếu
thấy rằng áp dụng chính sách tự do sẽ phát triển tốt hơn, chính phủ sẽ để mậu
dịch tự do. Còn một số ngành ảnh hưởng đến sức khỏe, an toàn an ninh của cộng
đồng thì các chính phủ quản lý bằng việc thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch.
1.1.2.2. Phân loại theo mức độ tiếp cận nền kinh tế quốc gia với thế giới.
Chính

sách

hướng

nội.

(

Invard

Oriented

Trade

Policies).

- Kinh tế phát triển tự lực cánh sinh dựa trên tài nguyên sẵn có của quốc gia,
chính phủ điều hành mọi hoạt động kinh tế nhằm sử dụng tối đa nguồn lực, tài
nguyên, tạo ra sản phẩm hàng hóa phục vụ cho người dân trong nước. Chính phủ
cũng điều hành và can thiệp tuyệt đối vào hoạt động xuất nhập khẩu, phân phối
ngoại

thương.

- Cố gắng hình thành ngành công nghiệp riêng của nước mình, sản xuất hàng
hóa phục vụ cho nhu cầu nội địa, hướng về thực hiện chiến lược công nghiệp
hóa

thay

thế

hàng

nhập

khẩu,

.

- Không khuyến khích và ít có quan hệ với thị trường thế giới.
Chính sách hướng về xuất khẩu. (Qutward Oriented Trade Policies).
- Tham gia vào quá trình phân công khu vực và quốc tế, hướng về thị trường,
thực

hiện

chuyên

môn

hóa

đễ

cạnh

tranh.

- Nền kinh tế lấy xuất khẩu làm động lực phát triển, phát triển công nghiệp ưu
tiên

cho

xuất

khẩu.

- Theo từng quốc gia, có thể hướng về xuất khẩu dựa vào nguồn tài nguyên


thiên nhiên, gia công sản phẩm hay dựa vào lợi thế so sánh.
1.1.3.

Các công cụ chủ yếu
1.1.3.1. Công cụ thuế quan : là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa
xuất khẩu hay nhập khẩu của mỗi quốc gia hoặc hàng quá cảnh.
1.1.3.2.

Công

cụ

phi

thuế

quan

:

Trong khuôn khổ WTo, khái niệm phi thuế quan được coi là :” Biện pháp phi
thuế quan là biện pháp ngoài thuế quan , liên quan hoặc ảnh hưởng đến sự luân
chuyển hàng hóa giữa các nước”, còn :” Hàng rào phi thuế quan là những biện
pháp phi thuế quan mang tinh cản trợ đối với thương mại mà không dựa trên cơ
sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng ”.
1.2. Thuế quan
1.2.1. Khái niệm, phân loại và vai trò
1.2.1.1. Khái niệm
Thuế quan hay thuế xuất nhập khẩu là tên gọi chung để gọi hai loại thuế trong
lĩnh vực thương mại quốc tế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa xuất khẩu hay nhập
khẩu của mỗi quốc gia. Thuế quan có 2 loại là thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu.
Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu, còn thuế xuất khẩu là
thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu. Thuế quan được biết đến như một hình thức
lâu dài nhất của chính sách mậu dịch và là một công cụ truyền thống để làm tăng
thu ngân sách nhà nước.
1.2.1.2. Phân loại
Thuế quan được chia làm nhiều loại khác nhau theo những phương thức khác
nhau:
Theo phương thức tính thuế:
Thuế quan theo đơn giá hàng: là một tỷ lệ phần trăm nào đó của mặt hàng,
chẳng hạn 10% trên giá CÌ của hàng nhập khẩu hay 5% trên FOB của hàng xuất
khẩu, được gọi là thuế suất.


Thuế quan theo trọng lượng: được tính theo trọng lượng của mặt hàng, chẳng
hạn 5$ trên 1 tấn. kiểu tính này gây khó khăn hơn trong việc quyết định số lượng
tiền nộp thuế do sự thay đổi thường xuyên của thị trường hay lạm phát,…
Thuế quan hỗn hợp: là loại thuế quy định bược người nhập khẩu phải trả hai
loại thuế quan theo đơn giá hàng và thuế quan theo trọng lượng ( ví dụ: 5% và
5$ trên 1 tấn).
Theo mục đích đánh thuế
Thuế quan tăng thu ngân sách: là tập hợp các mức thuế suất được đưa ra mà
mục đích chính là làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, còn mục đích
bảo hộ cho sản xuất trong nước chỉ là thứ yếu. ví dụ một quốc gia không trồng
lúa gạo cũng như chế biến lúa gạo mà chỉ nhập khẩu thì khi đó thuế nhập khẩu
đánh vào lúa gạo chỉ với mục đích tăng thu cho ngân sách.
Thuế quan bảo hộ: được đưa ra với mục đích làm tăng giá mật cách nhaanh
tạo đối với hàng hóa nhập khẩu nhằm bảo hộ cho sản xuất trong nước trước sự
cạnh tranh từ các nước khác. Ví dụ các nước Nam Mỹ có thuế nhập khẩu cao
cản trở việc nhập khẩu ô tô nguyên chiếc.
Nói chung thuế quan bảo hộ được đưa ra khi người ta cho rằng ở mức thuế
suất thấp hơn thì sản xuất trong nước sẽ gặp phải sự cạnh tranh rất quyết liệt từ
các mặt hàng nhập khẩu, thị phần trong nước bị mất đi.
Thuế quan cấm đoán: là thuế quan đưa ra với thuế xuất rất cao, gần như
không còn là nhà nhập khẩu nào dám nhập mặt hàng đó nữa.
1.2.1.3. Vai trò
Thuế quan có vai trò hết sức quan trong trong việc thu ngân sách nhà nước,
tạo thêm công ăn việc là. Thuế quan còn đóng một vai trò quan trọng trong việc
bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ trong nước, chưa đủ sức cạnh tranh trên
trường quốc tế.
Thuế nhập khẩu
Giảm nhập khẩu bằng cách làm cho chúng trở nên đắt hơn so với các mặt
hàng thay thế có trong nước và điều này làm giảm thâm hụt trong cán cân


thương mại. chống lại các hàng vi phá giá bằng cách tăng giá hàng nhập khẩu
của mặt hàng phá giá lên tới giá chung của thị trường.
Trả đũa trước các hành vi dựng hàng rào thuế quan do quốc gia khác đánh
thuế đối với hàng hóa xuất khẩu của mình, nhất là các cuộc chiến tranh thương
mại.
Bảo hộ cho các lĩnh vực sản xuất then chốt, chẳng hạn nông nghiệp có các
chính sách về thuế quan của Liên minh châu Âu đã thực hiện trong Chính sách
nông nghiệp chung của họ.
Bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ cho đến khi chúng đủ vững mạnh để có
thể cạnh tranh công bằng trên thị trường quốc tế.
Thuế xuất khẩu:
Giảm xuất khẩu do nhà nước không khuyến kích xuất khẩu các mặt hàng sử
dụng các nguồn tài nguyên khan hiếm đang bị cạn kiệt hay các mặt hàng mà tính
chất quan trọng của nó đối với sự an toàn lương thực hay an ninh quốc gia được
đặt lên hàng đầu.
Thuế xuất khẩu có thể được dùng để tăng thu ngân sách cho nhà nước.
Tùy từng nhu cầu mà một hay vài mujch đích nói trên được đề cao. Khi bị xác
định là có mục đích bảo hộ mậu dịch, thuế nhập khẩ có thể trở thành đối tượng
bị nước ngoài đòi cắt giảm.
Tuy nhiên, khi sử dụng chính sách thuế quan cũng mang lại nhưng tác động
tiêu cực. thuế sử dụng vào mục đích bảo vệ sẽ có những tác động tiêu cực tới
sản xuất và tiêu dùng: khuyến khích khong hiệu quả trong nước, tăng giá khiến
người tiêu dùng phải cắt giảm chi tiêu, mua sắm, gián tiếp tạo môi trường cho
buôn lậu và những tệ nam tham nhũng ở các cơ quan thuế.
Khuyến khích các mặt hàng có hiệu quả sản xuất kém trong nước. một khi
nhà nước bảo hộ cho các mặt hàng này tức là đã khuyến khích nó phát triển mà
những mặt hàng thuế cao thường là những mặt hàng không có lợi thế so sánh.
Nhà nước phải chi thêm tiềm năng cho những mặt hàng kém hiệu quả dẫn đến
giảm tổng lợi nhuận thu được.


Giá tăng cao làm gia tăng lạm phát đồng thời người dẫn cắt giảm tiêu dùng cá
nhân.
1.2.2.

Quá trình phát triển của thuế quan trên thế giới
Trong thời cổ đại và trung cổ, thuế xuất-nhập khẩu còn được các chính quyền
địa phương thu, nhưng hiện nay điều này là rất hiếm và thông thường nó được
nhà nước giao cho một tổ chức nhà nước chuyên trách về thuế xuất-nhập khẩu
là hải quan thực hiện công việc kiểm tra, tính và thu thuế. Về mặt nguyên tắc,
thuế xuất nhập khẩu phải được nộp trước khi thông quan để người xuất khẩu có
thể giao hàng hóa cho người chuyên chở hay người nhập khẩu có thể đưa mặt
hàng nhập khẩu vào lưu thông trong nội địa, trừ khi có các chính sách ân hạn
thuế hay có bảo lãnh nộp thuế, nên chúng có thể coi là một trong những loại
thuế dễ thu nhất, và chi phí để thu thuế xuất-nhập khẩu là khá nhỏ.
Trong thời đại ngày nay, các chính sách về thương mại, thuế và thuế quan
thường được xếp cùng nhau do ảnh hưởng chung của chúng đối với các chính
sách công nghiệp, chính sách nông nghiệp và chính sách đầu tư. Các khối
thương mại là nhóm các quốc gia liên minh thỏa thuận giảm thiểu hay loại trừ
thuế quan đối với thương mại trong khối, cũng như khả năng áp đặt thuế quan có
hiệu quả lên hàng nhập khẩu từ ngoài khối hay hàng xuất khẩu ra ngoài
khối. Liên minh hải quan của khối thường có biểu thuế quan ngoài chung, và
theo các quy định đã thỏa thuận thì các quốc gia thành viên chia sẻ các khoản
thu nhập từ thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu vào trong khối.

Chương II: Công cụ thuế quan trong chính sách ngoại thương
Việt Nam từ Đổi mới đến nay
2.1. Thực trạng áp dụng thuế quan trong từng giai đoạn
2.1.1. Giai đoạn 1986- 2000


Luật thuế xuất, nhập khẩu đầu tiên Việt Nam ra đời vào tháng 12 năm 1987 để
quản lý hoạt động xuất nhập khẩu và thay thế cho chế độ thu bù chênh lệch
ngoại thương trước đó. Sau một thời gian áp dụng, Luật thuế xuất nhập khẩu
được sửa đổi lần thứ nhất vào năm 1991, lần thứ hai vào năm 1993 và lần gần
đây nhất là ngày 20/05/1998. Trong đó vấn đề mà thường xuyên được các
thương gia và nhà nước quan tâm nhiều nhất là biểu thuế suất đối với hàng xuất
khẩu và nhập khẩu.
Đối với thuế xuất khẩu :
Trong giai đoạn này thực hiện chiến lược hướng ra xuất khẩu nên nhà
nước ta chủ chương đánh thuế thấp đối với các mặt hàng xuất khẩu. Năm 1991
biểu thuế xuất khẩu có 11 mức đánh vào 60 mặt hàng. Đặc biệt đối với mặt hàng
gạo là mặt hàng có thế mạnh ở Việt Nam, trong năm này giảm thuế suất từ 10%
xuống còn 1%.

BIỂU THUẾ THUẾ XUẤT KHẨU
(Ban hành kèm theo Quyết định số 67/1999/QĐ-BTC ngày 24 tháng 6 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ
Tài chính )
Mã số

Mô tả nhóm mặt hàng

Nhóm

Phân nhóm

1

2

Thuế suất
(%)

3

0801

4

5

Dừa, quả hạch Brazil, hạt đào lộn
hột (hạt điều), tươi hoặc khô, đã
hoặcchưa bóc vỏ hoặc lột vỏ
Riêng:

0801

31

00

Hạt đào lộn hột (hạt điều) chưa bóc vỏ

4


0901

00

Cà phê

0

0902

00

Chè các loại

0

0904

00

Hạt tiêu

0

1006

00

Gạo các loại

0

2701

10

than

0

010

Dầu thô

4

20

Cao su

0

2709

00

4001

Nhìn vào biểu thuế xuất khẩu trên ta có thể thấy Việt Nam chủ yếu xuất khẩu
các sản phẩm thô, sơ chế. Tuy nhiên, điều này có tác động không tốt đối với
nguồn tài nguyên quốc gia gây cạn kiệt tài nguyên.
Đối với thuế nhập khẩu :
Nhìn chung trong giai đoạn này chính sách thuế nhập khẩu của nhà nước
hầu hết nhằm tăng cường bảo hộ cho sản xuất trong nước nên mức thuế suất
tương đối cao.

BIỂU THUẾ THUẾ NHẬP KHẨU NĂM 1991
Mã số

Mô tả nhóm mặt hàng

Thuế suất
(%)

Nhóm
1

4

5

220400

Rượu vang làm từ nha tươi kể cả vang cao độ

100

220100

Các loại nước khoáng tự nhiên, nước khoáng nhân tạo và
nước có ga

70

230300

Bia sản xuất từ Malt

100

240110

Thuốc lá chưa tước cọng

15


24012010

Thuốc lá lá chưa tước cọng

30

240200

Xì gà, xì gà nhá

120

Nhìn vào bảng trên ta thấy các mặt hàng này đánh thuế cao vì đối với thuốc
lá và rượu là hai mặt hàng có hại cho sức khỏe nên hạn chế nhập khẩu, còn đối
với ô tô nhằm bảo hộ sản xuất trong nước.
- Ngày 29/4/1998 Bộ tài chính đã ra quyết định về việc ban hành giá mua tối
thiểu để tính thuế nhập khẩu làm căn cứ xác định giá tính thuế nhập khẩu. Bảng
giá mua tối thiểu với một số mặt hàng: Nhìn chung thì quy định trên là rất cần
thiết và góp phần hạn chế tình trạng người mua và người bán thông đồng với
nhau ghi giá hàng thấp . Đồng thời cũng giúp cho việc tính thuế được nhanh
hơn và có thể hạn chế được việc bán phá giá; nhằm đẩy mạnh việc nhập hàng
hoá vào trong nước.
Thuế doanh thu: Giai đoạn 1996-1998 là giai đoạn cuối cùng thực hiện thuế
doanh thu. Trong giai đoạn này nhà nước thực hiện thuế doanh thu với hàng xuất
khẩu nhưng hiệu quả đạt được không cao.
Thuế VAT : Tháng 5/1997, Quốc hội khóa IX đã thông qua Luật thuế giá
trị gia tăng thay cho thuế doanh thu. Thuế giá trị gia tăng bao quát hầu hết các
hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ, thu cả hàng hoá ở khâu nhập khẩu,
tạo nguồn thu lớn, ổn định và kịp thời cho ngân sách Nhà nước.Trong giai đoạn
đầu do tác động của khủng hoảng nên điều chỉnh thuế VAT xuống từ 20%
xuống 10 % đối với các tư liệu sản xuất để kích thích sản xuất trong nước.Cũng
để khuyến khích xuất khẩu một số hàng hóa dịch vụ áp thuế 0% đối với một số
ngành như sửa chữa máy móc điện tử, xuất khẩu lao động để doanh nghiệp được
khấu trừ hoặc hoàn thuế đầu vào.


- Năm 1995 là năm Việt Nam gia nhập ASEAN. Cùng với quá trình hội nhập
này Việt Nam thực hiện cam kết của Hiệp định thương mại mậu dịch tự do
AFTA về chương trình ưu đãi thuế quan chung CEPT với ba vấn đề chủ yếu là:
+Cắt giảm thuế
+Loại bỏ các hàng rào phi thuế quan
+Hài hòa các thủ tục hải quan.
-Năm 1998, mức thuế suất cao nhất (trong CEPT) chỉ còn 60%. Trong năm
này, Việt Nam chính thức giới thiệu lộ trình CEPT không chính thức 2006. Quốc
hội thực hiện sửa đổi Luật thuế xuất nhập khẩu vào tháng 5 năm 1998 và theo
đó kể từ ngày 1 tháng 1 năm1999, thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam bao gồm 3
mức là mức thông thường, mức tối huệ quốc và mức ưu đãi đặc biệt.
Như vậy, trong giai đoạn này chính sách thuế của Việt Nam chủ yếu là bảo
hộ sản xuất trong nước đồng thời hướng ra xuất khẩu. Mức thuế suất các mặt
hàng trong biểu thuế xuất nhập khẩu thường xuyên thay đổi theo hướng ngày
càng khai thác lợi thế so sánh của nước ta .Các mức thuế suất chỉ mang tính tạm
thời chứ không phải là vĩnh viễn.
2.1.2. Giai đoạn 2000-2007
Trước khi gia nhập WTO Trong giai đoạn này nhà nước ta thực hiện các chính
sách vừa nhằm bảo vệ sản xuất trong nước vừa tích cực chuẩn bị các điều kiện
tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.
- Nhà nước chủ chương đánh thuế cao với một số mặt hàng như xe máy (80%
năm 2004), thuốc lá 70% năm 2004 cấm nhập khẩu một số mặt hàng như xe
đạp, xe hai bánh, ba bánh gắn máy cũ, các vật tư, phương tiện đã qua sử dụng.
Hàng tiêu dùng như dệt may, giày dép, quần áo, đồ điện tử, điện lạnh, điện gia


dụng, hàng trang trí nội thất, thiết bị y tế, đồ gia dụng, các sản phẩm công nghệ
thông tin đã qua sử dụng cũng nằm trong danh mục hàng cấm nhập. Nhà nước
còn quy định hạn ngạch XNK đối với mặt hàng thuốc lá nguyên liệu, bông, sữa
nguyên liệu cô đặc, sữa 17 nguyên liệu chưa cô đặc, muối, ngô hạt và trứng gia
cầm, Số lượng hàng hóa nhập khẩu sẽ được điều chỉnh thuế suất dựa trên sự cân
đối giữa nhu cầu và năng lực sản xuất trong nước
- Ban hành chính sách ân hạn thuế .Cụ thể, thời hạn nộp thuế nhập khẩu đối
với hàng xuất khẩu là 15 ngày, với nguyên phụ liệu nhập khẩu để làm hàng xuất
khẩu là 275 ngày kể từ ngày ra thông báo nộp thuế.
- Về xác định trị giá tính thuế nhập khẩu. Năm 2006, Việt Nam thực hiện
điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với hàng linh kiện, phụ tùng điện
tử, và ô tô; cho phép nhập khẩu ô tô cũ kể từ ngày 1 tháng 5 và ban hành mức
thuế tuyệt đối đối với việc nhập khẩu ô tô cũ.


Chính sách này có tác dụng làm tăng lượng nhập khẩu ô tô trong nước và
đặc biệt với viêc áp dụng thuế tuyệt đối sẽ làm các nhà nhập khẩu nhập khẩu
những loại xe có chất lượng tốt tránh cho việt Nam trở thành bãi rác của thế
giới.
- Cùng với đó trong giai đoạn này Việt Nam cũng tích cực thực hiện lộ trình
cắt giảm thuế theo hiệp định CEPT. Lộ trình cắt giảm thuế theo chương trình ưu
đãi thuế quan có hiệu lực chung CEPT nhằm thực hiện giảm thuế quan với hàng
nhập khẩu từ các nước trong nội khối với điều kiện tỉ lệ nội địa hóa 40% sau đến
năm 2004 giảm còn 20% và 10%.
Như bảng trên ta thấy số mặt hàng giảm thuế qua các năm ngày càng tăng
cho thấy Việt Nam đang thực hiện cam kết cắt giảm thuế theo đúng lộ trình.


Trên đây là lộ trình cắt giảm thuế quan chủ yếu áp dụng đối với hàng nhập khẩu
Việt Nam
- Cũng trong giai đoạn này một sự kiện quan trọng đó là Việc kí kết hiệp định
thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ vào tháng 7-2000. Đây có thể được xem là sự
kiện quan trọng, là điều kiện để Việt Nam có thể gia nhập WTO.Đối với thương
mại hàng hoá, Việt Nam cam kết giảm thuế nhập khẩu hàng nông nghiệp và
công nghiệp từ Hoa Kỳ. Ngược lại, hàng hoá của Việt Nam sẽ chỉ chịu mức thuế
suất bình quân 4,9% thay vì mức 35% (thuế suất không ưu đãi MFN). Hàng
năm, Hoa Kỳ vẫn xem xét lại quy chế MFN đối với Việt Nam. Thuế nhập khẩu
hàng dệt may của Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ được áp theo mức thuế MFN.
Tuy còn một số bất cập trong chính sách nhưng Việt Nam đã có những sự chuẩn
bị cần thiết cho quá trình hội nhập WTO Năm 2007 đánh dấu một năm quan
trọng trong quá trình phát triển của kinh tế Việt Nam đặc biệt đối với hoạt động
thương mại. Khi gia nhập tổ chức này Việt Nam phải cam kết thực hiện lộ trình
giảm thuế quan theo qui định của tổ chức.
Cam kết cắt giảm thuế trong WTO Việt nam cam kết giàng buộc với toàn
bộ biểu thuế nhập khẩu hiện hành với 10.600 dòng thuế. Thuế suất bình quân
giảm 23% so với mức thuế bình quân hiện hành, từ 17,4% xuống còn 13,4% thời
gian ân hạn được thực hiện dần trong vòng 5 - 7 năm.Một số mặt hàng đang có
mức thuế cao từ trên 20% sẽ được cắt giảm thuế ngay sau khi gia nhập. Những
nhóm mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế nhiều nhất gồm: Hàng dệt may, cá và
sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế toạ khác, máy móc thiết bị - điện tử - Đối với
thuế xuất khẩu WTO không có nội dung nào yêu cầu cam kết về thuế xuất khẩu.
Tuy nhiên, một số thành viên (chủ yếu là các nước phát triển)


- Đối với thuế nội địa Việt Nam cam kết thực hiện thuế tiêu thụ đặc biệt đối
với rượu, bia trong vòng 3 năm kể từ khi gia nhập. Tất cả các loại rượu được
chưng cất có nồng độ từ 20 độ cồn trở lên sẽ chịu mức thuế tuyệt đối tính theo lít
của rượu cồn nguyên chất hoặc một mức thuế phần trăm. Đối với bia trong vòng
3 năm kể từ khi gia nhập sẽ áp dụng một mức thuế phần trăm chung, không phân
biệt hình thức đóng gói, bao bì.
-

Về thuế nhập khẩu Mức thuế bình quân đối với hàng nông sản giảm từ

mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9% thực hiện trong 5 – 7 năm. Cụ thể, có
khoảng hơn 1/3 số dòng thuế sẽ phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng có thuế suất
trên 20%. Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản,
xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ôtô – xe máy…vẫn duy trì được mức bảo
hộ nhất đinh. Về việc xác định trị giá tính thuế nhập khẩu, áp dụng Hiệp định về
xác định trị giá tính thuế của WTO (CVA) kể từ khi gia nhập: lấy giá trị để tính
thuế nhập khẩu theo giá trị giao dịch thực tế; bỏ bảng giá tối thiểu.
- Tăng cường trao đổi thương mại, tăng lượng FDI (đầu tư nước ngoài) chảy
vào Việt Nam. Nhờ việc cắt giảm thuế quan mà ta có cơ hội nhập khẩu nguyên
liệu đầu vào, máy móc vật tư kĩ thuật nhằm giúp sản xuất trong nước phát triển.
- Gia nhập WTO chúng ta có thể thâm nhập vào thị trường nông sản thế giới
(có kim ngạch tới 548 tỷ USD/ năm) do phải chịu mức thuế quan thấp.
- Những thay đổi trong thuế XNK còn đẩy mạnh xuất khẩu tài nguyên,
khoáng sản,…dẫn đến chảy máu tài nguyên quốc gia.
Như vậy trong giai đoạn này Việt Nam tăng cường tham gia các hiệp
định hợp tác nhằm tăng cường hội nhập sâu rộng trong khu vực và trên thế giới,
tiến tới hoàn thành thực hiện các cam kết về thuế quan. Tất cả đều là sự chuẩn bị
cho quá trình hội nhập vào tổ chức thương mại lớn nhất thế giới WTO.


2.1.3. Giai đoạn từ 2008 đến nay
- Lộ trình cắt giảm thuế theo cam kết WTO
Việt Nam tiếp tục giữ các mức thuế suất trần theo cam kết WTO đối với một
số nhóm hàng có mức thuế cao và mang tính chất nhạy cảm như thuế thuốc lá
135%, xì gà 110%, ô tô nguyên chiếc 82% và 77% với rượu, bia.Nhìn chung các
cam kết về thuế được thực hiện tuân thủ đầy đủ các cam kết trong WTO theo
đúng lộ trình. Mức thuế bình quân giản đơn của Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi năm
2011 là 10,47% và trong một số trường hợp, mức thuế suất áp dụng đã được quy
định thấp hơn so với mức cam kết để phù hợp với mục tiêu điều hành kinh tế vĩ
mô và khuyến khích sản xuất kinh doanh trong nước, thúc đẩy xuất khẩu, trong
đó chủ yếu là nhóm hàng vật tư, nguyên nhiên vật liệu, linh kiện phục tùng và
máy móc, thiết bị trong nước không sản xuất được… Đặc biệt, năm 2012 là năm
có sự thay đổi lớn, theo đó, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi năm 2012 gồm 9.558
dòng thuế, tăng 1.258 dòng thuế. Trong số 9.558 dòng thuế này thì phải cắt giảm
945 dòng thuế theo cam kết WTO cho năm 2012 với mức cắt giảm chủ yếu từ 13%, gồm các mặt hàng thủy hải sản, hoa quả, thực phẩm chế biến, bánh kẹo,
rượu, thuốc lá . Các chính sách thuế khác trong giai đoạn này.
- Năm 2008 chứng kiến một tần suất hiếm thấy trong điều chỉnh thuế xuất
nhập khẩu đối với nhiều mặt hàng. Một mặt, những điều chỉnh này được thực
hiện theo các cam kết thuế quan giữa các nước thành viên khối ASEAN và theo
lộ trình gia nhập WTO;
Mặt khác, đây cũng là ứng xử của nhà điều hành chính sách trước những
biến động mạnh và bất thường trên thị trường thế giới nhằm hỗ trợ cho sản xuất,
bình ổn thị trường trong nước, cũng như hỗ trợ các ngành hàng xuất khẩu. Thuế
một loạt các mặt hàng nông sản, đồ gỗ, sắt thép, xăng dầu, gas, ôtô, giấy, nguyên


vật liệu cho sản xuất… liên tục được điều chỉnh; điển hình như thuế xuất khẩu
thép(tăng lên 20% sau đó lại giảm về 10%), thuế nhập khẩu xăng dầu giảm từ
5%-0% sau đó lại tăng 5% do dự đoán giá dầu thế giới tăng ảnh hưởng đến giá
xăng.
- Đối với thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu : thực hiện điều chỉnh linh hoạt thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong khung thuế suất đã được Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quyết định, phù hợp với diễn biến tình hình thị trường trong và ngoài
nước và cam kết WTO; trong đó có những mặt hàng điều chỉnh tăng để bảo hộ
sản xuất trong nước, giảm nhập siêu như: điều chỉnh tăng thuế hàng tiêu dùng
không thiết yếu như ô tô.
Việc giảm thuế GTGT đầu ra đối với 19 nhóm hàng hoá, dịch vụ năm
2009 với số tiền giảm 25.507 tỷ đồng nhằm mục tiêu kích thích tiêu dùng qua đó
gián tiếp kích cầu đầu tư.
Tuy nhiên, việc giảm thuế GTGT đối với một số hàng hoá, dịch vụ nhập
khẩu chỉ giúp doanh nghiệp nhập khẩu giảm được gánh nặng về tài chính qua đó
giảm được giá bán cho người tiêu dùng, nhưng lại gây sức ép rất lớn cho sản
xuất trong nước vì tạo ra áp lực cạnh tranh với hàng nhập khẩu
=> Trong năm 2009, nhà nước đã có những chính sách thuế phù hợp để hạn
chế nhập siêu, So với con số nhập siêu trên 18 tỷ USD của năm 2008, năm nay,
chênh lệch thương mại quốc tế đã được kiềm chế chỉ còn khoảng 2/3, đạt gần
12,25 tỷ USD.
- Biểu thuế năm 2012 có nhiều điểm thay đổi cả về danh mục hàng hóa và
thuế suất. Cụ thể có 87 nhóm mặt hàng xuất khẩu thay đổi biểu thuế gồm tài
nguyên khoáng sản, như quặng, đá, cát; mặt hàng kim loại, phế liệu kim loại,
như vàng, sắt, đồng và một số mặt hàng không khuyến khích xuất khẩu khác.


Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng tiến hành giảm thuế nhập khẩu của 87 dòng thuế là
các nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được hoặc để khắc
phục bất hợp lý, bảo đảm phù hợp với mức thuế nhập khẩu thành phẩm. Trong
số 87 dòng thuế giảm, có 7 dòng thuế có mức giảm từ 1-2%, 80 dòng thuế có
mức giảm nhiều hơn.
- Về chính sách ân hạn thuế vẫn là 275 ngày nhưng kèm theo một số điều
kiện bắt buộc với doanh nghiệp: DN có cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu ở Việt
Nam; có hoạt động xuất nhập khẩu ít nhất 2 năm liên tục đến ngày đăng ký tờ
khai hải quan mà không có hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, nợ thuế quá
hạn; tuân thủ pháp luật kế toán, thống kê; thực hiện thanh toán qua ngân hàng
=> Việc ràng buộc các điều kiện như vậy sẽ làm tăng tính cạnh tranh hơn cho
các DN thực hiện tốt và tuân thủ các quy định về kế toán, thuế và hải quan.
2.2. Đánh giá chung về việc áp dụng thuế quan trong chính sách
ngoại thương Việt Nam
Xét ở góc độ quốc gia đánh thuế thì thuế quan đã mang lại cho nước ta một
nguồn thu nhập. Nhưng đứng trên giác độ của toàn bộ nền kinh tế thì thuế quan
lại làm giảm phúc lợi chung do nó làm giảm hiệu quả khai thác nguồn lực của
nền kinh tế. Nó làm thay đổi cán cân thương mại, điều tiết hoạt động xuất nhập
khẩu của nước ta. Bên cạnh những thành công đạt được trong việc áp dụng thuế
quan trong chính sách ngoại thương thì nó cũng mang lại những hạn chế ảnh
hưởng tiêu cực đến nước nước ta. Thuế quan cao ảnh hưởng đến khả năng cạnh
tranh của hàng hóa và làm giảm lượng hàng hóa tiêu thụ được. Thuế quan cao
làm nạn buôn lậu ngày càng tăng và phát triển. Thuế xuất khẩu làm tăng giá
hàng hóa trên thị trường quốc tế và giữ giá thấp hơn pử thị trường nội địa. Điều
đó làm giảm lượng khách hàng ở nước ngoài do họ cố gắng tìm kiếm các sản
phẩm thay thế. Đồng thời nó không khích lệ các nhà sản sản xuất trong nước áp


dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ để tăng năng xuất, chất lượng
và giảm giá thành. Tuy nhiên, nếu khả năng thay thế thấp thì thuế xuất khẩu
không làm giảm nhiều khối lượng hàng hóa xuất khẩu và vẫn mang lại lợi ích
đáng kể cho nước ta. Ngoài ra, thuế quan nhập khẩu làm tăng giá hàng hóa do
vậy khích lệ các nhà sản xuất trong nước.
2.2.1. Thành công đạt được
Chính sách thuế xuất xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành đã có những tác
động và đạt được nhiều thành công tích cực cho Việt Nam. Cụ thể:
-Biểu

thuế xuất khẩu và nhập khẩu hiện hành được xây dựng trên cơ sở danh mục

điều hòa (HS) 1996 của Hội đồng hợp tác hải quan thế giới, đã từng bước đầu
tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân loại hàng hóa dựa trên cấu tạo, đặc điểm
của hàng hóa,… góp phần làm cho chính sách thuế xuất nhập khẩu dần dần phù
hợp với thông lệ quốc tế.
-Thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khấu cũng được thiết kế hợp lý hơn. Hiện nay
đối với phần lớn hàng xuất khẩu có thuế suất 0%, trừ một số mặt hàng như dầu
thô, một số loại quặng và sông mây. Thuế xuất khẩu được quy định ở 3 mực:
+ Thuế suất ưu đãi
+ Thuế suất thông thường
+ Thuế suất ưu đãi đặc biệt
Những loại thuế suất được áp dụng trong những trường hợp khác nhau tùy
thuộc vào mức độ quan hệ thương mại với các nước, tạo thuận lợi trong đàm
phán về thuế, phù hợp với các quy định quốc tế mà nước ta cam kết thực hiện.
Theo tài liệu của Bộ thương mại, hiện nay Việt Nam đã có thỏa thuận về đối xử
ưu đã đặc biệt trong quan hệ thương mại với một số nước trong khu vực: Brunie.
Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan,… Nước
ta đã có thỏa thuận đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với 172 nước
trên thế giới (Kèm theo công văn số 8678/TCHQ-TXNK ngày 09/9/2016 của
Tổng cục Hải quan).


-Mức

thuế nhập khẩu tối đa có xu hướng giảm. Ngoài việc giảm số lượng các mặt

hàng chịu sự quản lý giá tối thiểu của nhà nước nhà nước còn bỏ quy định áp
dụng giá tối thiểu đối với tất cả các mặt hàng nhập khẩu của các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài.
-Công tác quản lý thực thi chính sách thuế xuất nhập khẩu được hoàn thiện hơn. Từ
ngày 2/7, Quyết định 1780/QĐ-TCHQ ngày 17/6/2016 của Tổng cục Hải quan
quy định Quy trình hoàn thuế, không thu thuế, xét giảm thuế mới đối với hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu bắt đầu có hiệu lực, thay thế Quy trình hoàn thuế,
không thu thuế, xét miễn thuế, xét giảm thuế xuất khẩu, nhập khẩu ban hành
kèm Quyết định 2424/QĐ-TCHQ ngày 27/11/2008. Quy trình này áp dụng đối
với thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thuế tự vệ, thuế chống bán phá giá, thuế
chống trợ cấp; thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường và thuế giá trị gia
tăng. Các thủ tục hải quan được thực hiện nhanh chóng, công khai, đảm bảo
thông thoáng, nhanh chóng và thuận tiện tạo điều kiện tốt cho hoạt động xuất
nhập khẩu.
Do hệ thống chính sách, cơ chế quản lý trong lĩnh vực xuất nhập khẩu được
cải tiến theo hương ngày càng đơn giản, thông thoáng hơn đã có tác dụng tích
cực thúc đẩy sản xuất tăng nhanh và hướng nhập khẩu phục vụ tốt cho sản xuất
và đời sống.
Có thể nói rằng chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nước ta đã có tác
động tích cực trong việc quản lý các hoạt động xuất nhập khẩu, mở rộng quan hệ
đối ngoại, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu góp phần phát triển, bảo
vệ sản xuất trong nước, hướng dẫ tiêu dùng và tạo nguồn thu cho ngân sách nhà
nước
2.2.2. Hạn chế và nguyên nhân


2.2.2.1. Hạn chế
Khó khăn lớn phải kể tới đầu tiên trong hệ thống thuế của Việt Nam là phải
xây dựng lộ trình cắt giảm thuế phù hợp với các nguyên tắc của WTO. Phải sử
dụng thuế như một công cụ kích thích và điều tiết sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế,
tăng cường sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, gop phần thu hút vốn đầu tư
nước ngoài và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hệ thống chính sách thuế của Việt
Nam mới được hình thành vào cuối những năm 80 cùng với việc chuyển đổi cơ
chế của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có nhiều
thành phần kinh tế.
Mặc dù đã từng bước được cải cách và hoàn thiện những hiện nay chính sách
thuế vẫn còn nhiều vướng mặc cần được sửa chữa sao cho phù hợp với các
nguyên tắc của WTO.
-Về

thuế suất thuế nhập khẩu: thuế nhập khẩu hiện nay với chức năng bảo vệ sản

xuất trong nước nên thuế suất thường xuyên được thay đổi cho phù hợp với
những mặt hàng trong đã sản xuất được do đó đã góp phần hỗ trợ tích cực cho
sản xuất. Nhưng chính điều này đã tạo ra những lệch lạc trong định hướng đầu
tư trong nước, đặc biệt là trong quá trinh thu hút đầu tư nước ngoài. Trong
những năm qua, đầu tư nước ngoài đã thu hút được vào những ngành sản xuất
ra các sản phẩm có mức thuế bảo hộ cao, phục vụ cho nhu cầu của thị trường
trong nước chứ không nhằm chủ yếu vào xuất khẩu. Dó tính chất quản lý, điều
hành xuất nhập khẩu còn nhiều yếu kém nên có tình trạng khoảng 50% sản
phẩm của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không xuất khẩu mà cung
ứng vào thị trường nội địa và đây là việc làm gây nên khó khăn cho các doanh
nghiệp trong nước trong việc tiêu thụ sản phẩm. Điều này đã dẫn đến vốn đầu tư
này chưa thực sự góp phần tăng tiềm lực xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh
của nền kinh tế Việt Nam và đẩy nhanh được khả năng thâm nhập vào thị trường
thế giới của Việt Nam, gây lãng phí sử dụng nguồn vốn này.


-Trong

quá trình thực thi pháp luật thuế xuất nhập khẩu, một số bất cập hạn chế đã

được biểu hiện cụ thể như sau:
+ Thứ nhất, các văn bản pháp luật quy định về thuế xuất nhập khẩu còn thiếu
tính ổn định, rõ ràng làm cho chính sách thuế không minh bạch và doanh nghiệp
bị động khi có sự thay đổi về thuế, chưa xác định một cơ chế phối hợp cụ thể
giữa các cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong quá
trình tiến hành hoạt động xuất nhập khẩu.
+ Thứ hai, quy định mức thuế suất vừa theo phân loại hàng hoá, vừa theo xuất
xứ làm cho biểu thuế quá phức tạp và dẫn đến nhiều mức thuế cho cùng một mặt
hàng. Thuế nhập khẩu bao gồm nhiều thứ thuế, cả thuế doanh thu và thuế tiêu
thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng nên thuế suất rất cao (như rượu, bia từ 100150%, ô tô từ 50%-200%…). Tuy có thuận tiện là tập trung nhưng không phù
hợp với thông lệ quốc tế, dễ bị hiểu lầm là hạn chế hàng nước ngoài nhập khẩu
vào Việt Nam.
+ Thứ ba, việc ban hành biểu thuế với nhiều thứ thuế suất cao, thấp còn căn
cứ vào mục đích sử dụng chứ không theo tính chất hàng hóa nên nhiều mặt hàng
có cùng tính chất nhưng mục đích sử dụng khác nhau có thuế suất nhập khẩu
chênh lệch khá lớn như: Xe đua(thuế suất 5%), xe đạp thường (70%), ôtô 4 chỗ
(200%), xe cứu thương (0%)…Cho nên nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng điều
này để thực hiện hành vi gian lận thương mại, trốn thuế. Thủ thuật quan trọng
nhất để trốn thuế là hạ thấp giá trị hàng nhập khẩu để hạ thấp giá trị tính thuế
hay hạ quy cách kê khai để hưởng mức thuế suất thấp hơn đã trở nên phổ biến
với hàng hoá có đơn giá lớn và thuế suất cao như: xe hơi, rượu mạnh…Điển
hình là các doanh nghiệp nhập khẩu xe tải nhẹ nhưng nguỵ trang dưới hình thức
là nhập khẩu xe đông lạnh chuyên dụng để trốn thuế từ 60% xuống còn 10%
hay xe ôtô du lịch thì được lắp thêm đèn, còi thành xe cứu thương để được hoàn
thuế.


+ Thứ tư, khi gia nhập WTO thì việc duy trì hàng rào thuế xuất khẩu sẽ không
đưa lại nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, không khuyến khích hoạt động xuất
khẩu.Vì vậy, quy định thuế suất xuất khẩu ngoài mức 0% là cần xem xét sửa đổi
cho phù hợp với tình hình kinh tế thương mại quốc tế.
+ Thứ năm, quy định trong việc nộp thuế nhập khẩu nguyên liệu, phụ liệu để
sản xuất hàng xuất khẩu và hoàn trả thuế xuất khẩu cũng còn hạn chế, bất hợp
lý. Với biểu thuế từ 30%-40% cho những lô hàng nguyên liệu, phụ liệu để sản
xuất hàng xuất khẩu, trong thời gian nộp thuế 30 ngày thì cơ sở sản xuất sẽ
không đủ vốn để tạm ứng nộp thuế, vì khi nguyên liệu về, cơ sở phải lo triển
khai sản xuất trong thời gian vài tháng thậm chí có lô kéo dài tới nửa năm.
+ Thứ sáu, việc thực hiện thuế xuất nhập khẩu tiểu ngạch biên giới còn bất
hợp lý. Điều này được thể hiện ở chỗ: Thông thường thì các mặt hàng Việt Nam
xuất sang Trung Quốc là những mặt hàng khuyến khích xuất khẩu như than số
11, 12; chuối xanh, tiêu, điều, ớt, dừa…Với số lượng ít, kém chất lượng, những
mặt hàng khó xuất sang theo con đường chính ngạch. Nhưng xuất khẩu theo con
đường tiểu ngạch phải chịu mức thuế suất là 5%, cao hơn xuất khẩu chính
ngạch… Chính thuế nhập khẩu đánh vào hàng nguyên liệu đầu vào đã làm tăng
giá cả hàng sản xuất và xuất khẩu trong nước, làm giảm khả năng cạnh tranh
hàng hoá của ta trên trường quốc tế. Như vậy thuế xuất đó là một lực cản kìm
hãm xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước.
-Hệ thống chính sách thuế hiện này vẫn còn nhiều phức tạp thiếu tính ổn định, làm
cho chi phí quản lý thu thuế lớn, ảnh hưởng tới hiệu quả thu thuế, tạo điều kiện
cho việc trốn thuế, bóp méo hệ thống thuế. Đồng thời, nó làm mất định hướng
nhà đầu tư, bóp méo sự lựa chọn của người sản xuất và vi phạm một sô nguyên
tắc của thông lệ quốc tế.
-Còn thiếu sự kết hợp hài hòa giữa các sắc thể trong hệ thống chính sách thuế, giữa
mục tiêu số thu cho ngân sách và múc tiêu kích thích sản xuất phát triển và điều
tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua từng sắc thể.


-Sự

quá tải của hệ thống quản lý thuế hiện nay không chỉ cho thấy sự gia tăng về

quy mô và tính phức tạp của hệ thống thuế mà còn là sự lạc hậu của mô hình
quản lý thuế cũ không theo kịp với sự phát triên nhanh chóng của nền kinh tế.
2.2.2.2. Nguyên nhân
-Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Việt Nam mặc dù đã được sửa đổi nhiều
lần những vẫn chưa đồng bộ, nội dung chưa bao quat được hết các đối tượng và
nguồn thu. Thuế nhập khẩu ở nước ta vừa đánh theo tính chất hàng hóa, vừa
đánh theo mục đích sử dụng dễ tạo sơ hở, bất hợp lý để cho các đối tượng bất
chính triệt để lợi dụng. So với các nước khác, biểu thuế của Việt Nam vẫn còn
nhiều phức tạp.
-Vấn đề nợ thuế kéo dài, cơ chế quản lý hàng tạm nhập tái xuất, hoàn thuế VAT
cùng thủ tục thanh lập, giải thể công ty lỏng lẻo,… là những sơ hở để các đối
tượng xấu triệt để khai thác trốn thuế. Đặc biệt chính sách ân hạn thời gian nộp
thuế nhưng không có chế tài ràng buộc làm cho chây ỳ, chiến đoạt tiền thuế xuất
nhập khẩu.
-Trình độ nhận thức và thái độ chấp hành của người nộp thuế xuất nhập khẩu.
Người nộp thuế chính là đối tượng trực tiếp thực hiện chính sách, luật lệ về thuế
xuất nhập khẩu. Vì vậy trình độ nhận thức và hái độ chấp hành nghĩa vụ thuế
của họ dóng vai trò quyết định trong việc thu thuế và chống thất thu thuế.

Chương III: Định hướng và một số giải pháp nhằm tiếp tục
hoàn thiện việc áp dụng thuế quan trong chính sách ngoại thương
Việt Nam trong thời gian tới
3.1. Định hướng và mục tiêu đối với việc áp dụng thuế quan trong chính
sách ngoại thương Việt Nam trong thời gian tới


3.1.1. Chiến lược xuất nhập khẩu và chính sách ngoại thương trong giai
đoạn 2016 – 2020 và định hướng đến 2030 (Theo quyết định 2471-QD-TTg về
phê duyệt chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa)
3.1.1.1 Quan điểm chiến lược xuất nhập khẩu
Phát triển sản xuất để tăng nhanh xuất khẩu, đồng thời đáp ứng nhu cầu trong
nước; khai thác tốt lợi thế so sánh của nền kinh tế, nâng cao hiệu quả, năng lực
cạnh tranh xuất nhập khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, giải quyết việc làm và tiến tới cân bằng cán cân thương
mại.
Xây dựng, củng cố các đối tác hợp tác chiến lược để phát triển thị trường bền
vững; kết hợp hài hòa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của quốc gia, lợi ích
kinh tế và lợi ích chính trị - đối ngoại, chủ động và độc lập tự chủ trong hội nhập
kinh tế quốc tế.
Đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu. Tích cực và chủ động tham gia vào
mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; chú trọng xây dựng và phát triển
hàng hóa có giá trị gia tăng cao, có thương hiệu trên thị trường trong và ngoài
nước.
3.1.1.2 Mục tiêu phát triển
3.1.1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đến năm 2020 tăng gấp trên 3 lần năm
2010, bình quân đầu người đạt trên 2.000 USD, cán cân thương mại được cân
bằng.
3.1.1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Giai đoạn 2016 – 2020 tăng trưởng bình quân 11%/năm. Duy trì tốc độ tăng
trưởng khoảng 10% thời kỳ 2021 – 2030.
- Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu thấp hơn tăng trưởng xuất khẩu; tốc độ tăng
trưởng nhập khẩu hàng hóa bình quân 10 – 11%/năm trong thời kỳ 2011 – 2020.
- Giảm dần thâm hụt thương mại, duy trì thặng dư thương mại thời kỳ 2016 –
2030.
3.1.1.3 Định hướng xuất khẩu
3.1.1.3.1 Định hướng chung


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×